Thực Hiện Pháp Luật Về Quốc Phòng Của Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã Từ Thực Tiễn Thành Phố Đà Nẵng - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THÀNH LONG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THÀNH LONG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban
nhân dân cấp xã ở thành phố Đà Nẵng ........................................................... 36
2.4. Đánh giá về thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quốc phòng của
Uỷ ban nhân dân cấp xã ở thành phố Đà Nẵng ............................................... 43
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP
XÃ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ....................................... 49
3.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban
nhân dân cấp xã từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng ........................................... 49


3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban
nhân dân cấp xã từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng ........................................... 52
KẾT LUẬN .................................................................................................... 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quốc phòng là vấn đề hệ trọng đối với mọi quốc gia độc lập có chủ
quyền. Trong quá trình hình thành và phát triển của nhân loại, giai cấp giữ địa
vị thống trị xã hội nào cũng đều coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang, xây
dựng nền quốc phòng, chăm lo phòng thủ quốc gia và giữ vững độc lập chủ
quyền của đất nước. Qúa trình xây dựng và phát triển đất nước của dân tộc ta
khẳng định: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước”. Ngày nay, quan niệm đó
được thể hiện ở sự kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
(XHCN). Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò
lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt đối với quân đội, đây là nguyên tắc cốt lõi, Nhà
nước điều hành và quản lý đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn

quốc gia trong mọi tình huống…”, “Phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự
lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống
nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc”.
Chương IV Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã
đề ra các nguyên tắc cơ bản làm cơ sở pháp lý cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN. Trong đó, “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là
sự nghiệp của toàn dân. Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng
toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân;
phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp
phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Cơ quan, tổ chức, công dân
phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh” (Điều 64).
“Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách
mạng của Nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng
2


công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang
nhân dân, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an
ninh; thực hiện chính sách hậu phương quân đội; bảo đảm đời sống vật chất,
tinh thần của cán bộ, chiến sỹ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất
hoạt động của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; xây dựng lực lượng vũ
trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ
quốc” (Điều 68).
Để tăng cường thực hiện của Ủy ban nhân dân (UBND) xã trong việc
triển khai và thực hiện pháp luật về quốc phòng trong giai đoạn phát triển
hiện nay, nhằm đạt được các mục tiêu và theo các quy định của Hiến pháp,
cần có sự thống nhất về các vấn đề chung như: khái niệm, đặc điểm, nội dung,
hình thức, phương pháp, nguyên tắc quản lý đối với quốc phòng, thực trạng
quản lý nhà nước về quốc phòng hiện nay.

Khuê.
- Một số chuyên đề của Học viện Quốc phòng.
Tuy vậy, trong những công trình nghiên cứu đó, vấn đề quốc phòng chủ
yếu được xem xét từ góc độ chính trị xã hội, cũng chưa có tác phẩm riêng biệt
nghiên cứu xem xét một cách toàn diện vấn đề quản lý nhà nước nói chung,
về thực hiện pháp luật của UBND cấp xã nói riêng đối với quốc phòng, đặc
biệt từ góc độ Luật Hiến pháp và Luật hành chính. Trong quá trình hoạt động
thực tiễn lý luận và thực tiễn, nội dung, chủ thể hình thức, phương pháp, khái
niệm, vấn đề quản lý bằng pháp luật đối với quốc phòng…vẫn còn những vấn
đề được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp khác nhau và là vấn đề chưa thống
nhất, cần được nghiên cứu xem xét.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực trạng thực hiện
4


pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã và việc quản lý nhà nước đối với
quốc phòng ở cấp xã, trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm, giải pháp thực
hiện có hiệu quả trong thực hiện pháp luật về quốc phòng đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ mới của nước ta nói chung của thành phố Đà Nẵng nói riêng
trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm thực hiện được mục đích nói trên, nội dung của luận văn cần giải
quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về quốc
phòng của UBND cấp xã;
- Phân tích, đánh giá thực trạng của UBND cấp xãtrong việc thực hiện
pháp luật về quốc phòng và việc quản lý nhà nước đối với quốc phòng ở
thành phố Đà Nẵng hiện nay;

6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm sáng tỏ một cách có hệ thống, khoa học về thực hiện
pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã. Từ thực tiễn ở Đà Nẵng, đề xuất
một số giải pháp nâng cao thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp
xã trong giai đoạn hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu và giảng dạy tại các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức…
Những kết luận và giải pháp rút ra từ luận văn có thể được làm tài liệu
tham khảo cho quá trình thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã
ở thành phố Đà Nẵng hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
6


tham khảo thì gồm có 3 chương
Chương 1. Những vấn đề lý luận về việc thực hiện pháp luật về quốc
phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Chương 2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban
nhân dân cấp xã ở thành phố Đà Nẵng
Chương 3. Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về
quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

7


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ

cơ sở và tổ chức quốc phòng của liên Bang Nga, các quyền và trách nhiệm
của các cơ quan quản lý và quyền Nhà nước, các cơ quan quản lý địa phương,
các tổ chức, các quan chức và công dân trong lĩnh vực phòng thủ; cấu trúc và
tổ chức của các lực lượng vũ trang liên Bang Nga, trách nhiệm đối với những
vi phạm pháp luật của liên Bang Nga về vấn đề quốc phòng [21].
Đối với Nhà nước Trung Hoa, Luật Quốc phòng năm 1997 xác định
“Quốc phòng là bảo đảm an ninh cho việc sinh tồn và phát triển quốc gia”
(Điều 3). Trong luật Quốc phòng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngoài
chương nguyên tắc chung và chương nguyên tác phụ, có 10 chương đề cập
đến những vấn đề hết sức cơ bản như: Chức trách và quyền hạn quốc phòng
trong cơ cấu Nhà nước; lực lượng vũ trang; Phòng vệ biên giới, phòng thủ
biển và phòng không; Nghiên cứu sản xuất quốc phòng và đặt hàng quân sự;
Kinh phí quốc phòng và tài sản quốc phòng; Giáo dục quốc phòng; Động viên
Quốc phòng và trạng thái chiến tranh; Nghĩa vụ và quyền lợi của quân nhân;
Quan hệ đối ngoại quân sự. Có tài liệu của Trung Quốc chỉ ra khái niệm
“Quốc phòng là sự đảm bảo quan trọng cho an toàn sinh tồn và an toàn phát
triển của quốc gia”. Do đó, Luật quốc phòng có phạm vi điều chỉnh rất rộng,
nó đề cập tới các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, khoa học kỹ
thuật, văn hóa, giáo dục của quốc gia. Theo quy định của luật này, Nhà nước
phải sử dụng thích đáng Luật Quốc phòng để tiến hành các hoạt động quân
sự, các mặt hoạt động có liên quan đến quân sự như chính trị, kinh tế, ngoại
giao, khoa học kỹ thuật, giáo dục… để phòng thủ và chống xâm lược, ngăn
chặn lật đổ vũ trang, bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an
ninh quốc gia [28, tr.12].
9


Như vậy khái niệm “quốc phòng” và “an ninh” được hiểu như thế nào?
An ninh quốc gia được hiểu theo nghĩa rộng đó chính là sự ổn định, phát triển
bền vững của một chế độ và nhà nước đó, sự bất khả xâm phạm độc lập chủ

Quốc phòng và quân sự không đồng nghĩa nhau nhưng có mối liên
quan đến khái niệm quân sự. Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam định
nghĩa “Quân sự” hiểu theo 2 nghĩa: 1) “Quân sự” là lĩnh vực hoạt động đặc
biệt của xã hội liên quan đến đấu tranh vũ trang, chiến tranh và quân đội; 2)
“Quân sự” là một trong những mặt hoạt động cơ bản của quân đội, cùng các
mặt khác (chính trị, hậu cần, kỹ thuật…) tạo nên sức mạnh chiến đấu của
quân đội [22]. Theo cách định nghĩa trên, ta thấy khái niệm “quân sự” hiểu
theo nghĩa rộng đó là những mặt hoạt động của xã hội có liên quan đến đấu
tranh vũ trang và quân đội, bảo đảm cho đấu tranh vũ trang giành thắng lợi.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm quân sự là một trong những mặt hoạt động của
quân đội như tác chiến, huấn luyện quân sự… Hoạt động quân sự là hoạt
động mang tính chính trị rõ rệt và cũng chính là hoạt động bảo vệ Tổ quốc.
Đây là nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của quân đội ta.
Theo C.Mác và Ăng Ghen khẳng định, chiến tranh là một hiện tượng
chính trị, xã hội mang tính lịch sử. Chiến tranh là sự thử thách đối với các lực
lượng vũ trang và thử thách nghiêm khắc đối với một chế độ xã hội. Khi kẻ
thù xâm lược đất nước, muốn giành thắng lợi chúng ta phải huy động sức
mạnh toàn dân tộc, trong đó quân đội là lực lượng chính phát huy sức mạnh
tổng lực trong đó việc dùng vũ lực là thủ đoạn chính trị sau cùng.
Trong lời nói đầu của Hiến pháp 1946 khẳng định “nhiệm vụ của dân
tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ”, giành độc lập hoàn toàn và
kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ. Hiến pháp 1959, khi đề cập đến
nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Chính phủ, đã quy định Chính phủ lãnh
đạo việc xây dựng lực lượng vũ trang của Nhà nước (Điều 74).
11


Về nội hàm của khái niệm “quốc phòng”, đã có sự kế thừa và phát triển
mới. Hiến pháp 1992 xác định “Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc
phòng toàn dân, nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân, phát huy sức

tâm chăm lo xây dựng nền quốc vững mạnh, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam nên “quốc phòng” được hiểu là tổng hòa các hoạt động của
quốc gia, lực lượng vũ trang làm nòng cốt để bảo đất nước đây là yêu cầu cấp
bách, nhằm duy trì cục diện ổn định, hòa bình, là điều kiện tiên quyết để xây
dựng đất nước, phát triển kinh tế - xã hội. Đây là “thượng sách” bảo vệ chế độ
và bảo vệ Tổ quốc – bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà
không phải tiến hành chiến tranh. Đẩy lùi nguy cơ xung đột vũ trang, nguy cơ
chiến tranh xâm lược, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống.
Xây dựng nền quốc phòng phải vững mạnh toàn diện, nhưng có lộ trình
như quan điểm của Đảng, Nhà nước ta đã triển khai thực hiện đó là: Xây dựng
quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và tiến đến hiện đại một số
quân, binh chủng phục vụ cho phòng thủ đất nước. Củng cố quốc phòng theo
quan điểm sức mạnh tổng hợp, mạnh về “quốc lực” chứ không chỉ “quân
lực”. Sức mạnh quốc phòng được nhìn nhận thông qua tiềm lực quốc phòng,
thực lực quốc phòng, thế trận quốc phòng và hoạt động quốc phòng. Trong
đó:
Hoạt động quốc phòng bao gồm xây dựng tiềm lực thực lực, thế trận
quốc phòng và tổ chức đấu tranh chống lại các hoạt động của địch [3].
Tiềm lực thực lực quốc là lực lượng vật chất và tinh thần của quốc gia
(quân đội thường trực, dân quân tự vệ, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự…)
đang được sử dụng trực tiếp phục vụ các yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng.
Thế trận quốc phòng là tiềm lực, thực lực quốc phòng được tổ chức bố
trí căn cứ vào ý đồ chiến lược trong phòng thủ quốc gia và đặc điểm địa hình
địa thế của đất nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm ngăn chặn mọi âm
13


mưu, ý đồ và đánh bại hành động của các thế lực thù địch.
Tổ chức đấu tranh chống lại các hoạt động của địch: Xây dựng quân
đội vững mạnh toàn diện, xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc, xây

nước vững mạnh về quốc phòng phải có định hướng tầm chiến lược và đề
xuất những nội dung, giải pháp phù hợp với đặc điểm tình hình đất nước, trên
cơ sở đó lựa chọn nội dung và giải pháp phù hợp. Mặt khác, để đất nước ổn
định tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế bền vững thì nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc phải đặt lên hàng đầu cho công cuộc xây dựng đất nước, mục tiêu
quan trọng vẫn là bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống nhằm tạo điều kiện
cho đất nước đề ra những chiến lược phù hợp với tình hình đất nước trong
từng giai đoạn lịch sử.
Ba là, quốc phòng được xây dựng toàn diện và từng bước hiện đại
Trong quá trình xây dựng nền quốc phòng, Đảng Nhà nước ta đã khẳng
định xây dựng quân đội ta vững mạnh toàn diện, từng bước hiện đại, một số
quân, binh, chủng tiến lên thẳng hiện đại. Nhiệm vụ phòng thủ quốc gia
không chỉ phòng thủ về mặt quân sự mà phải “phòng thủ” cả về chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao... Việc tạo ra sức mạnh quốc phòng không
chỉ ở sức mạnh quân sự mà còn phải huy động được sức mạnh của về mọi mặt
như: kinh tế, văn hóa, khoa học, chính trị, quân sự …; phải kết hợp chặt chẽ
giữa quốc phòng với ngoại giao và các mặt hoạt động xây dựng đất nước.
Việc xây dựng quốc phòng toàn diện và mang tính hiện đại phải luôn đi
đôi với nhau. Đó cũng là một tất yếu khách quan. Như chúng ta đã biết các
thế lực thù địch đã sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao, tính chính xác cao,
các phương tiện vũ khí, khí tài đều rất hiện đại mà thực tiễn đã chứng minh
trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của quân và dân Việt
Nam anh hùng. Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa
học 4.0,. Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ và các thế lực thù địch đã tận
15


dụng triệt để và phát huy tối đa vũ khí công nghệ cao trong các cuộc chiến
tranh xâm lược IRAQ, AFGHANISTAN... Việc hiện đại hóa đất nước là một
tất yếu, nhưng không phải bằng mọi giá để phát triển khoa học theo hướng

Triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước đi vào cuộc sống của nhân dân ở xã, phải được thực hiện ở cấp xã thành
phong trào hành động của nhân dân, thông qua những sáng kiến và nổ lực của
nhân dân.
Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức quản lý điều hành các công
việc hành chính ở xã và trực tiếp thi hành pháp luật, Đây cũng là hệ thống
chính trị giải quyết trực tiếp các ý kiến với nhân dân, là cấp sát dân, gần gủi
nhân dân. Đây cũng là cấp chính quyền có khả năng phát hiện và ngăn chặn
sớm nhất các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh trật tự, trật tự an
toàn xã hội, vệ sinh môi trường.
Chính quyền xã có vai trò quyết định trong việc bảo đảm thực hiện việc
phát huy dân chủ. Để đảm bảo nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì
dân, thì chính quyền xã liên hệ trực tiếp với dân, lắng nghe ý kiến, nguyện
vọng của nhân dân, tiếp thu giải quyết đúng luật, có tình, có lý đáp ứng đúng
nguyện vọng của nhân dân. Đồng thời, nhân dân thực hiện quyền tham gia
vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội và giám sát hoạt động của các cơ quan
nhà nước.
UBND cấp xã do HĐND cấp xã bầu gồm có Chủ tịch UBND, các Phó
Chủ tịch UBND và các Ủy viên ủy ban nhân dân và phải được Chủ tịch
UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn. UBND làm việc theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách và chịu trách nhiệm. Trong
quá trình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước ở cấp xã UBND có bộ phận
chuyên môn tham mưu, giúp và chịu sự chỉ đạo của cơ quan chuyên môn cấp
trên. Từ những nội dung trên khẳng định nguyên tắc kết hợp giữa quản lý theo
17


ngành và theo lãnh thổ trong quản lý nhà nước là phù hợp với luật tổ chức
chính quyền của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Theo Luật dân quân tự vệ có hiệu lực ngày 01/7/2009. Quy định rõ

- Ban chỉ huy quân sự xã là cơ quan Tham mưu giúp cho Đảng ủy,
UBND cấp xã lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện toàn diện nhiệm vụ quân
sự, quốc phòng địa phương trên các lĩnh vực công tác như: Huấn luyện, sẵn
sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng lực lượng Dân quân, Lực lượng dự bị
động viên, tuyển chọn công dân nhập ngũ theo đúng Pháp luật của nhà nước.
Công tác Đảng công tác chính trị, Hậu cần, kỹ thuật và các nhiệm vụ khác.
- Trên cơ sở Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên, Ban chỉ huy quân sự
phường tham mưu cho UBND xây dựng hệ thống kế hoạch như: kế hoạch
công tác quân sự, quốc phòng địa phương; kế hoạch chiến đấu phòng thủ xã,
kế hoạch phòng thủ dân sự... Trên cơ sở đó Ban chỉ huy quân sự tiến hành xây
dựng kế hoạch xây dựng lực lượng, huấn luyện và hoạt động của dân quân; và
các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ khác.
- Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương thì
Ban chỉ huy quân sự xã làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền
địa phương đồng thời phối hợp với ban, ngành, đoàn thể tổ chức thực hiện
nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh, kế hoạch, hướng dẫn của Đảng ủy, UBND cùng
cấp và những nội dung chuyên môn do Ban chỉ huy quân sự huyện ban hành.
- Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho lực
lượng vũ trang và nhân dân; tổ chức xây dựng lực lượng dân quân, dự bị động
viên tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện chính sách hậu
phương quân đội; công tác tuyển quân...
- Xây dựng kế hoạch trình Ban chỉ huy quân sự cấp trên phê duyệt, tiến
hành tổ chức huấn luyện theo đúng tiến trình biểu đã được phê duyệt, giáo
dục chính trị, pháp luật cho dân quân; chỉ huy dân quân thực hiện nhiệm vụ
19


quy định tại Điều 8 của Luật này;
- Tiến hành tổ chức đăng ký, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí,
trang bị của các đơn vị dân quân thuộc quyền theo quy định của pháp luật;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status