Vận dụng giá trị hợp lý để hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính cho công ty chứng khoán niêm yết - Pdf 61

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH


NGUYỄN THỊ VÂN

VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ ĐỂ HOÀN THIỆN
VIỆC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CHO CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2020


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH


NGUYỄN THỊ VÂN



Nguyễn Thị Vân


4

LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành là kết quả của những nỗ lực nghiên cứu bền bỉ,
nghiêm túc của tác giả sau ba năm học tập, nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ cả về vật
chất và tinh thần, những lời động viên vô cùng đáng quý của gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp.
Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Kế toán Học viện
Tài chính, các nhà khoa học, các đồng nghiệp đã luôn nhiệt tình cung cấp cho tôi tài
liệu chuyên môn bổ ích cũng như các ý kiến đóng góp vô cùng quý giá để tôi hoàn
thành Luận án này. Đặc biệt, tôi vô cùng biết ơn hai thầy, cô hướng dẫn là PGS.TS
Đoàn Vân Anh và TS. Lê Văn Liên đã giúp tôi có định hướng nghiên cứu rõ ràng và tư
duy khoa học vững vàng trong suốt thời gian thực hiện luận án này.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư,
các kiểm toán viên, các thẩm định viên về giá, các nhà nghiên cứu đã dành thời gian
cho các cuộc phỏng vấn, hoặc trả lời phiếu khảo sát, quý vị đã góp phần đã tạo điều
kiện giúp đỡ để tôi có được những dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu của Luận án.
Trân trọng cảm ơn!


5


6

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN


DN

Doanh nghiệp

Enterprise

GTHL

Giá trị hợp lý

Fair value

HCA

Kế toán theo giá gốc

History Cost Accounting

IFRS

Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

International Financial
Reporting Standards

IASB

Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế



Các nguyên tắc kế toán Mỹ được chấp US. Generally Accepted
nhận

Accounting Principles


7

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƢƠNG I. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO
CÁO TÀI CHÍNH THEO GIÁ TRỊ HỢP LÝ

1
24

1.1. Khái quát chung về hệ thống Báo cáo tài chính

24

1.1.1. Khái niệm Báo cáo tài chính

24

1.1.2. Mục đích, tác dụng của hệ thống Báo cáo tài chính

25

1.1.3. Các yếu tố và nội dung của Báo cáo tài chính


55

theo giá trị hợp lý
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến lập và trình bày Báo cáo tài chính theo

61

giá trị hợp lý
1.5. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới khi vận dụng giá trị hợp

64

lý và bài học cho Việt Nam
1.5.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đối với vận dụng giá trị

64

hợp lý khi lập và trình bày Báo cáo tài chính
1.5.2. Bài học kinh ngiệm cho Việt Nam khi lập và trình bày Báo cáo tài

74

chính theo giá trị hợp lý
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ KHI
LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG

77

TY CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT CỦA VIỆC NAM


giá trị hợp lý tại các công ty chứng khoán niêm yết của Việt Nam
2.3. Đánh giá thực trạng

106

2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý khi lập và

110

trình bày Báo cáo tài chính cho công ty chứng khoán tại Việt Nam
2.4.1. Về yếu tố thị trường hoạt động

110

2.4.2. Yếu tố văn hóa

111

2.4.3. Yếu tố nhân sự

112

2.4.4. Về trình độ quản lý

112

2.4.5. Về khả năng áp dụng

113


120

công ty chứng khoán niêm yết của Việt Nam khi vận dụng giá trị hợp lý
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp lý của Việt Nam về lập và

120

trình bày Báo cáo tài chính khi vận dụng giá trị hợp lý
3.3.2. Hoàn thiện về việc đo lường các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính

129


9

3.3.3. Hoàn thiện về việc ghi nhận chênh lệch đánh giá lại các chỉ tiêu

132

trên Báo cáo tài chính sau khi xác định theo giá trị hợp lý tại các công ty
chứng khoán niêm yết
3.3.4. Hoàn thiện việc lập và trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính

133

3.4. Lộ trình áp dụng

139


149

KẾT LUẬN

151

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

153

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

154


10

CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 01

Danh sách các công ty chứng khoán niêm yết

1

Phụ lục 02

Danh sách các chuẩn mực kế toán Việt Nam

2

Phụ lục 08

Phiếu khảo sát sử dụng để khảo sát các nhà đầu tư

23

Phụ lục 09

Phiếu khảo sát sử dụng để khảo sát các nhà nghiên cứu, giảng viên

29

Phụ lục 10

Kết quả khảo sát các công ty chứng khoán niêm yết

35

Phụ lục 11

Kết quả khảo sát các kiểm toán viên và thẩm định viên về giá

40

Phụ lục 12

Kết quả khảo sát các nhà đầu tư

44



đoạn 2014-2017
Bảng 2.2

Hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán

86


12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số thứ tự

Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ 2.1

Số lượng CTCK Việt Nam qua các năm

78

Biểu đồ 2.2

Số lượng CTCK niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt

80



85

hàng đầu ở Việt Nam
Biểu đồ 2.8

Việc ghi nhận và trình bày các chỉ tiêu tài sản liên quan đến

101

giá trị hợp lý trên BCTC
Biểu đồ 2.9

Việc ghi nhận và trình bày các chỉ tiêu nợ phải trả liên quan

103

đến giá trị hợp lý trên BCTC
Biểu đồ 2.10

Việc ghi nhận và trình bày các chỉ tiêu doanh thu liên quan

104

đến giá trị hợp lý trên BCTC
Biểu đồ 2.11

Việc ghi nhận và trình bày các chỉ tiêu chi phí liên quan

105

Đây là những thông tin vô cùng quan trọng và hữu ích cho chính DN và các đối
tượng sử dụng thông tin ở bên ngoài DN. Dựa theo các khuôn mẫu này, BCTC DN
sẽ cung cấp thông tin toàn diện, đúng đắn, kịp thời và có tính so sánh về toàn bộ
tình hình tài chính DN, theo đó nhà đầu tư có đầy đủ hơn các thông tin tài chính
của DN nói riêng và thông tin về thị trường vốn nói chung, chất lượng thông tin cao
hơn, tính minh bạch rõ ràng hơn sẽ làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư trong việc
đưa ra quyết định kinh tế. Bên cạnh đó, các thông tin trên BCTC có tính so sánh sẽ
giúp cho các nhà đầu tư giảm chi phí trong việc xử lý thông tin kế toán.
Ở Việt Nam hiện nay, nguyên tắc “GTHL” đã được đưa vào trong quy định
của Luật Kế toán (sửa đổi) số 88/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 20
tháng 11 năm 2015, nhưng hiểu và vận hành kế toán theo GTHL vẫn là vấn đề rất


14

mới và khó đối với Việt Nam. Thực tế hiện nay, hầu hết các DN đều sử dụng giá
gốc cho việc ghi nhận và trình bày BCTC trên cơ sở tuân thủ quy định của 26
chuẩn mực kế toán (CMKT) Việt Nam (VAS) và hướng dẫn của Thông tư
200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014.
Riêng đối với các công ty chứng khoán (CTCK), từ năm 2017 bắt đầu áp
dụng GTHL khi ghi nhận, đo lường và trình bày BCTC theo hướng dẫn của Thông
tư 210/2014/TT-BTC và Thông tư 334/2016/TT-BTC. Các thông tư này đã bước
đầu tiếp cận GTHL cho các tài sản tài chính, đã có quy định về việc ghi nhận
GTHL của tài sản tài chính tại thời điểm lập BCTC, tuy nhiên những quy định của
Việt nam về lập và trình bày BCTC DN nói chung và các CTCK niêm yết nói riêng
vẫn còn tồn tại khoảng cách đáng kể so với những quy định khuôn mẫu của quốc tế
do Việt Nam còn thiếu quá nhiều các quy định khuôn mẫu về GTHL áp dụng cho
các đối tượng đã phát sinh liên quan đến các loại giao dịch như thanh toán bằng cổ
phiếu, công cụ tài chính, tổn thất tài sản…Bên cạnh đó, những CMKT đã ban hành
và các thông tư hướng dẫn kế toán thì chưa có quy định cụ thể liên quan tới việc


cấp bằng chứng về tính hiệu quả đối với nhà đầu tư và nhấn mạnh các vấn đề còn
đang tranh cãi. Nó hữu ích đối với các tài liệu về BCTC theo GTHL bằng cách hệ
thống hóa các vấn đề lý thuyết và các bằng chứng thực tế do đó sẽ đưa ra bức tranh
toàn cảnh về vấn đề này. Trong hai thập kỷ gần đây, kế toán theo GTHL đang trong
xu thế được coi trọng hơn. Điều này đánh dấu một sự khởi đầu quan trọng so với kế
toán truyền thống của những thế kỷ trước trong việc ghi chép sổ sách theo giá gốc.
Kế toán giá gốc bị phản đối chủ yếu dựa trên cơ sở rằng kế toán giá gốc không
phản ánh giá trị thực tế hoặc không định giá được giá trị thuần một cách cập nhật
nhất. Kết quả là, hội đồng CMKT quốc tế (IASB) dù chậm nhưng đã liên tục
chuyển từ báo cáo theo giá gốc sang báo cáo theo GTHL.
Hiện nay, mô hình BCTC vẫn đang bao gồm sự hòa trộn giữa giá gốc và
GTHL. Tuy nhiên, hầu hết những nhà xây dựng chuẩn mực đã nhận ra rằng kế toán
theo GTHL cần được duy trì và dường như sẽ trở thành nền tảng báo cáo chủ chốt
cho kế toán tài chính trong tương lai. Theo như cách nhìn nhận này, một ví dụ là
Chuẩn mực IFRS số 9 - Công cụ tài chính đã đưa ra cách xác định GTHL của các
công cụ tài chính. Cơ sở khoa học cho việc lựa chọn này là nên sử dụng GTHL thì
các BCTC sẽ cung cấp thông tin hữu ích nhiều hơn cho các quyết định của nhà đầu
tư.
Theo IASB, những nhà đầu tư và những người cho vay cần các thông tin mà
sẽ giúp họ tính toán được số lượng, vòng quay và tình trạng thay đổi của các dòng
tiền thuần trong tương lai đối với DN (IASB, 2010 OB3). Trong bối cảnh như vậy,
sử dụng kế toán theo GTHL sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin hữu
ích để tiên đoán được khả năng của các công ty sản sinh ra các dòng tiền như thế
nào từ những nguồn lực chủ yếu đang có. GTHL cũng đóng vai trò quan trọng
trong việc giảm thiểu sự mất cân đối trong việc cung cấp thông tin cho các DN và
các nhà đầu tư.
Cựu chủ tịch của IASB, ông Tweedie, lý giải lý do mở rộng GTHL như sau:
Trong một thời gian dài, các khoản thu nhập đã nỗ lực được “làm đẹp” để chỉ cho
các nhà đầu tư một xu hướng đi lên vững chắc của lợi nhuận. Trong khi cách tiếp

cho các tranh luận này. Giá gốc và GTHL là cung cấp hai loại thông tin khác nhau
và đều có tác dụng cho nhà đầu tư. Tại thời điểm mua, GTHL và giá gốc trong hầu
hết các trường hợp là như nhau nhưng chúng thường khác nhau ở các kỳ sau. Sau
ngày mua, kế toán theo giá gốc và kế toán theo GTHL cung cấp các thông tin khác
nhau. GTHL rất cần khi xếp loại các lựa chọn đầu tư mang tính cạnh tranh nhau.
Báo cáo DN đã đầu tư để mua tài sản hết bao nhiêu thì không có đủ thông tin, vì nó
không có nhiều thông tin về chất lượng khoản đầu tư. Để đánh giá chất lượng


19

khoản đầu tư đó, người sử dụng cần biết khoản đầu tư đó sẽ mang lại lợi nhuận bao
nhiêu trong tương lai. Với suy nghĩ thận trọng về sự đáng tin cậy của các ước tính
về GTHL, báo cáo theo GTHL cung cấp thông tin hữu ích cho nhà đầu tư về lợi
nhuận kỳ vọng từ các khoản đầu tư.
Mặt khác, chỉ có GTHL thì không thể giúp nhà đầu tư đánh giá được thỏa
đáng về ban giám đốc DN đối với số tiền vốn mà họ bỏ ra. Trên thực tế, người sử
dụng BCTC sẽ không biết ban giám đốc đã chi tiết hết bao nhiêu nguồn lực để có
được GTHL đó. Do đó, giá gốc sẽ hữu ích và kiểm soát được các quyết định vì nó
phản ánh số tiền đã phải chi ra. Trong cùng một khoảng thời gian xác định, hai đơn
vị khác nhau sở hữu một nguồn lực như nhau thì sẽ có cùng GTHL như nhau nhưng
GTHL không thể cung cấp thông tin cho nhà đầu tư biết DN đã thanh toán số tiền
khác nhau cho cùng một tài sản như nhau. Để đánh giá hiệu quả về ban giám đốc,
thông tin GTHL là không đủ. Người sử dụng cũng cần biết giá gốc của khoản đầu
tư.
Tóm lại, bài báo này cho rằng giá gốc và GTHL không nên coi là đối thủ của
nhau mà cả hai đều rất hữu ích. Nếu cố chọn chỉ một trong 2 thì rất khó cho người
sử dụng BCTC có được đầy đủ thông tin hữu ích cho việc ra quyết định. Vì lý do
này, hệ thống báo cáo và xác định giá song song sẽ là giải pháp tốt nhất khi đánh
giá hiệu quả đầu tư. So sánh các sự kiện trong tương lai (ví dụ GTHL) với các sự

tư. Kết luận chung là các nhà soạn thảo chuẩn mực nên xem xét và thảo luận về
việc áp dụng hệ thống báo cáo và đo lường song song.
Về các nghiên cứu trong nước, Mai Ngọc Anh (4) cho rằng việc sử dụng
GTHL trong các CMKT là một bước đi cần thiết trước sự phát triển nhanh chóng
của nền kinh tế thị trường, sự phức tạp trong các quan hệ đầu tư, tài chính và nhu
cầu sử dụng thông tin tài chính. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng không nên sử
dụng là một cơ sở định giá duy nhất cho mọi tài sản và nợ phải trả mà nên duy trì
mô hình kết hợp các cơ sở định giá khác nhau. Trong đó giá trị hợp lý được khuyến
khích áp dụng trong những điều kiện tồn tại thị trường hoạt động cho tài sản hoặc
nợ phải trả hoàn toàn giống về bản chất hoặc tương tự có thể so sánh. Đó là những
trường hợp mà giá trị hợp lý được xác định một cách đáng tin cậy, đảm bảo được
sự cân bằng hợp lý giữa yêu cầu "đáng tin cậy" và "thích hợp" của thông tin tài
chính.
Mai Ngọc Anh, Lưu Đức Tuyên (7) đã có nghiên cứu về việc áp dụng GTHL
trong hệ thống kế toán ở Việt Nam. Nghiên cứu đã trình bày tổng quan về GTHL
trong đó có khái quát lịch sử của GTHL; Các quan điểm về GTHL; Áp dụng GTHL
trong hệ thống kế toán DN; Kinh nghiệm áp dụng GTHL trong hệ thống kế toán tại


21

một số quốc gia trên thế giới. Đề tài đã phân tích về thực trạng các quy định hiện
hành về GTHL và áp dụng GTHL trong hệ thống kế toán DN ở Việt Nam. Ngoài
ra, đề tài đã đề xuất việc áp dụng GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam. Cụ thể
đề tài đã phân tích về bối cảnh chi phối đến khả năng áp dụng GTHL trong hệ
thống kế toán ở Việt Nam trong thời gian tới, đề xuất các quy định pháp lý về
GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam, đề xuất các giải pháp áp dụng GTHL ở
DN Việt Nam, khuyến nghị lộ trình và các điều kiện áp dụng GTHL trong hệ thống
kế toán Việt Nam.


đốc công ty định giá cho rằng một vấn đề đối với GTHL là mọi người sử dụng khái
niệm này theo các cách khác nhau; (2) Anne Lockwood FCA, chủ phần hùn kiểm
toán công ty Crowe Horwath, cho rằng một trong những vấn đề chính của GTHL là
quá nhiều xét đoán khi sử dụng “có rất nhiều ước tính khi xác định GTHL. Nền
kinh tế thế giới luôn biến động làm cho GTHL tiếp tục vận động” . Tác giả rút ra
kết luận là có sự không nhất quán trong cách thức áp dụng GTHL khi kế toán bất
động sản của các DN; (3) Lynda Tomkins CA, chủ phần hùn công ty Ernst&Young
cho rằng kế toán có rất nhiều xét đoán. Lynda cho rằng điều này tạo ra rất nhiều
hiểu lầm về GTHL. Tomkins cũng cho rằng GTHL ghi nhận rằng với một số tài
sản, giá trị của nó sẽ chỉ được thực hiện đầy đủ trong tương lai khi bán nó. Nhiều
phương pháp xác định giá trị khác không phản ánh rủi ro tiềm tàng và tác động
dòng tiền gắn với tài sản. Một vấn đề khác liên quan đến GTHL là khi đã lựa chọn
thì sẽ sử dụng để xác định giá trị tài sản, rất khó để thay đổi phương pháp khác
hoặc quay trở lại phương pháp giá gốc. Tác giả cho rằng "có thể áp dụng phương
pháp tiếp tục (continuing use) để xác định giá trị tài sản, nhưng DN khác áp dụng
phương pháp sử dụng cao nhất và tốt nhất (highest and best use). Thực tế áp dụng
các chính sách kế toán ở các DN khác nhau đang gây ra sự khác biệt khi so sánh
việc định giá các loại tài sản giống nhau." Đây là vấn đề lớn đối với bất động sản
không giống tài sản tài chính.
Tác giả cho rằng "Đối với nền kinh tế không ổn định việc định giá trở nên
phổ biến ở mọi nơi. Liệu việc định giá thực sự phản ánh cách thức các đơn vị có ý
định sử dụng các tài sản của họ như thế nào."
Trong nước, Mai Ngọc Anh (8) đã làm rõ các vấn đề về mô hình tính giá
gốc, mô hình tính giá hiện hành và mô hình tính giá đầu ra (GTHL).Trong đó tác
giả đề cập việc sử dụng GTHL trong kế toán là một xu hướng tất yếu song phải
thận trọng, tránh việc lạm dụng GTHL trong việc thổi phồng kết quả kinh doanh và
làm đẹp BCTC của DN. Tác giả khẳng định phải nghiên cứu sử dụng các cơ sở tính
giá khác ngoài giá gốc và phải được thực hiện theo một lộ trình thận trọng. Tác giả



thị trường và giá gốc của tài sản. Các tài sản sẵn sàng để bán và giá cả thường
xuyên biến động có thể được đánh giá định kỳ hàng năm theo mô hình GTHL nếu
GTHL có thể được xác định một cách đáng tin cậy.


24

Năm là, một trong những hạn chế khi áp dụng mô hình GTHL là mức độ tin
cậy của thông tin kế toán có nguy cơ bị suy giảm. Do vậy, cùng với việc cho phép
áp dụng mô hình GTHL trong đánh giá tài sản và nợ phải trả để trình bày trên
BCTC, khuôn khổ pháp lý kế toán cần nhấn mạnh đến các thuyết minh, giải trình
về điều kiện thị trường, cơ sở và phương pháp xác định GTHL. Việc công bố một
cách minh bạch cơ sở và phương pháp xác định GTHL vừa đảm bảo người sử dụng
hiểu thông tin tài chính của DN một cách đầy đủ và toàn diện, vừa đảm bảo thông
tin đó được thu nhận, xử lý theo phương pháp phù hợp, đáng tin cậy. Theo tác giả,
việc lựa chọn mô hình tính giá trong hệ thống kế toán ở mỗi quốc gia là rất quan
trọng trên cơ sở phù hợp điều kiện kinh tế, xã hội và đảm bảo hài hòa với hệ thống
kế toán các nước trong khu vực và trên thế giới.
Nguyễn Thế Lộc (9) có quan điểm về tính thích hợp và tính đáng tin cậy
trong các quy định đo lường giá trị tài sản, nợ phải trả theo chuẩn mực BCTC quốc
tế có liên quan đến GTHL. Tác giả cho rằng GTHL ngày càng được sử dụng rộng
rãi trong việc xác định giá trị của các yếu tố trên BCTC trong những năm gần đây.
Việc sử dụng GTHL chỉ thích hợp và đáng tin cậy khi thông tin về GTHL của tài
sản hoặc nợ phải trả có thể đảm bảo cân đối được các đặc tính chất lượng của thông
tin cần có cũng như đáp ứng được yêu cầu thông tin hữu ích của các đối tượng sử
dụng BCTC.

2.3 Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng khi áp dụng giá trị hợp lý
Một số nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng khi áp dụng GTHL trong số
đó có Nguyễn Ngọc Lan (8) đã hệ thống hóa lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến

lực của khu vực kinh tế nhà nước được chú trọng rất nhiều trong việc xây dựng các
chính sách kinh tế của Nhà nước.
- Về môi trường kinh doanh: Theo tác giả Nguyễn Thu Hoài (2009), một
trong những ý nghĩa quan trọng của việc vận dụng CMKT mà trong đó chủ yếu là
vận dụng kế toán GTHL, giúp cho thị trường vốn của quốc gia dễ dàng liên thông
với thị trường vốn của thế giới.
- Về trình độ người làm nghề kế toán: Theo nhiều nghiên cứu trước như của
He, TJ.Wong, Young (2012), Zehri & Chouaibi (2013), Bewley, Graham and Peng
(2013) thì đây không phải là nhân tố quan trọng nhưng tác giả vẫn đưa nhân tố này
vào xem xét trong trường hợp của Việt Nam, vì hệ thống đào tạo nghề nghiệp của
Việt Nam còn lỗi thời và chất lượng chưa cao.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu ở trên, tác giả đưa ra một số gợi ý nhằm
có thể vận dụng GTHL vào kế toán tại các công ty như sau:
Thứ nhất, đối với nhân tố vai trò của các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status