Quản trị huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Hà Nam - Pdf 60

1
1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

NGUYỄN ANH QUÝ

QUẢN TRỊ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ
NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


2
2

Hà Nội, Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

NGUYỄN ANH QUÝ

QUẢN TRỊ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NAM
Chuyên ngành

5

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thương mại,Các Thầy Cô giáo,
khoa Sau đại học và các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, Bạn bè và đồng nghiệp
đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứuvà thực
hiện luận văn của mình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Trần Hùng, giáo viên hướng
dẫn đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày … tháng 08 năm 2018
Tác giả luận văn


6

MỤC LỤC


7

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
TT

1
2
3
4
5
6
7

BIDV
CIF
CTCP
DNVVV
GDP
HĐDV
HĐV
HNX
HOSE
KDNT
KH
L/C
LNST
LNTT
NHNN
NHTM
PGD
ROA
ROE
SXKD
TCTD
TCTD
TMCP
TNHH
TSC
TTCSKH
USD

Từ viết tắt
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu



8

32
33
34
35
36

Vietinbank

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

VIP
VND
VTG
WTO

Khách hàng quan trọng (Very Important Person)
Việt nam đồng
Vốn tiền gửi
Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)


9

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Danh mục các bảng
sơ đồ

Các NHTM phải đối mặt với một hệ lụy là chi phí vốn cao, quy mô không ổn
định, làm cho việc tài trợ cho các danh mục tài sản không còn phù hợp với quy mô
và kết cấu, từ đó làm hạn chế khả năng sinh lời, và kết quả là các NHTM phải đối


11

mặt với những rủi ro. Do đó, việc các NHTM tăng cường huy động tiền gửi và quản
trị vốn huy động tiền gửi với chi phí hợp lý và sự ổn định cao là một yêu cầu cấp

thiết và vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Quản trị vốn huy động
luôn luôn là vấn đề quan trọng đối với các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt là
quản trị vốn huy động tiền gửi trong thời điểm hết sức khó khăn này vì đây là
hoạt động nền tảng cho sự phát triển và là vấn đề sống còn của ngân hàng. Xuất
phát từ vai trò quan trọng của vốn huy động tiền gửi đối với sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt
Nam – Chi nhánh Hà Nam nói riêng, tác giả chọn đề tài “Quản trị huy động vốn
tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
nhánh Hà Nam” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề quản trị hoạt động huy động vốn tiền gửi là vấn đề thiết thực, mang ý
nghĩa sống còn đối với các ngân hàng thương mại, thu hút được nhiều sự quan tâm
nghiên cứu của các chuyên gia. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về
hoạt động huy động vốn và quản lý hoạt động huy động vốn trong ngân hàng.
Phạm Thị Tuyết Mai (2011), “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và sử
dụng vốn ngoại tệ ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam”. Luận án tiến sỹ tài chính
ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân. Luận án chỉ ra được những thành
v

công và hạn chế trong công tác huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ tại các

hoạt động ngân hàng thương mại; làm rõ vai trò và sự cần thiết của nó trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng thương mại; định hướng cho các ngân hàng thương mại
trong quá trình tổ chức huy động vốn. Một số giải pháp đã và đang được triển khai
trong thực tiễn hoạt động tại một số ngân hàng thương mại, thể hiện trong việc thay
đổi mô hình tổ chức phục vụ công tác huy động vốn ở các ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên đều thực hiện trong thời gian trước
đây, với môi trường hoạt động kinh doanh khác nhau, chính sách pháp luật, trình độ
quản lý của chủ thể tham gia, có sự khác biệt lớn so với giai đoạn hiện nay, khi các
ngân hàng thương mại Việt Nam phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
diễn ra ngày càng sâu rộng và có nhiều sự thay đổi. Những công trình này chủ yếu
nghiên cứu về huy động vốn ở những ngân hàng thương mại nhất định, mà chưa có
công trình nào nghiên cứu tại BIDV Hà Nam, một ngân hàng thương mại có những


13

đặc điểm riêng biệt của nó. Đó là khoảng trống trong khoa học của công trình
nghiên cứu trước đó là tác giả thực hiện đề tài này nhằm bổ sung, thực hiện lấp
khoảng trống này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu:
- Luận văn hướng đến mục tiêu đưa ra các giải pháp nhằm góp phần tăng
cường công tác quản trị huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại cổ phần
Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam.
* Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về huy động vốn tiền gửi và quản trị huy động
vốn tiền gửi tại các Ngân hàng Thương mại.
- Phân tích thực trạng quản trị huy động“vốn tiền gửi tại Ngân hàng”Thương
mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam.
- Đề xuất một số giải pháp dựa trên sơ sở lý luận và thực tiễn nhằm tăng

Phương pháp so sánh: Thông qua các số liệu sơ cấp đã thu thập, tìm ra được
các quy luật, bản chất của hiện tượng. Từ đó so sánh huy động vốn của Ngân hàng
thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam– Chi nhánh Hà Nam với các Tổ
chức tín dụng khác về các kỳ hạn, đối tượng khách hàng, chính sách lãi suất huy
động vốn để thấy được những ưu điểm cũng như những tồn tại của ngân hàng đang
nghiên cứu.Qua đó, đề ra các giải pháp thực tế và hướng đi phù hợp cho quá trình
huy động vốn.Dùng bảng biểu và đồ thị đánh giá tình hình tăng giảm các chỉ tiêu
huy động tiền gửi giai đoạn 2014-2017 dựa trên các thông tin được cung cấp từ các
phòng nghiệp vụ liên quan, thông tin từ báo cáo thường niên của các NHTM để so
sánh từ đó thấy được những ưu nhược điểm của đơn vị mình.
6. Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
Việc nghiên cứu quản lý hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam có ý nghĩa rất lớn
về cả lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận: Đề tài hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về công tác quản
lý hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển
Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam, từ đó nhận diện được các vấn đề cụ thể như: các
khái niệm về ngân hàng thương mại, quản trị và nội dung quản trị hoạt động huy


15

động vốn, các kênh huy động vốn cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý
hoạt động huy động vốn.
Về thực tiễn: Việc nghiên cứu đề tài giúp tác giả nâng cao được kiến thức về
huy động vốn và quản trị huy động vốn nói chung đồng thời đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện công tác quản trị huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn được

hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục
tiêu lợi nhuận.
Trên phương diện dịch vụ cung cấp: “Ngân hàng thương mại là các tổ chức
tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so
với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế .
Các ngân hàng thương mại có thể phân loại theo các tiêu chí như sau: (1)
Theo hình thức sở hữu: Ngân hàng nhà nước, ngân hàng tư nhân, ngân hàng cổ
phần, ngân hàng liên doanh. (2) Theo tính chất hoạt động bao gồm: Chuyên doanh
và đa năng, bán buôn và bán lẻ.


17

Theo khoản 3 điều 4 của Luật Các Tổ chức Tín dụng số 47/2010/QH12:
“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số
các nghiệp vụ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua
tài khoản.
Cấp tín dụng là việc thoa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: Ngân hàng thương mại là tổ chức tín
dụng có mục tiêu hoạt động vì lợi nhuận, tuy nhiên khác với các loại hình doanh
nghiệp, tổ chức kinh doanh khác (cũng có mục tiêu hoạt động vì lợi nhuận) ở chỗ
đối tượng kinh doanh là tiền tệ, trong đó hoạt động chính của ngân hàng là huy
động tiền gửi từ cá nhân và các tổ chức để cho vay nhằm kiếm lợi từ chênh lệch.
1.1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại
Cùng với sự phát triển đa dạng các nghiệp vụ kinh doanh, ngân hàng ngày
càng thực hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng

phải tìm biện pháp tăng cường huy động để phụ vụ hoạt động kinh doanh. Do đó,
huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập nguồn
vốn thường xuyên để NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh. Huy động vốn
của NHTM là quá trình ngân hàng sử dụng các công cụ, phương thức và biện pháp
thích hợp để thu hút các nguồn tài chính trong xã hội.
Như vậy, huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ nền kinh
tế (các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế) thông qua các hình thức huy động
phát hành giấy tờ có giá, huy động tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, đi vay...
để tạo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Việc huy động vốn của ngân hàng nhằm mục tiêu thu hút được một lượng
tiền đủ để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng cho các hoạt động kinh doanh với quy mô
vốn và cơ cấu vốn huy động hợp lý, phù hợp với nhu cầu sử dụng để đảm bảo kiểm
soát được các rủi ro,giảm chi phí hoạt động, và đảm bảo chất lượng dịch vụ phù hợp
với chiến lược kinh doanh và mục tiêu hoạt động trong từng thời kỳ của ngân hàng.
Do đó, huy động vốn của phải đạt các mục tiêu sau:


19

Thứ nhất, xây dựng và duy trì được sự ổn định của nguồn vốn huy động để
đáp ứng đảm bảo đủ nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh của ngân hàng. Đối với
hoạt động huy động vốn, đây chính là mục tiêu then chốt nhất của mỗi ngân hàng.
Thứ hai, đảm bảo quy mô nguồn vốn phải đi kèm với cơ cấu nguồn vốn hợp
lý, đáp ứng được nhu cầu thanh khoản của ngân hàng, phù hợp với nhu cầu sử dụng
và bối cảnh thị trường, góp phần tăng cường năng lực nội tại của ngân hàng.
Thứ ba, việc huy động vốn phải đa dạng được các nguồn huy động, qua đó
tăng cường các nguồn vốn có tính ổn định để đáp ứng nhu cầu cho các hoạt động
kinh doanh ngân hàng.
Thứ tư, chi phí huy động vốn phải được kiểm soát, tối thiểu hoá, phù hợp với
bối cảnh thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.

nguồn vốn thông qua các nguồn vốn ủy thác, vốn thanh toán và các nguồn vốn khác.
Vốn ủy thác là nguồn vốn mà ngân hàng có được nhờ thực hiện tốt các dịch
vụ của khách hàng đặc biệt là dịch vụ cho vay và dịch vụ thanh toán. Điểm lợi của
nguồn vốn này là chi phí rất thấp, tuy nhiên tỷ trọng cao hay thấp phụ thuộc vào
chất lượng dịch vụ và uy tín của khách hàng.
Vốn trong thanh toán: là nguồn vốn ngân hàng huy động được thông qua các
hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt như:thẻ tín dụng, séc, tiền ký quỹ mở
L/C cho hoạt động tài trợ thương mại.
Thông qua việc làm trung gian thanh toán cho khách hàng, ngân hàng tạo
được một khoản vốn gọi là vốn trong thanh toán, gồm: vốn trên tài khoản tiền gửi
séc bảo chi, vốn trên tài khoản mở thư tín dụng … Các khoản tiền mặt tạm thời
được trích khoi tài khoản này để nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng, nên được
gọi là tiền nhàn rỗi.
Thông qua việc làm đại lý cho khách hàng, các ngân hàng thu hút được một
lượng vốn khi thực hiện thu – chi hộ,nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay một
dự án đầu tư, làm đại lý cho tổ chức tín dụng, …
1.2. Huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại
1.2.1. Vốn tiền gửi và đặc điểm vốn tiền gửi
1.2.1.1. Khái niệm tiền gửi
“Vốn tiền gửi là toàn bộ giá trị tiền tệ của các tổ chức và cá nhân mà ngân
hàng đang tạm thời quản lý sử dụng với trách nhiệm hoàn trả.”


21

Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
của ngân hàng do đây là nguồn huy động chủ yếu, chiếm phần lớn tỷ trọng vốn huy
động của ngân hàng, có tính chất ổn định cao và chi phí huy động vốn thấp.
Người gửi tiền tùy mục đích của mình để lựa chọn các loại hình tiền gửi với
mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng hoặc được hưởng lãi suất. Đồng thời có

dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Vì vậy để quản lý và sử dụng có
hiệu quả nguồn tiền gửi huy động được, NHTM đã phân chia thành các hình thức
tiền gửi khác nhau theo các tiêu thức và mục đích cụ thể như sau:
1.2.2.1. Theo kỳ hạn huy động
- Huy động tiền gửi không kỳ hạn
Là loại tiền gửi mà người gửi được sử dụng một cách chủ động và linh hoạt
không bị ràng buộc về mặt thời gian.
Thông qua việc mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh
toán ngân hàng sẽ huy động được một lượng vốn nhất định từ khách hàng mở tài
khoản thanh toán. Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng, cá nhân hoặc tổ
chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng để thực hiện các khoản chi trả
về mua bán hàng hoá, dịch vụ, nhu cầu nhận chuyển tiền vào tài khoản, như nhận
tiền lương, thu nhập hàng tháng, nhận chuyển tiền từ nước ngoài hoặc từ cá nhân
khác trong nước.Loại tiền gửi này thường không được trả lãi hoặc có lãi suất rất
thấp so với các loại hình tiền gửi khác.
- Huy động tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ có thể rút ra khi đáo hạn. Tuy nhiên,
các ngân hàng vẫn sẽ cho khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện chỉ được
hưởng lãi không kỳ hạn, hoặc hưởng lãi có kỳ hạn tương ứng với thời hạn gửi thực
tế. Mục đích của người gửi tiền là an toàn, hưởng lãi và một số mục đích khác như
sử dụng hợp đồng tiền gửi để cầm cố vay vốn, bảo lãnh, … Thông thường, thời hạn
gửi tiền sẽ tỷ lệ thuận với lãi suất. Đây là loại hình tiền gửi có tính ổn định cao, vì
vậy các Ngân hàng thường sử dụng cho các mục đích cho vay trung dài hạn. Để
tăng cường thu hút loại tiền gửi này, ngân hàng thường xây dựng nhiều khung kỳ
hạn và lãi suất khác nhau để phù hợp với nhu cầu của khách hàng.


23

1.2.2.2. Theo mục đích tiền gửi


Nói chung, tiền gửi không kỳ hạn và tiết kiệm không kỳ hạn có chi phí sử
dụng vốn (chi phí trả lãi) thấp nên các ngân hàng thương mại thường tập trung huy
động nguồn vốn này và hơn nữa, do tính chất linh hoạt của nó nên tiền gửi này
thường được sử dụng để cho vay ngắn hạn. Đối với loại tiền gửi có kỳ hạn và tiết
kiệm có kỳ hạn mặc dù chi phí huy động cao nhưng đổi lại sự ổn định tương đối
cao, do đó các ngân hàng thường sử dụng để cho vay trung, dài hạn với mức lãi suất
cho vay cao hơn so với cho vay ngắn hạn. Đối với loại hình tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn, người gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi, do đó lãi suất hấp dẫn, lãi suất cao là
đòn bẩy, là công cụ để thu hút nguồn vốn này.
1.2.2.3. Theo đối tượng huy động
- Huy động tiền gửi từ khách hàng dân cư
Tiền gửi dân cư bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm mà các cá
nhân gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, hưởng lãi ngân hàng hoặc sử
dụng cho các mục đích thanh toán.
- Huy động tiền gửi từ khách hàng là tổ chức
+ Các doanh nghiệp, tổ chức thường sử dụng có nhu cầu duy trì một lượng
tiền gửi tại ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp, vì vậy
ngân hàng có thể sử dụng một phần số tiền gửi của doanh nghiệp như nguồn vốn
huy động ngắn hạn. Bên cạnh đó một số doanh nghiệp có nguồn thu lớn trong khi
nhu cầu gửi tiền có kỳ hạn để được hưởng mức lãi suất cao hơn.
+ Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: các ngân hàng, định chế tài chính
có thể gửi tiền tại các ngân hàng khác để đảm bảo nhu cầu thanh toán, thanh toán hộ
của tổ chức tài chính đó tại ngân hàng.
1.2.2.4. Theo loại tiền huy động
- Huy động tiền gửi nội tệ: Là nguồn huy động tiền gửi cơ bản của các Ngân
hàng, thường chiếm tỷ trọng rất cao trong cơ cấu tiền gửi của các ngân hàng. Chính
sách lãi suất, tỷ giá, lạm phát, mức thu nhập là những yếu tố chính ảnh hưởng đến
huy động tiền gửi nội tệ của ngân hàng.



vốn tiền gửi là quá trình hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và kiểm soát



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status