ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=== ===
LÊ THỊ HẢI NAM
LƯU TRỮ TÀI LIỆU KHOA HỌC
TẠI VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH LƯU TRỮ
HÀ NỘI 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=== ===
LÊ THỊ HẢI NAM
LƯU TRỮ TÀI LIỆU KHOA HỌC
TẠI VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : Lưu trữ
Mã số:
60 32 24
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH LƯU TRỮ
4
7.
Các nguồn tư liệu được sử dụng
6
8. Đóng góp của luận văn
7
9. Bố cục của luận văn
8
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 Khái quát về hoạt động nghiên cứu khoa học và tài liệu
khoa học của Viện Khoa học xã hội Việt Nam
10
Lịch sử hình thành, chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức
của Viện Khoa học xã hội Việt Nam
10
Sơ lược lịch sử hình thành
26
1.3 Tài liệu khoa học của Viện Khoa học xã hội Việt Nam
30
1.3.1 Nội dung, thành phần và đặc điểm của tài liệu khoa học
30
1.3.2 Giá trị của tài liệu khoa học
35
Tiểu kết chương 1
40
Chương 2 Thực trạng công tác lưu trữ tài liệu khoa học tại
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
42
2.1 Tổ chức quản lý công tác lưu trữ tài liệu khoa học
42
2.1.1 Tổ chức bộ máy, nhân sự làm công tác lưu trữ
2.2.2 Tổ chức khoa học tài liệu
63
2.2.3 Tổ chức bảo quản tài liệu
70
2.2.4 Tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu
72
2.2.5 Tổ chức giao nộp tài liệu vào lưu trữ lịch sử
78
2.3 Một số nhận xét đánh giá về công tác lưu trữ tài liệu khoa
học tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam
78
2.3.1 Ưu điểm
78
2.3.2 Tồn tại
79
2.3.3 Nguyên nhân tồn tại
3.2.1. Giải pháp đối với việc tổ chức quản lý công tác lưu trữ
86
3.2.1.1 Kiện toàn tổ chức và nhân sự làm công tác lưu trữ
86
3.2.1.2 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về công tác lưu trữ tài liệu
khoa học
87
3.2.1.3 Tăng cường phổ biến pháp luật về công tác lưu trữ
91
3.2.1.4 Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn
92
3.2.1.5 Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị cho công tác lưu trữ
95
3..2.1.6 Hoàn thiện công cụ thống kê
96
3.2.4.3 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa tổ chức và cá nhân liên
quan đến hoạt động lưu trữ tài liệu khoa học
113
3.3 Một số kiến nghị về công tác lưu trữ tài liệu khoa học đối
với các cơ quan có thẩm quyền
114
3.3.1 Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ và lưu trữ
114
3.3.2 Viện Khoa học xã hội Việt Nam
114
3.3.3 Các đơn vị trực thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam
115
Tiểu kết chương 3
116
PHẦN KẾT LUẬN
117
lưu trữ nhằm mục đích bảo quản an toàn, phát huy giá trị tài liệu hình thành
trong hoạt động quản lý và nghiên cứu khoa học của cơ quan, phục vụ cho
hoạt động quản lý, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử và các nhu cầu
chính đáng khác của xã hội.
Để bảo vệ và phát huy giá trị của khối tài liệu này, trong suốt quá trình
hình thành và phát triển, đặc biệt trong những năm gần đây Viện Khoa học xã
hội Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong công tác lưu trữ, từ việc thành lập tổ
chức làm công tác lưu trữ đến ban hành sửa đổi và bổ sung các văn bản quản
lý liên quan đến hoạt động lưu trữ tài liệu khoa học, tổ chức thực hiện các
hoạt động nghiệp vụ, tạo điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị cho hoạt
động lưu trữ. Vì vậy, công tác lưu trữ tài liệu khoa học đã có những chuyển
biến tích cực, hồ sơ, tài liệu phản ánh về hoạt động nghiên cứu khoa học đã
được chú trọng thu thập, bảo quản và tổ chức khai thác sử dụng có hiệu quả.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác lưu trữ tài liệu
2
khoa học tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam vẫn chưa đáp ứng hết các yêu
cầu, còn những tồn tại ảnh hưởng đến tính đầy đủ của thông tin trong từng hồ
sơ lưu trữ cũng như cả hệ thống khối hồ sơ tài liệu nghiên cứu khoa học trong
phông lưu trữ của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, ảnh hưởng đến quá trình
bảo quản, khai thác và cung cấp thông tin cho công tác quản lý và công tác
nghiên cứu tại đây.
Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi chọn vấn đề “Lưu trữ tài liệu khoa học
tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam : thực trạng và giải pháp” làm đề tài luận văn
thạc sĩ. Với mục đích tìm hiểu, đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân, đề xuất các giải
pháp khắc phục những tồn tại trong công tác lưu trữ tài liệu khoa học tại đây, góp
phần bảo vệ và phát huy giá trị khối tài liệu này, đồng thời góp phần nâng cao hiệu
quả công tác lưu trữ tài liệu khoa học của Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
pháp phân tích và mô tả, điều tra khảo sát để tổng hợp, xử lý các tư liệu đã thu
thập được, phương pháp tổng hợp và khái quát hoá.
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương
pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin về chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để làm rõ mối quan hệ giữa lý luận và thực
tiễn công tác lưu trữ ở Viện Khoa học Xã hội Việt Nam;
- Phương pháp luận của lưu trữ: Vận dụng nguyên tắc tính đảng, nguyên
tắc lịch sử, nguyên tắc toàn diện tổng hợp khi xem xét thành phần, nội dung tài
liệu; cơ sở lý luận của việc xác định giá trị tài liệu, thu thập, bổ sung, chỉnh lý tài
liệu, xây dựng công cụ tra cứu và đề xuất những giải pháp đối với công tác lưu trữ
;
- Phương pháp hệ thống: Phương pháp hệ thống đã được vận dụng vào
việc tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của Viện Khoa học xã hội Việt
Nam qua từng thời kỳ lịch sử. Các tài liệu được phân tích theo hệ thống mà chúng
đã xuất hiện và tồn tại. Chúng được sắp xếp theo hệ thống trên cơ sở trình tự thời
4
gian hình thành và phát triển của Viện từ năm 1967 đến nay. Phương pháp hệ
thống còn được sử dụng để nghiên cứu đánh giá hệ thống văn bản quản lý chung
của nhà nước về công tác lưu trữ và hệ thống văn bản quản lý về công tác lưu trữ
củaViện Khoa học xã hội Việt Nam;
- Phương pháp phân tích chức năng: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của
Viện Khoa học xã hội Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau, ứng với từng giai
đoạn có chức năng nhiệm vụ để tìm hiểu đánh giá việc quản lý tài liệu nghiên cứu
khoa học qua các giai đoạn;
- Phương pháp khảo sát : Luận văn đã sử dụng phương pháp khảo sát thực
tế công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ ở Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
việc thu nộp, quản lý và tổ chức khai thác sử dụng tài liệu khoa học công nghệ
trong đó có tài liệu nghiên cứu khoa học, công tác tổ chức lưu trữ kết quả nghiên
cứu khoa học tại Trung tâm Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia- một cơ
quan có chức năng đăng ký kết quả nghiên cứu khoa học thuộc Bộ Khoa học và
công nghệ, nhưng chưa có hẳn một công trình tổng kết đánh giá về hoạt động
quản lý và hoạt động nghiệp vụ lưu trữ tài liệu khoa học. Ngay cả các đơn vị lưu
trữ của các cơ quan khoa học cũng không có được đề tài chuyên biệt mà thường là
những bài viết về thực trạng giao nộp sản phẩm khoa học – một trong những
thành phần tài liệu thuộc tài liệu nghiên cứu khoa học.
Đối với Viện Khoa học xã hội Việt Nam, nơi sản sinh ra khối lượng lớn tài
liệu nghiên cứu khoa học và công việc lưu trữ tài liệu nghiên cứu khoa học đã
được tiến hành nhiều năm, đã có một số kết quả nhất định nhưng vấn đề lưu trữ tài
liệu khoa học cũng chưa được đầu tư nghiên cứu một cách thoả đáng, mà chỉ dừng
lại ở một số Nhiệm vụ cấp bộ như: “Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý, khai thác nguồn thông tin khoa học nội sinh tại Viện khoa học xã hội
Việt Nam”, Nhiệm vụ cấp bộ năm 2006 do Trần Mạnh Tuấn, Viện Thông tin
Khoa học xã hội Việt Nam làm chủ nhiệm. “Đánh giá thực trạng thu nộp hồ sơ
khoa học hệ đề tài cấp bộ và cấp viện tại viện Khoa học xã hội Việt Nam” Nhiệm
6
vụ cấp bộ năm 2007, do Lê Thị Hải Nam, Văn phòng Viện Khoa học xã hội Việt
Nam làm chủ nhiệm.
Những công trình trên cũng mới chỉ đề cập đến việc quản lý và thu nộp loại
hình tài liệu này dưới góc độ của những người làm công tác thông tin thư viện,
hoặc mới chỉ đề cập đến loại hình tài liệu hệ đề tài cấp bộ và cấp viện, mà chưa đề
cập hết các loại tài liệu khoa học tại cơ quan. Còn thiếu hẳn những công trình
được nghiên cứu một cách đầy đủ, nên chưa có được những đánh giá một cách
toàn diện về công tác này.
Đương (Tạp chí văn thư lưu trữ Việt Nam, số 1/2008); Kỷ yếu hội nghị chuyên đề
ngành thông tin khoa học và công nghệ “Đăng ký giao nộp và sử dụng kết quả
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trên tinh thần luật khoa học và công
nghệ” Hà Nội, 16/11/2001, Khoá luận tốt nghiệp ngành Lưu trữ học và Quản trị
văn phòng khoá 2001-2005 của Bùi Thị Mai: Tìm hiểu công tác lưu trữ các kết
quả nghiên cứu khoa học tại Trung tâm Thông tin Khoa học và công nghệ quốc
gia, Hà Nội, 2005.
Nhiệm vụ cấp bộ năm 2007: Điều tra khảo sát thực trạng thu nộp hồ sơ
khoa học hệ đề tài cấp bộ và cấp viện tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam .
Nhiệm vụ cấp bộ năm 2006: Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý, khai thác nguồn thông tin khoa học nội sinh tại Viện khoa học xã hội Việt
Nam.
8. Đóng góp của Luận văn
Luận văn góp phần mô tả thực trạng công tác lưu trữ, tài liệu nghiên cứu
khoa học và các nhóm, bộ tài liệu nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, về cách
thức tổ chức quản lý công tác lưu trữ và các hoạt động nghiệp vụ cụ thể về lưu trữ
tài liệu nghiên cứu khoa học tại một Viện nghiên cứu đầu ngành về khoa học xã
hội và nhân văn .
Từ nghiên cứu khảo sát thực trạng công tác lưu trữ tài liệu nghiên cứu khoa
học tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam, đánh giá những tồn tại đề ra những giải
8
pháp để củng cố công tác lưu trữ tài liệu nghiên cứu khoa học tại đây, qua đó góp
phần giúp cho các cơ quản quản lý về lưu trữ có thêm cơ sở để quản lý chỉ đạo,
hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể đối với công tác lưu trữ tài liệu nghiên cứu khoa học
nói chung và công tác lưu trữ tài liệu nghiên cứu khoa học tại Viện Khoa học xã
hội Việt Nam nói riêng.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc việc giảng dạy và
Viện.
Chúng tôi hoàn thành luận văn này, nhờ sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của
thầy giáo hướng dẫn- PGS.TS. Đào Xuân Chúc, của Lãnh đạo Viện và Văn phòng
Viện Khoa học xã hội Việt Nam, của các thầy cô giáo Khoa Lưu trữ học và Quản
trị Văn phòng, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn. Nhân đây tôi xin
được cảm ơn sự giúp đỡ của Thầy giáo hướng dẫn, cảm ơn các tổ chức và cá nhân
đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận
văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2008
Tác giả
Lê Thị Hải Nam
10
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC CỦA VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
1.1 Lịch sử hình thành, chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
1.1.1. Sơ lược lịch sử hình thành
Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 2 tháng 12 năm 1953, khi toàn
quân, toàn dân ra sức đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tiến
tới giành thắng lợi cuối cùng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động
Việt Nam quyết định thành lập Ban nghiên cứu Lịch sử - Địa lý - Văn học
trực thuộc Ban Bí Thư Trung ương, về sau đổi tên là Ban nghiên cứu Văn học
– Lịch sử - Địa lý. Đây là đơn vị tiền thân của Viện khoa học xã hội Việt Nam
– cơ quan đầu ngành về nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của nước
nhà.
Về chức năng, nhiệm vụ: khi được tách ra thành tổ chức độc lập, Nghị
định 117 ngày 31/7/1967 của Hội đồng chính phủ đã quy định: “Vận dụng
chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
nghiên cứu những vấn đề khoa học xã hội nhằm góp phần vào sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta. Uỷ ban Khoa học xã hội là trung tâm tập hợp cán bộ
nghiên cứu khoa học xã hội của cả nước, là chỗ dựa của Trung ương Đảng và
Chính phủ về mặt nghiên cứu lý luận, là chỗ dựa của các cơ quan giảng dạy
và truyền bá khoa học xã hội”. [13, tr.1]
Căn cứ vào nội dung của Nghị định, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam
có nhiệm vụ cụ thể và quyền hạn như sau: tiến hành nghiên cứu các vấn đề về
lý luận thuộc các lĩnh vực Triết học, chính trị, kinh tế, sử học, văn học, luật
học, ngôn ngữ học, dân tộc học, khảo cổ học…trên quan điểm của Đảng và
Nhà nước.
12
Phối hợp với các cơ quan giảng dạy và truyền bá khoa học xã hội để
đẩy mạnh công tác truyền bá những kiến thức khoa học xã hội, nhằm phục vụ
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhất là trong lĩnh vực cách mạng tư
tưởng văn hoá.
Phối hợp với Bộ Đại học và các cơ quan có liên quan để bồi dưỡng và đào
tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội(có trình độ cao hơn đại học).
Nghiên cứu và trình Chính phủ ban hành các chính sách và chế độ liên
quan đến công tác nghiên cứu và giảng dạy khoa học xã hội.
Mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, trước hết là các nước xã hội
chủ nghĩa anh em về khoa học xã hội; thi hành các hiệp định mà nước ta ký
kết với nước ngoài về hoạt động khoa học xã hội.
Quản lý các đơn vị trực thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam về
mọi mặt: tổ chức, cán bộ, biên chế, tài vụ, theo chế độ chung của nhà nước.
Khoa học xã hội Việt Nam (tên giao dịch tiếng Anh: Vietnamese Academy of
Social Sciences). Viện có chức năng cụ thể sau đây:
- Cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến
lược, quy hoạch và chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước;
- Tổ chức tư vấn và đào tạo sau đại học về khoa học xã hội; tham gia
phát triển tiềm lực khoa học xã hội của đất nước.
Để thực hiện chức năng trên, Viện Khoa học xã hội Việt Nam có
những nhiệm vụ :
- Trình Chính phủ và Thủ tướng chính phủ chiến lược, quy hoạch, các
chương trình, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm về vấn đề khoa học xã
hội, tổ chức thực hiện khi được phê duyệt.
-Tổ chức nghiên cứu những vấn đề khoa học xã hội của Việt Nam, khu
vực và thế giới, tổng kết thực tiễn, từng bước phát triển lý luận về chủ nghĩa
xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giải đáp những vấn
14
đề khoa học xã hội của cả nước và của từng khu vực địa lý cụ thể phục vụ cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng miền cũng như cho cả đất nước.
- Cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường đường lối,
chiến lược, quy hoạch và chính sách trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Tổ chức sưu tầm, nghiên cứu những di sản văn hoá của các
dân tộc Việt Nam, bảo tồn và phát huy những tinh hoa văn hoá của dân tộc.
Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội.
- Thực hiện đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ khoa học xã hội theo quy định của
pháp luật; tham gia phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của
cả nước, ngành, vùng, địa phương và doanh nghiệp;
- Thẩm định và tham gia thẩm định về mặt khoa học xã hội các chương
trình dự án phát triển kinh tế - xã hội theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng
+ Những khía cạnh khoa học xã hội của sự phát triển khoa học và công
nghệ và nền kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự tác động của
chúng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam;
+ Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
phát triển xã hội dân sự và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam;
+ Những vấn đề cơ bản và cấp bách về dân tộc, tôn giáo, lịch sử, văn hoá nhằm
phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
+ Những vấn đề cơ bản về phát triển toàn diện con người Việt Nam
mang đậm tính nhân văn và các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu
tinh hoa của văn hoá, văn minh nhân loại;
+ Những vấn đề về đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị; nâng cao
năng lực cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; hiệu lực, hiệu
quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; từng bước hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam;
+ Những vấn đề cơ bản, toàn diện, có hệ thống về lý thuyết phát triển
của Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế;
16
+ Nghiên cứu, điều tra cơ bản, liên ngành về khoa học xã hội, phân tích
và dự báo kinh tế - xã hội phục vụ nhu cầu phát triển đất nước, chú trọng
những lĩnh vực kinh tế - xã hội chủ yếu, những ngành, vùng kinh tế trọng
điểm của đất nước;
+ Nghiên cứu, tổ chức biên soạn những bộ sách lớn, tiêu biểu cho tinh
hoa của trí tuệ Việt Nam và thế giới phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy
và truyền bá tri thức về khoa học xã hội.
- Tổ chức sưu tầm, khai quật, nghiên cứu, bảo tồn và bảo tàng nhằm phát
huy những di sản văn hoá của các dân tộc Việt Nam.
- Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội; đào tạo
425 cán bộ nhân viên. Cơ cấu tổ chức của Viện gồm ban lãnh đạo và các tổ
chức cơ sở bao gồm các Viện, các tổ nghiên cứu và toà soạn các tạp chí .
Ngày 31/7/1967, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 117 CP,
quy định tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam gồm: Chủ
nhiệm, các phó chủ nhiệm, Viện Triết học, Viện Kinh tế học, Viện Sử học,
Viện Văn học, Viện Luật học, Thư viện Khoa học xã hội, Văn phòng, Vụ tổ
chức cán bộ và các đơn vị sự nghiệp do Uỷ ban quản lý. Cơ cấu này được vận
hành cho đến năm 1993, khi Chính phủ ban hành Nghị định 23/NĐ-CP ngày
22/5/1993 về việc thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc
gia, có những thay đổi như sau:
Chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm đã được đổi thành Giám đốc, các Phó
Giám đốc;
Các viện nghiên cứu khoa học đã được bổ sung thêm: Viện Triết học,
Viện xã hội học, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, viện Kinh tế học,
viện Kinh tế thế giới, viện Sử học, viện Khảo cổ học, Viện Dân tộc học, Viện
nghiên cứu Văn hoá dân gian, Viện Ngôn ngữ học, viện nghiên cứu Hán
Nôm, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Viện nghiên cứu Tôn giáo, Viện Tâm lý
học, Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh.
18
Các cơ quan phục vụ nghiên cứu khoa học bao gồm : Nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Tạp chí Việt Nam Khoa học xã hội.
Các cơ quan giúp việc Giám đốc Trung tâm có: Văn phòng, Ban Tổ chức
cán bộ và Đào tạo, Ban kế hoạch tài chính, Ban Hợp tác quốc tế, Thanh tra.
Các đơn vị nghiên cứu ngày càng tăng lên về số lượng: Ngày 13/9/1993,
Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định 466/TTG thành lập 05 Trung
tâm nghiên cứu khoa học chuyên ngành trực thuộc Trung tâm Khoa học Xã
hội và Nhân văn Quốc gia: Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Trung tâm
vùng Trung bộ & Tây nguyên, Viện nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền
vững Vùng Bắc Bộ, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Viện nghiên cứu
Trung Quốc, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện nghiên cứu Đông nam á,
Viện nghiên cứu Châu Âu, Viện nghiên cứu Châu Mỹ, Viện nghiên cứu Châu
phi &Trung đông, Viện Thông tin khoa học xã hội, Bảo tàng Dân tộc học.
Theo Nghị định số 53/2008/NĐ-CP ngày 22/4/2008 của Chính phủ về
việc thành lập Viện Khoa học xã hội Việt Nam thì cơ cấu tổ chức của Viện
Khoa học Xã hội Việt Nam đã lên tới 36 đơn vị:
1. Ban Tổ chức cán bộ.
2. Ban Kế hoạch - Tài chính.
3. Ban Quản lý khoa học.
4. Ban Hợp tác quốc tế.
5. Văn phòng.
6. Viện Triết học.
7. Viện Tâm lý học.
8. Viện Xã hội học.
9. Viện Sử học.
10. Viện Khảo cổ học.
11. Viện Dân tộc học.
20
12. Viện Văn học.
13. Viện Ngôn ngữ học.
14. Viện Nghiên cứu Hán - Nôm.
15. Viện Kinh tế Việt Nam.
16. Viện Nhà nước và Pháp luật.
17. Viện Nghiên cứu Văn hoá.
18. Viện Nghiên cứu Con người.