(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ở Việt Nam hiện nay - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VÕ NHƯ Ý

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VÕ NHƯ Ý

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. TĂNG VĂN NGHĨA

HÀ NỘI, năm 2019


cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.......................................................................... 57
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ở Việt Nam
hiện nay ........................................................................................................... 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASENAN

: Association of Southeast Asian Nations- Hiệp hội các Quốc gia
Đông Nam Á

FDI

: Foreign Direct Investment- Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP

: Gross Domestic Product- Tổng sản phẩm quốc nội

OECD

: Organization for Economic Cooperation and Development- Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

TNDN

: Thu nhập doanh nghiệp


thức thu hút đầu tư hiệu quả mà các quốc gia trên thế giới đều sử dụng một
cách khôn khéo nhằm làm tăng hơn nữa lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế.
Các quốc gia đều xây dựng hệ thống các quy định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phù
hợp với luật pháp quốc tế nhằm tạo dựng nên môi trường đầu tư có sức hấp
dẫn lớn nhằm cạnh tranh với các nền kinh tế khác. Đối với nhiều quốc gia,
1


pháp luật về đầu tư như bằng chứng rõ nét về sự cởi mở của nền kinh tế mà
các nhà đầu tư đều quan và nhà nước, với vai trò là người điều hành mọi mặt
của đời sống xã hội đã sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu nhất để
định hướng hoạt động đầu tư.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy việc thực hiện pháp luật về ưu đãi, hỗ
trợ đầu tư tại Việt Nam cho thấy đều đạt được những kết quả đáng khích. Các
chính sách ưu đãi về thuế theo ngành kinh tế đã phát huy được hiệu quả tích,
các chính sức ưu đãi liên quan đến xuất khẩu cũng đã có kết quả khả quan và
đã làm tăng được tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, so với
tiềm lực của Việt Nam thì những kết quả kinh tế đạt được có vẻ như còn chưa
tương xứng, đặc biệt là trong vấn đề thu hút đầu tư. Việt Nam là quốc gia
Đông Nam Á duy nhất tham gia vào Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ
xuyên Thái Bình (CPTPP), là quốc gia có vùng biển nằm trên tuyến giao
thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương- Ấn Độ Dương, Châu ÂuChâu Á, Trung Đông- Châu Á và rất nhiều các lợi thế cạnh tranh khác nhưng
khả năng thu hút đầu tư của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, một trong
những lý do đó cần phải đánh giá nghiêm túc lại pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ
đầu tư của Việt Nam.
Việc xây dựng một cơ chế pháp lý về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư sao cho
phù hợp, hữu hiệu là việc phức tạp, khó khăn, đòi hỏi chính phủ phải áp dụng
linh hoạt nhiều cơ chế gắn liền với thực tế đòi hỏi của định hướng phát triễn
kinh tế. Sau hơn 5 năm thực hiện Luật Đầu tư, đạo luật này đã tỏ ra rất hữu
hiệu khi tình hình đầu tư đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên cần nghiêm túc đánh

Bài báo “Pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nước ngoài của một số nước
ASEAN và gợi mở cho Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Hưng, Phạm
Thị Hiền, Nguyễn Thị Thuỳ Linh.
Các công trình nghiên cứu trên từ nhiều góc độ đã phân tích, đánh giá
3


pháp luật về đầu tư nói chung và pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nói riêng.
Các công trình trên đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng
pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư của Việt Nam theo Luật Đầu tư năm 2014.
Tuy nhiên mỗi công trình nghiên cứu có một cách nhìn nhận riêng, đa phần là
tập trung nghiên cứu về biện pháp ưu đãi đầu tư chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách tổng quát cả biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư như là hai
biện pháp tương quan hỗ trợ lẫn nhau, mặc khác các công trình này đa phần là
nghiên cứu trước khi luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực. Do đó việc lựa chọn
đề tài “Pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ở Việt Nam hiện nay” là việc
nghiên cứu có ý nghĩa lý luận quan trọng nhằm hệ thống hoá những quy định
pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng
pháp luật liên quan tại Việt Nam, từ đó đưa ra các phương hướng nhằm hoàn
thiện pháp luật trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là hệ thống hoá lại các quy định
pháp luật liên quan đến ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại Việt Nam, kết hợp với nghiên
cứu tình hình áp dụng pháp luật thực tiễn để đánh giá hiệu quả thu hút đầu tư,
từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan.
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu về mặt lý luận về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo luật đầu tư
hiện hành;

và duy vật lịch sử.
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khác như:
5


- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thông qua việc thu thập, hệ thống
các tài liệu liên quan đến ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, tác giả có cái nhìn tổng quan
về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, từ đó có cơ sở định hướng cho việc
nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ những thông tin, số liệu có được
qua nghiên cứu các tài liệu liên quan, tác giả tiến hành phân tích và tổng hợp
các thông tin để có những nhìn nhận, đánh giá pháp luật chính xác, toàn diện
hơn.
Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp
so để hoàn thiện việc thực hiện đề tài nghiên cứu này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Về mặt lý luận, luận văn này có những đóng góp tích cực cho quá trình
hội nhập quốc tế và cải cách kinh tế của đất nước, góp phần củng cố hành
lang pháp lý về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, từ đó nâng cao khả năng thu hút
nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, luận văn đánh giá một cách khách quan thực trạng hệ
thống pháp luật Việt Nam hiện nay về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trong mối tương
quan của với tình hình thực tiễn. Trên cơ sở đó đưa ra các định hướng và giải
pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư nói chung và pháp
luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn

mỗi lĩnh vực chuyên ngành, khái niệm này sẽ được tiếp cận cụ thể hơn. Các
nguồn lực được sử đụng dể đầu tư rất đa dạng, có thể là tiền, là tài nguyên
thiên nhiên, sức lao động, tài sản trí tuệ,…. Trong cơ chế thị trường, hoạt
động đầu tư có thể do nhiều chủ thể tiến hành như là các tổ chức hoặc cá nhân
với ngày càng đa dạng về tính chất. Hoạt động đầu tư suy cho cùng cũng
hướng đến một mục đích chung nhất là làm tăng thêm tài sản vật chất (tiền,
tài sản,…) hoặc để gia tăng nguồn nhân lực cho sự phát triển lâu dài. Kết quả
của hoạt động đầu tư không chỉ là mang lại lợi ích trực tiếp cho nhà đầu tư mà
còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và cho toàn xã hội.
Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là hoạt động được thực hiện bởi các nhà
đầu tư theo những hình thức luật định nhằm đạt được một mục tiêu nhất định.
8


Chính sự khác biệt về mục tiêu đạt được của hoạt động đầu tư đã phân chia
đầu tư thành hai nhóm là đầu tư có tính chất lợi nhuận và đầu tư phi lợi
nhuận. Tuy nhiên cần lưu ý là pháp luật đầu tư hiện hành chỉ điều chỉnh hoạt
động đầu tư có tính chất vì lợi nhuận (thương mại). Quan điểm lập pháp này
đã được thể hiện rõ từ Luật Đầu tư năm 2005 cho đến Luật Đầu tư năm 2014.
Tại Luật Đầu tư 2005, văn bản pháp luật đầu tiên đưa định nghĩa về hoạt động
đầu tư, theo đó thì “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản
hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư
theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Nhằm củng cố cho định nghĩa này, thì định nghĩa hoạt động thương mại tại
Luật Thương mại năm 2005 cũng đã nhận định hoạt động đầu tư là một bộ
phận của hoạt động thương mại: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc
tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Hoạt động
đầu tư có những đặc điểm của hoạt động thương mại nói chung [43, tr.32-45],
và có mối liên hệ mất thiết với các bộ phận khác của hoạt động thương mại.

vốn nhà nước và nguồn vốn tư nhân (ngoài nhà nước).
- Căn cứ vào mục đích của nhà đầu tư, đầu tư kinh doanh có thể chia
thành đầu tư kinh doanh (vì lợi nhuận) và đầu tư phi lợi nhuận.
- Căn cứ vào quan hệ quản lý của nhà đầu tư, có thể chia hoạt động đầu
tư kinh doanh thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Sự phân chia này
được luật hoá tại Đ21 và Đ26 Luật Đầu tư 2005, đặc biệt sự ghi nhận về hình
thức đầu tư gián tiếp tạo nền tảng pháp lý cho sự ra đời của Luật Chứng
khoán năm 2006. Tuy nhiên tại Luật Đầu tư 2014, sự phân loại này không còn
được sử dụng nữa mà sự phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp chỉ
còn tồn tại dưới dạng lý luận vì sự khác biệt giữa hai hình thức đầu tư này chỉ
mang tính chất tương đối.
10


- Căn cứ vào lĩnh vực đầu tư, đầu tư kinh doanh có thể phân thành đầu
tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư phát
triển sản xuất, đầu tư phát triển văn hoá giáo dục,… Nhìn chung các hoạt
động đầu tư này luôn có sự tương tác với nhau, kết quả của hoạt động này là
tiền đề để phát triển của hoạt động kia.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Pháp luật đầu tư Việt Nam không đưa ra một định nghĩa cụ thể về ưu
đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư (một số tài liệu gọi chung là biện pháp khuyến
khích đầu tư) nên khái niệm về thuật ngữ này chỉ được tiếp cận dưới góc độ
khoa học pháp lý. Dưới góc độ pháp lý, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là một trong
những công cụ giúp nền kinh tế của một quốc gia thu hút được nguồn vốn đầu
tư một cách tốt nhất. Đặc biệt là trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới hiện
nay đều đang có chung một vấn đề là tìm kiếm nguồn vốn đầu tư từ các thành
phần kinh tế như một yếu tốt thiết yếu giúp nền kinh tế có thể tồn tại và phát
triển mạnh mẽ hơn. Nhận thức được tầm quan trọng đó, các nền kinh tế đều
ban hành hàng loạt các chính sách, pháp luật nhằm điều chỉnh vấn đề ưu đãi,

hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài nữa. Tất cả mọi
hoạt động đầu tư đều phải chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư chung, và các
dự án đều được hưởng các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư như nhau nếu thoả
mãn các tiêu chí. Luật Đầu tư Việt Nam lấy tiêu chí địa bàn đầu tư và lĩnh vực
đầu tư là những tiêu chí cơ bản để áp dụng các biện pháp ưu đãi và hỗ trợ đầu
tư.
Có thể thấy các biện pháp ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư có các đặc
điểm cơ bản nhất là các biện pháp này không áp dụng cho nhà đầu tư trong
bất cứ hoàn cảnh nào mà chỉ áp dụng cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào một
địa bàn hoặc ngành nghề nhất định. Nhìn chung đặc điểm này xoay quanh
nguyên tắc “vốn chi phối”, theo đó hiểu là ngành nghề hoặc địa bàn nào mà
12


Nhà nước thấy cần vốn để phát triển thì sẽ ban hành ưu đãi, hỗ trợ trong lĩnh
vực hoặc địa bàn đó. Thông qua các biện pháp này, Nhà nước sẽ chủ động cơ
cấu lại nền kinh tế theo những kế hoạch đã đề ra.
1.2. Vai trò của ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư
1.2.1. Thu hút vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
Các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư để nhằm thu hút vốn đầu tư, đây là
mục đích cuối cùng của bất cứ chính phủ nào khi đặt ra những biện pháp này.
Đối với đầu tư tư trong nước, Nhà nước sẽ tạo điều kiện cho các nguồn vốn
của nhà đầu tư trong nước đổ vào nền kinh tế. Không chỉ dừng lại ở việc
khuyến khích đầu tư vào những ngành nghề trọng điểm, những địa bàn phát
triển kinh tế mạnh mà Nhà nước còn nhấn mạnh chủ trương khuyến khích các
nhà đầu tư đầu tư vốn vào những địa bàn, ngành nghề đang định hướng phát
triển trong tương lai và những địa phương đang cần vốn để phát triển cân đối
với kinh tế vùng. Theo đó, những nhà đầu tư thuộc đối tượng được hưởng ưu
đãi, hỗ trợ sẽ được hưởng những chính sách liên quan đến tài chính, cụ thể là
được hưởng mức thuế suất hấp dẫn, được hưởng những hỗ trợ liên quan đến

Lan cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% vốn của doanh nghiệp
trong ngành công nghiệp.
1.2.2. Thông qua biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, Nhà nước sẽ chủ
động cơ cấu lại nền kinh tế
Như đã đề cập ở phần đặc điểm của ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, theo đó Nhà
nước không phải là đưa ra những biện pháp đồng đều cho nhà đầu tư trong
mọi trường hợp mà sẽ có những mức độ khuyến khích khác nhau dựa trên tiêu
chí ngành nghề và địa bàn nơi dự án đầu tư vào. Vậy không phải nhà đầu tư
có quyền đầu tư vào bất cứ ngành nghề và lĩnh vực nào cũng đều được đòi hỏi
những ưu đãi, hỗ trợ cho dự án đầu tư mà tuỳ thuộc vào ngành nghề mà khi
đầu tư vào thì nhà đầu tư có thể được hưởng ưu đãi hoặc có thể phải chịu
14


những ràng buộc nhất định. Đa phần các quốc gia đều quy định có 4 lĩnh vực
(bao gồm ngành nghề hoặc địa bàn) đầu tư mà mỗi lĩnh vực như vậy thể hiện
thái độ của nước tiếp nhận đầu tư có muốn kêu gọi nhà đầu tư đầu tư vào đó
hay không, đó là: Lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, lĩnh vực khuyến
khích đầu tư, lĩnh vực đầu tư có điều kiện và lĩnh vực cấm đầu tư. Nguyên tắc
để phân chia mức độ khuyến khích đầu tư ở các lĩnh vực là “nguyên tắc vốn
chi phối” ngành nào, địa bàn nào càng cần nhiều vốn để phát triễn thì sẽ càng
có nhiều ưu đãi, hỗ trợ cho nhà đầu tư.
Hiện nay, theo Luật Đầu tư hiện hành, các ngành nghề được khuyến
khích đầu tư chủ yếu tập trung vào phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, lĩnh vực
công nghệ cao, giáo dục, y tế,… Các địa bàn khuyến khích đầu tư là những
địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, các khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Đây chính là những ngành
nghề, địa bàn mà Nhà nước ta đang cần nguồn vốn để phát triển trong thời
gian tới, vì thế mà khi nhà đầu tư có dự án đầu tư vào những ngành nghề, địa
bàn này thì sẽ được hưởng ưu đãi và hỗ trợ đầu tư từ Nhà nước.

thuận. Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư giúp nền kinh tế tạo ra sực cạnh tranh trong
vấn đề thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tu nước ngoài và cũng tạo tiền đề để
quốc gia đó tham gia vào nhiều thoả thuận thương mại mang tính chất khu
vực và toàn cầu hơn, hội nhập sâu rộng với kinh tế quốc tế hơn. Như vậy
những quy định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ngày càng hoàn thiện góp phần làm
hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam ổn định hơn, mặt khác, các biện
pháp này quay lại hỗ trợ cho Việt Nam trong vấn đề kêu gọi vốn đầu tư, đặc
biệt là vốn đầu tư nước ngoài.
1.3. Pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư của một số quốc gia trên thế
giới
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên hầu
16


hết các lĩnh vực, đặc biệt là về phát triển kinh tế thì việc nghiên cứu pháp luật
của các quốc gia khác là vô cùng cần thiết. Trong nội dung luận văn này này,
tác giả đề cập tới pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của một số quốc gia trên
thế giới, qua đó rút kinh nghiệm để hoàn thiện hệ thống pháp luật về ưu đãi,
hỗ trợ đầu tư của Việt Nam hiện nay.
1.3.1. Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của một số quốc gia thuộc
khối ASEAN
Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư tại Thái Lan. Thái Lan có một cơ quan chuyên
phụ trách về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, các dự án đầu tư muốn được hưởng các
chính sách ưu đãi, hỗ trợ thì đều phải thông qua cơ quan này, đó là Ủy ban
Đầu tư Thái Lan. Sau khi nghiên cứu pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư của
Thái Lan đối với nhà đầu tư, có thể thấy các hình thức ưu đãi đầu tư của Thái
Lan có một số nét tương đồng với Việt nam ưu đãi về thuế. Thái Lan thực
hiện miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị; giảm thuế nhập
khẩu nguyên liệu; miễn, giảm thuế TNDN (ví dụ giảm 50% thuế TNDN, khấu
trừ hai lần chi phí vận chuyển, điện và nước, miễn thuế nhập khẩu đối với

đầu tư của Philippines sẽ được thực hiện bởi 2 phương thức chính đó là:
- Ưu đãi thông qua chính sách thuế, theo đó Philippines đánh thuế lợi
tức 35%, các doanh nghiệp đầu tư vào nghành mũi nhọn được miễn thuế 4
năm. Ngoài ra, cũng giống chính sách thu hút đầu tư các quốc gia khác,
Philippines miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, phụ tùng thiết bị, đặc biệt
là miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị đưa vào các khu chế xuất và
cảng tự do.
- Ưu đãi, thu hút đầu tư không bằng thuế. Điểm nổi bật trong chính
sách thu hút đầu tư nước ngoài của Philippines ngoài ưu đãi thuế là việc đơn
giản hóa các thủ tục hành chính. Việc giảm bớt các thủ tục hành chính đảm
bảo cấp giấy phép đầu tư nhanh gọn, không gây phiền hà cho các nhà đầu tư
18


và họ cũng thực hiện rất nghiêm chỉnh các qui chế về hành chính. Chính
quyền Philippines cũng đưa ra các biện pháp nhằm giảm sự phiền hà của các
thủ tục hành chính như giới hạn chữ ký trong hồ sơ hành chính. Hiện nay,
việc cải cách hành chính ở Philippines nói chung và trong lĩnh vực đầu tư nói
riêng đã đạt được nhiều kết quả rất đáng học hỏi.
Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư tại Malaysia. Tương tự như các quốc gia khác,
Malaysia cũng có những hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư thông qua hai công cụ
chính là thuế và các biện pháp phi thuế.
Các ưu đãi cụ thể như giảm 10% thuế giá trị gia tăng cho sản phẩm
xuất khẩu, giảm 5% giá nguyên liệu đầu vào nội địa để sản xuất hàng xuất
khẩu, cũng như chi phí quảng cáo, nghiên cứu thị trường. Với mục tiêu là tạo
việc làm và khuyến khích đầu tư mở rộng của các doanh nghiệp, Malaysia đã
đưa ra điều kiện để được hưởng ưu đãi đầu tư là lao động thường xuyên từ
500 người trở lên hoặc vốn giải ngân đạt từ 25 triệu Ringit trở lên. Bên cạnh
đó, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào phát triển nguồn nhân
lực, Malaysia đã cấp ưu đãi đặc biệt cho phép các doanh nghiệp hoạt động

khác nhau như Singapore, Nhật Bản, Luxembourg, Mỹ…. Sở dĩ nước này có
được những thành công trong thu hút và phát triển đầu tư cũng là nhờ có
những chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư hiệu quả của họ.
Chính quyền Indonesia dành ưu đãi về thuế cho các dự án đầu tư lần
đầu trong ngành công nghiệp như kim loại cơ bản, thiết bị viễn thông, lọc dầu
công nghiệp máy móc; ngành công nghiệp tài nguyên tái tạo;… Ngoài ra,
Indonesia còn tiến hành dỡ bỏ các hạn chế về thuế đối với việc sử dụng người
lao động nước ngoài.
Bên cạnh đó, Indonesia có một số chính sách hỗ trợ đầu tư khác như về
lãi suất tín dụng, chính sách xuất khẩu hàng hóa khá thông thoáng. Ví dụ, lãi
suất tín dụng phục vụ xuất khẩu là 9%/năm, trong khi lãi xuất thông thường là
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status