VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THƠ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ, TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THƠ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ, TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Hiến pháp và hành chính
Mã số: 8.38.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Công Giao
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH, KHAI TỬ
Ở CẤP XÃ ........................................................................................................ 7
1.1. Khái niệm khai sinh, khai tử và quản lý nhà nước về hoạt động
khai sinh, khai tử ......................................................................................... 7
1.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động khai sinh, khai tử...... 18
1.3. Các yếu tố bảo đảm quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh khai
tử ở cấp xã ................................................................................................. 20
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT
ĐỘNG KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................................. 27
2.1. Những đặc điểm của quận Hà Đông thành phố Hà Nội liên quan
đến quản lý nhà nước về khai sinh, khai tử ở cấp xã ................................ 27
2.2. Thực tiễn thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về hoạt động khai
sinh, khai tử ở cấp xã trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội ............ 29
2.3. Đánh giá việc thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh,
khai tử ở cấp xã trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội ............... 36
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH KHAI TỬ Ở CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................. 45
3.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh,
khai tử ở cấp xã trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội .............. 45
3.2. Tăng cường bảo đảm quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh,
khai tử ở cấp xã ......................................................................................... 48
KẾT LUẬN .................................................................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 68
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
trong hoạt động quản lý dân cư. Đây là hoạt động được thực hiện để xác định
tình trạng nhân thân của một cá nhân, là cơ sở để xác định mối quan hệ giữa
Nhà nước và công dân, dựa vào đó, Nhà nước có thể bảo hộ quyền, lợi ích
hợp pháp của cá nhân và có biện pháp quản lý dân cư thống nhất, khoa học
để phục vụ cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển KTXH, giữ
gìn trật tự xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Các vấn đề pháp lý về
quản lý khai sinh, khai tử có tầm quan trọng tương tự như các vấn đề pháp lý
về quốc tịch và các quyền con người, quyền công dân khác. Hiện nay, QLNN
về hoạt động khai sinh, khai tử ở nước ta được thực hiện theo Luật Hộ tịch
năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Luật Hộ tịch năm 2016 được ban
hành nhằm kế thừa và phát triển các quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch
trong các Nghị định của Chính phủ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời
cụ thể hóa thẩm quyền và quy trình thực hiện công tác hộ tịch. Trên cơ sở quy
định của Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày
15/11/2015 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư
số 15/2015/TTBTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày
15/11/2015 của Chính phủ quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ
tịch để bảo đảm các nội dung của Luật được triển khai thực hiện có hiệu quả.
Trong thời gian qua các cấp chính quyền địa phương đã có nhiều biện
pháp thực hiện tốt hoạt động quản lý hộ tịch nói chung và quản lý hoạt động
khai sinh, khai tử nói riêng. Do đó, QLNN về hoạt động khai sinh, khai tử dần
đi vào nề nếp và đạt được nhiều kết quả nhất định.
Là một quận của thành phố Hà Nội, trong những năm qua, các phường
1
trên địa bàn quận Hà Đông đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong QLNN về lĩnh
vực khai sinh, khai tử trên địa bàn quận.Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp
quả công tác đăng ký và quản lý hộ tịch.
- TS. Đinh Trung Tụng, Quan điểm chỉ đạo, định hướng xây dựng dự án
Luật Hộ tịch, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (số chuyên đề pháp luật về hộ tịch
năm 2013), tác giả đã phân tích thực trạng công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở
nước ta, từ đó đưa ra các quan điểm về phương hướng xây dựng Luật Hộ tịch.
- Phạm Trọng Cường, Quản lý nhà nước về hộ tịch -Lý luận, thực trạng
và phương hướng đổi mới, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003;
tác giả tiến hành khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn quản lý hộ tịch ở
Việt Nam.
Ngoài ra, còn nhiều các công trình nghiên cứu khác có liên quan
đếnQLNN về hoạt động khai sinh, khai tử như:
- Hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch, biên soạn: Nguyễn Quốc
Cường, Lương Thị Lanh, Trần Thị Thu Hằng, Nxb. Tư pháp, 2006;
-Trần Văn Quảng, Nâng cao năng lực đội ngũ công chức tư pháp – hộ
tịch trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9 năm
2006;
- Nguyễn Thị Thu Trang, Quyền khai sinh, khai tử theo quy định của
pháp luật dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng quyền khai sinh khai tử trên
địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà
Nội, năm 2013,...
Các công trình khoa học kể trên đã nghiên cứu khá toàn diện những vấn
đề về quản lý khai sinh, khai tử cấp xã như khái niệm, lịch sử quản lý, các sự
kiện, phương thức quản lý và đăng ký khai sinh, khai tử, thực trạng và giải
pháp QLNNvề hoạt động khai sinh, khai tử. Đó là những tài liệu tham khảo
hữu ích cho các học viên thực hiện đề tài này. Tuy nhiên, hiện vẫn còn có
nhiều vấn đề chưa được làm rõ hoặc chưa đầy đủ, đặc biệt là chưa có công
3
- Về mặt thời gian được giới hạn từ năm 2014 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu được thực hiện dựa trên những luận điểm trong học
thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý hành chính nhà
nước; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý hộ tịch.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn gồm: phương
pháptổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phân tích, so sánh, phương pháp lịch sử,
phương pháp hệ thống...
Trong Chương 1, để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến
QLNN về hoạt động khai sinh, khai tử, luận văn sử dụng phương pháp hệ
thống, so sánh,phân tích nhằm làm rõ thêm quan niệm, nội dung QLNN về
hoạt động khai sinh, khai tử.
Chương 2, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích để đánh
giá những ưu điểm, hạn chế của thực trạng QLNN về hoạt động khai sinh,
khai tử ở cấp xã trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội trong những
năm qua.
Chương 3, phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để đưa ra quan
điểm, giải pháp tăng cường quản lý hành chính nhà nước về hoạt động khai
sinh, khai tử ở cấp xã trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về khai
sinh, khai tử và QLNN về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã, đánh giá
những vấn đề lý luận đó trong thực tiễn và củng cố những vấn đề lý luận đó
thông qua những quan điểm, giải pháp tăng cường QLNN về hoạt động khai
5
Trong Tiếng Việt, từ “Khai” mang rất nhiều ý nghĩa. “Khai” trong
“Khai sinh” và “Khai tử” được lấy từ “Khai” trong “Khai báo” mang ý
nghĩa là hoạt động nói hay viết cho một cơ quan, tổ chức nào đó hoặc theo
yêu cầu của một cơ quan, tổ chức nào đó để cho biết rõ điều cần biết về mình
hoặc những điều mình biết [70].
Từ đây có thể hiểu:
Khai sinh là hoạt động khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
việc một đứa trẻ vừa được sinh ra do cha mẹ hoặc người giám hộ của đứa trẻ
thực hiện và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.
Khai tử là việc thân nhân của người vừa mất khai báo với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền những thông tin cần thiết về mặt thủ tục hành chính liên
quan đến người vừa mất.
Khai sinh là sự kiện hộ tịch để xác định một đứa trẻ là thực thể của tự
nhiên, của xã hội, đăng ký khai sinh là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xác nhận và ghi vào sổ đăng ký khai sinh sự kiện được sinh ra của một cá
nhân. Đây là sự kiện đăng ký đầu tiên có liên quan đến nhân thân của một
người từ khi mới sinh ra. Nội dung đăng ký khai sinh là việc xác định những
thông tin về bản thân người được đăng ký khai sinh (Họ, chữ đệm và tên; giới
tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch) và thông
tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh(Họ, chữ đệm và tên; năm sinh;
dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú) [39]. Sau khi được đăng ký khai sinh, cơ quan
7
đăng ký sẽ cấp giấy khai sinh có ghi nhận đầy đủ những thông tin liên quan
đến nhân thân của cá nhân vào sổ đăng kí khai sinh, cập nhật vào cơ sở dữ
liệu hộ tịch điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy số định danh cá
nhân. Đăng ký khai sinh là biện pháp mà nhà nước thực hiện việc theo dõi
được sự biến động tự nhiên về lĩnh vực dân số, trên cơ sở đó đề ra các chính
Xem xét QLNN theo nghĩa rộng, thì đó là hoạt động của cơ quan nhà
nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện các chức
năng của nhà nước là đối nội, đối ngoại. Xem xét QLNN theo nghĩa hẹp, thì
đây là hoạt động mang tính chấp hành và điều hành, được cấu thành bởi các
yếu tố có tính tổ chức, thực hiện thi hành Hiến pháp, pháp luật được đảm bảo
thực hiện bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước [27]. Theo cách hiểu
này, chủ thể quản lý hành chính là các cơ quan hành chính nhà nước, thực
hiện chức năng chủ yếu là chấp hành, điều hành, nhằm tổ chức thực hiện trực
tiếp và thường xuyên các hoạt động trong xây dựng phát triển kinh tế, văn
hoá, xã hội, đảm bảo an ninh chính trị quốc gia. Trong khoa học quản lý,
QLNN thường được hiểu theo nghĩa hẹp.
Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử tập trung chủ yếu vào
các hoạt động: Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật về hộ tịch; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế
hoạch, định hướng về hoạt động khai sinh, khai tử; phổ biến, giáo dục pháp
luật về khai sinh, khai tử; tổ chức bộ máy quản lý hoạt động đăng ký khai
sinh, khai tử; thanh tra, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử; tổng kết,
báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử.
Như vậy, QLNN về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã là hoạt động
của các cơ quan hành chính cấp xã mà trực tiếp thực hiện là công chức tư
pháp – hộ tịch phụ trách lĩnh vực khai sinh, khai tử trên cơ sở những quy định
của pháp luật về hộ tịch và các quy định khác của pháp luật có liên quan về hộ
9
tịch, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục
vụ cho công cuộc phát triển KTXH [39].
1.1.3 Vai trò quản lý nhà nước về hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử
thụ các quyền nhân thân,là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của cá
nhân với tư cách là một công dân. Đối với nhà nước thì đây chính là sự thể
hiện quản lý thống nhất, tập trung về khai sinh, khai tử và thực hiện các quyền
nhân thân của cá nhân khi được cá nhân yêu cầu.
Các dữ liệu về căn cước của mỗi cá nhân thể hiện trên chứng thư hộ tịch
(giấy khai sinh, trích lục khai tử bản chính…)thể hiện giá trị pháp lý về đặc
điểm nhân thân của mỗi cá nhân, dựa vào đó mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác có thể đánh giá cá nhân đó có đủđiều kiện tham gia vàocác quan hệ pháp
luật nhất định hay không.
Thứ ba, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử góp phần quan trọng việc
bảo đảm trật tự xã hội.
Khi cần đánh giá năng lực chủ thể của một cá nhân, các cơ quan tiến
hành tố tụng luôn cần đến các giấy tờ của cá nhân, trong đó giấy khai sinh là
một chứng thư cần thiết, bởi giấy khai sinh chứa đựng các dữ liệu gốc về nhân
thân của cá nhân như ngày tháng năm sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc tịch, họ tên
cha mẹ...
Khi cần truy nguyên nguồn gốc của một cá nhân, hệ thống sổ đăng kí
khai sinh, khai tử và cơ sở dữ liệu hộ tịch về khai sinh, khai tử là công cụ
quan trọng để thực hiện công việc trên một cách dễ dàng.
Khi các chứng thư hộ tịch về khai sinh, khai tử được sử dụng với tư cách
là căn cứ, điều đó có thể giúp cho cơ quan pháp luật tống đạt các vụ án hình
sự, dân sự, hành chính, lao động, ... góp phần đảm bảo sự ổn định và trật tự an
toàn xã hội.
11
1.1.4 Các đặc điểm của quản lý nhà nước về khai sinh, khai tử ở cấp xã
1.1.4.1 Quản lý khai sinh, khai tử phải đảm bảo các nguyên tắc pháp lý
Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử là một hoạt động quản
Thứ hai, mỗi sự kiện sinh, sự kiện tử chỉ được đăng ký tại một nơi theo
đúngthẩm quyền quy định.
Pháp luật về hộ tịch quy định một sự kiện sinh, tử chỉ được đăng ký ở
một nơi. Nếu được đăng ký ở nhiều nơi khác nhau sẽ dẫn đến tình trạng
chồng chéo, sai lệch thông tin, ảnh hưởng đến việc quản lý dân cư. Vì vậy,
QLNN về hoạt động khai sinh, khai tử phải được thực hiện một cách thống
nhất và khoa học.
Thứ ba, các quy định về đăng ký khai sinh, khai tử phải được thực hiện
công khai, minh bạch.
Nhà nước quản lý hoạt động khai sinh, khai tử thông qua công cụ là văn
bản quản lý và các quy định về trình tự, thủ tục hành chính để các cơ quan
quản lý và người dân thực hiện một cách dễ dàng. Các văn bản quản lý và các
quy định về mặt thủ tục, giấy tờ phải được công khai để các cơ quan quản lý
và người dân có thể nắm bắt được.
Thứ tư, cơ quan QLNN cấp trên về khai sinh, khai tử phải thường xuyên
kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan QLNN cấp dưới về khai
sinh, khai tử; trường hợp phát hiện thấy sai phạm phải chấn chỉnh, xử lý kịp thời.
Điều này là bởi nếu không kiểm tra chặt chẽ, cơ quan cấp dưới có thể quản lý
lỏng lẻo, tuỳ tiện dẫn đến sai sót, không thống nhất, bên cạnh đó có thể còn gây
ra những hậu quả cho bản thân công dân và QLNN, quản lý xã hội.
Tất cả những nguyên tắc trên bảo đảm cho QLNN về hoạt động khai
sinh, khai tử chính xác, kịp thời, đầy đủ, góp phần bảo vệ quyền con người,
quyền công dân. Thực tiễn cho thấy, các giấy tờ về khai sinh, khai tử nếu
trong quá trình thực hiện có sai sót mà không được phát hiện kịp thời sẽ gây
khó khăn cho công tác quản lý cũng như giải quyết hậu quả sau đó. Vì vậy,
13
các cơ quan QLNN về hoạt động khai sinh, khai tử phải lấy các nguyên tắc đó
bảo đảm nguồn nhân lực và cơ sở vật chất để phục vụ hoạt động quản lý khai
sinh, khai tử; quản lý, cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo
quy định; chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi
phạm pháp luật về lĩnh vực khai sinh, khai tử theo thẩm quyền; tổ chức, đào
tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức tư pháp - hộ tịch, công chức đảm
nhiệm công tác hộ tịch của phòng Tư pháp; tổng hợp tình hình và thống kê số
liệu khai sinh, khai tử báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định. Sở Tư pháp là cơ
quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh
tỉnh tổ chức thực hiện các nhiệm vụ này.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện và Phòng Tư pháp: UBND cấp huyện thực
hiện các nhiệm vụ về quản lý khai sinh, khai tử có yếu tố nước ngoài trong địa
phương của mình. Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn của UBND cấp
huyện có trách nhiệm giúp UBND cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền
hạn trên.
- Ủy ban nhân dân cấp xã và công chức tư pháp - hộ tịch: UBND cấp xã
thực hiện các nhiệm vụ về quản lý khai sinh, khai tử cho công dân Việt Nam cư
trú ở trong nước ở địa phương của mình. Công chức tư pháp - hộ tịch có nhiệm
vụ giúp UBND cấp xã thực hiện hoạt động QLNN về khai sinh, khai tử.
Tuy hệ thống tổ chức có vẻ khá cồng kềnh như vậy, nhưng từ Nghị định
83/1998/NĐ-CP, Nghị định 158/2005/NĐ-CP trước đây đến Luật Hộ tịch
năm 2014 đồng thời đã quy định sự phân cấp khá hợp lý, bảo đảm cho các
quan hệ phối hợp ngang cấp và quan hệ chỉ đạo, chấp hành được nhịp nhàng,
thông suốt (xem sơ đồ dưới đây).
15
CHÍNH PHỦ
UBND TỈNH
Luật Hộ tịch năm 2014 phân định rõ thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho
UBND cấp xã nhằm xây dựng hệ thống đăng ký hộ tịch một cấp, đồng thời
phân cấp hợp lý việc QLNN về hộ tịch, xây dựng đội ngũ hộ tịch viên chuyên
nghiệp, ổn định, có trình độ chuyên môn cao. Việc phân cấp thẩm quyền quản
lý và đăng ký hộ tịch đã vận dụng tư duy mới về cải cách hành chính,tạo ra
những thay đổi sâu sắc, phù hợp với quan điểm xây dựng hệ thống các cơ
quan hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu quả, tăng
tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ
và của các cơ quan hành chính nhà nước. Thực hiện quan điểm đẩy mạnh
16
phân cấp cho chính quyền cấp xã, luật quy định UBND cấp xã có thẩm quyền
giải quyết đăng kí khai sinh, khai tử cho công dân đang tạm trú hoặc thường
trú tại địa phương mình không phải phụ thuộc vào nơi cư trú trước đây. Ngoài
ra tại Nghị định 123/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật hộ tịch thì UBND cấp xã còn được đăng ký khai sinh trong một số
trường hợp đặc biệt như đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi; đăng ký khai sinh
cho trẻ chưa xác định được cha mẹ; đăng ký khai sinh, khai tử tại khu vực
biên giới. Quy định này đảm bảo phát huy tối đa trách nhiệm và năng lực của
chính quyền cấp xã là cấp quản lý gần dân nhất, góp phần tăng cường vai trò
QLNN của UBND cấp xã nhằm đạt được mục tiêu lâu dài là phân cấp triệt để
thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho chính quyền cơ sở. Cụ thể:
Ở cấp xã, chủ thể có thẩm quyền thực hiện hoạt động đăng ký khai sinh,
khai tử ở UBND dân cấp xã là Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND xã được giao
phụ trách công tác hộ tịch. Trong cơ cấu tổ chức chính quyền cấp xã hiện nay,
các hoạt động liên quan đến quản lý hộ tịch nói chung và quản lý khai sinh, khai
tử nói riêng được thực hiện chủ yếu bởi công chức tư pháp - hộ tịch.
+ Thẩm quyền đăng ký khai sinh:
- Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Thay đổi quốc tịch; xác định
cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con
nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công
nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất
hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn;
giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ
tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài.
- Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định
18