TRƯỜNG HỌC TT-HSTC - Pdf 61

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xu thế toàn cầu hoá, nước ta đang từng bước hội nhập quốc tế
trong nhiều lĩnh vực; nền kinh tế đang chuyển đổi cơ cấu biến nước ta từ một
nước nông nghiệp lạc hậu thành một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế
nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực, đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của
nhân dân được cải thiện... Học sinh ngày nay được nuôi dưỡng và giáo dục tốt
hơn, các em có điều kiện tiếp xúc với các luồng văn hoá đa chiều với hệ thống
thông tin đa dạng, trí lực của các em phát triển nhanh, khả năng nhận thức tốt
hơn. Do đó, ngành GD&ĐT phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, phải
tìm kiếm những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng
cao chất lượng con người để vươn lên ngang tầm với sự phát triển chung của
khu vực và thế giới. Vì thế, sự nghiệp GD&ĐT đóng vai trò quyết định vào
việc bồi dưỡng trí tuệ khoa học, năng lực sáng tạo cho thế hệ trẻ. Đổi mới
giáo dục là nhân tố then chốt đảm bảo cho sự thành công của sự nghiệp CNH-
HĐH đất nước, cũng như sự thắng lợi trong cuộc cạnh tranh quốc tế.
Điều này đã được khẳng định trong văn kiện Đại hội IX: “Phát triển
GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-
HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. [4]
Ngành GD&ĐT phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ vươn lên
ngang tầm với sự phát triển chung của thế giới và khu vực. Để đáp ứng được
yêu cầu của giai đoạn mới, GD&ĐT phải tìm kiếm các giải pháp để nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng con người.
Văn kiện Đại hội X chỉ rõ: “Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất
quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ
thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của
nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới”. [5]
Kết luận của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương
2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020”
Số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 đã chỉ rõ bên cạnh những thành tích đạt được

cộng đồng.
- Đào tạo giáo viên trở thành những “chuyên gia” về GD.
- Xây dựng các trường Đại học đạt chuẩn quốc tế.
- Hình thành triết lý GD phù hợp với kỷ nguyên mới.
Hay như mục tiêu GD của Singapore “Tạo sự thoải mái hài lòng cho
HS”. [14]. Việt Nam hiện nay đang tiến hành thực hiện phổ cập GD THCS
trên toàn quốc và đã đạt nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, về mặt chất lượng GD vẫn
còn có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền trong cả nước và giữa các
nhóm dân cư. Trong những năm trở lại đây thực trạng trẻ bỏ học, bị xâm hại,
bạo lực nhà trường đã trở thành những điểm đen cho nền GD nước ta.
Nếu so sánh sản phẩm GD của nước ta với một số nước trong khu vực
thì thấy có sự thua kém
- Chỉ số phát triển EDI (Education for Development Index) trong một
số năm gần đây của Việt Nam còn thua kém nhiều nước trong khu vực:
Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, ... và xếp hạng thấp so với nhiều nước
trên thế giới.
- Xếp hạng theo chỉ số HDI (Human Development Index) trong một số
năm gần đây của Việt Nam còn thua kém nhiều nước trong khu vực: Thái
Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Philippin, Indonêxia, Malayxia,... và
xếp hạng thấp so với nhiều nước trên thế giới.[11]
Trước thực trạng như vậy, Đảng và Nhà nước ta chỉ rõ “Mục tiêu GD
Việt Nam là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [15]
Nhà trường thân thiện là mô hình khá toàn diện đảm bảo các điều kiện
dẫn tới sự GD có chất lượng. Đây là một mô hình trường học do Quỹ Nhi
đồng liên hợp quốc (UNICEP) đề xướng xây dựng và triển khai từ vài thập kỷ
nay ở nhiều nước trên thế giới và đã thu được những kết quả tốt đẹp. Mô hình
này nếu được thực hiện tốt sẽ đảm bảo được vấn đề tiếp cận GD, chất lượng và

4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thực hiện một cách đồng bộ, linh hoạt các biện pháp được đề xuất
trong đề tài thì sẽ xây dựng được môi trường học tập thân thiện, phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình học tập.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý xây dựng THTT-HSTC của
Hiệu trưởng các trường THPT.
5.2. Khảo sát thực trạng vấn đề xây dựng THTT-HSTC ở các trường
THPT thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng THTT-HSTC ở các trường
THPT thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh
6. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý xây dựng THTT-
HSTC ở các trường THPT thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.
- Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, chúng tôi tập trung nghiên cứu ở
4 trường THPT nằm trên địa bàn thị xã Uông Bí (trường THPT Uông Bí, trường
THPT Hồng Đức, trường THPT Hoàng Văn Thụ, trường THPT Đông Thành).
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
7.2.2. Phương pháp điều tra xã hội học
7.2.3. Phương pháp chuyên gia
7.3. Phương pháp thống kê toán học
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý xây dựng THTT-HSTC của
Hiệu trưởng các trường THPT.
Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng THTT-HSTC của Hiệu trưởng
các trường THPT thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực của HS. Trong môi trường phát triển
toàn diện đó, HS học tập hứng thú, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu
dắt của người thầy, gắn chặt giữa học và hành, biết thư giãn khoa học, rèn
luyện kỹ năng và phương pháp học tập, trong đó những yếu tố hết sức quan
trọng là khả năng tự tìm hiểu, khám phá, sáng tạo.
Trường học thân thiện là một mô hình trường học do Quỹ nhi đồng liên
hợp quốc (UNICEF) đề xướng xây dựng và triển khai từ vài thập kỷ nay ở
nhiều nước trên thế giới trong bối cảnh tăng cường vận động các quốc gia
thực hiện tốt Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và thực hiện
Tuyên ngôn giáo dục cho mọi người thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ. Thuật
ngữ hệ thống giáo dục thân thiện và trường học thân thiện cho trẻ xuất hiện
trên diễn đàn của UNICEF từ năm 1999. Từ đó có nhiều bài viết, nhiều hội
thảo cho chủ đề này đều xuất phát từ “Công ước quyền trẻ em”, “Tuyên ngôn
giáo dục cho mọi người” và “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”. Chúng thống
nhất trong khung phương pháp luận như sau:
“Trường học thân thiện tiếp cận trên cơ sở tôn trọng quyền trẻ em, đảm bảo
cho HS khoẻ mạnh, hài lòng với việc học tập, được các giáo viên nhiệt tình dạy
dỗ cùng với sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng để các em có thể phát triển hết
tiềm năng của mình trong một môi trường an toàn và đầy đủ dinh dưỡng.
Trường học thân thiện thực hiện giáo dục theo tính tổng thể về chất lượng.
Yếu tố thân thiện trong trường học thể hiện ở việc động viên, khuyến
khích HS, GV và các đối tượng liên quan tham gia xây dựng môi trường giáo
dục với tình thương yêu và trách nhiệm nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục
của nhà trường”.
Giáo dục Việt Nam tiếp cận vấn đề trường học thân thiện từ sự bắt nhập
với ý tưởng của thế giới và xuất phát từ chính vấn đề của sự nghiệp đổi mới
giáo dục của đất nước.
Ngày 22/7/2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị số 40 về việc phát
động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013.

đã được triển khai thực hiện, như dự án trường Tiểu học bạn hữu, Giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh THCS; Mô hình trường THCS thân thiện… Các
chương trình xây dựng CSVC trường học như chương trình kiên cố hoá
trường lớp học, xây dựng trường chuẩn quốc gia; cuộc vận động hai không
với bốn nội dung trong đó nhấn mạnh yêu cầu “mỗi thầy cô giáo là một tấm
gương về đạo đức, tự học, sáng tạo” do Bộ GD&ĐT phát động và triển khai
đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục, góp
phần lập lại trật tự, nền nếp, kỷ cương và nâng cao chất lượng giáo dục. Đây
chính là cơ sở để chúng ta tiếp tục đẩy lên thành một phong trào rộng khắp
trong toàn ngành về xây dựng trường học thân thiện, với mục đích đạt được là
học sinh yêu trường, coi trường học thật sự là gần gũi, thân thiết, an toàn, hạnh
phúc, học sinh ham muốn học tập, “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
Tại các trường THPT thị xã Uông Bí mặc dù các Hiệu trưởng rất quan
tâm, đã coi vấn đề này là quan trọng và cần thiết, nhưng lại chưa có những đề
xuất các giải pháp hiệu quả, cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế ở từng
trường, việc triển khai phong trào còn gặp nhiều lúng túng. Chính vì vậy,
chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu, áp dụng những biện pháp cụ thể của Hiệu
trưởng nhằm xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ở các trường
THPT là rất cần thiết, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển giáo dục của
thị xã Uông Bí nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1. Nhà trường
Từ cội nguồn lịch sử, người ta đã đưa ra định nghĩa về nhà trường như sau:
“Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng
kiến tạo các kinh nghiệm XH cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của
XH đó. Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo kinh nghiệm XH nói
trên đạt được các mục tiêu mà XH đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động
vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của XH”. [21]
Quá trình sư phạm là quá trình kiến tạo các điều kiện và cơ hội cá thể
người lĩnh hội, chiếm lĩnh kinh nghiệm XH, thực hiện việc xã hội hoá nhân

công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin phát triển mạnh đến đâu, quá trình đó
có thể có những thay đổi nhất định, nhưng dẫu thế nào, đó vẫn là một quá
trình tất yếu và chỉ có thể được thực hiện chủ yếu ở nhà trường. Hơn nữa, GD
là một hiện tượng vĩnh hằng thì nhà trường cũng sẽ tồn tại mãi cho dù khái
niệm nhà trường sẽ được đa dạng hoá. Mặc dầu vậy, nhà trường vẫn có những
chức năng cơ bản : chức năng tạo nguồn nhân lực phát triển kinh tế xã hội;
chức năng chính trị; chức năng văn hoá; chức năng giáo dục về đoàn kết và
hợp tác quốc tế.
1.2.2. Quản lý
Khi sự phân công lao động xã hội xuất hiện và phát triển sâu rộng thì sự
liên kết giữa con người cá thể với nhau ngày càng cao, con người cá thể một
mặt vừa có khả năng tự chủ, mặt khác mối liên hệ cá thể thành hệ thống xã
hội ngày càng lớn mà cá thể không thể đứng ngoài hệ thống đó. Hoạt động
quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác hoạt động. Như vậy, quản lý là
một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện
mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn,
từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hoá càng cao, yêu cầu quản lý càng cao
và vai trò của nó tăng lên. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý:
Frederik Winslon Taylo (1856-1915), người Mỹ, được coi là “cha đẻ của
thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “kỷ nguyên vàng”
trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là: “Mỗi loại
công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt
chẽ”. Ông cho rằng “quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần
làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp nào tốt nhất, rẻ nhất”.
Theo Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần đến một sự chỉ đạo
điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí
quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. [10]

khoa học tương đối độc lập.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý GD là khái niệm
đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ GD quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc
biệt là quản lý trường học)
“Quản lý GD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN
Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa
GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. [17]
Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý GD là tổ chức các hoạt động dạy
học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của
nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN, mới quản lý được GD, tức là cụ thể
hoá đường lối GD của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng
nhu cầu của nhân dân, của đất nước”. [20]
Quản lý GD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong
muốn bằng cách hiệu quả nhất. Quản lý GD theo nghĩa tổng quát là hoạt động
điều hành, phối hợp các lực lượng XH nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý GD chứa đựng những nhân
tố đặc trưng, bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý GD, ở tầm vĩ mô là sự
quản lý của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT,
Phòng GD&ĐT; ở tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng nhà trường.
Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình, kế
hoạch thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích
GD trong mỗi giai đoạn cụ thể của XH phải có một lực lượng đông đảo những
người làm công tác GD cùng với hệ thống CSVS tương ứng.
Quản lý GD có tính xã hội cao. Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt các
vấn đề XH: kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng phục vụ công tác
GD.

1.2.4. Quan niệm về trường học thân thiện
“Thân thiện” là có tình cảm tốt, đối xử tử tế và thân thiết với nhau. Bản
Hiệu
trưởng
BM
MT
Th
HT
ND
ĐK
PP
MTr
Tr
QC
thân khái niệm “thân thiện” đã hàm chứa sự bình đẳng, dân chủ về pháp lý và
sự đùm bọc, cưu mang đầy tình người về đạo lý. Bởi nếu bất bình đẳng, mất
dân chủ, vô cảm trong quan hệ giữa người với người thì sẽ không còn “thân”
và “thiện”.”Thân thiện” bắt nguồn từ sứ mệnh của nhà trường và thiên chức
của nhà giáo đối với thế hệ trẻ và xã hội, chứ không dừng ở thái độ bề ngoài
trong quan hệ ứng xử.
“Trường học thân thiện” phải thân thiện với địa phương - địa bàn hoạt động
của nhà trường; phải “thân thiện” trong tập thể sư phạm với nhau; giữa tập thể
sư phạm với HS; thân thiện giữa HS với nhau; “Trường học thân thiện” phải
đảm bảo CSVC phù hợp với yêu cầu GD và thoả mãn tâm lý người thụ hưởng.
1. Trước hết, trường học phải thân thiện với địa bàn hoạt động, mà nội
dung chủ yếu của sự thân thiện là:
- Thu hút 100% trẻ em đến tuổi học thuộc địa bàn phục vụ của trường
được đi học và học đến nơi đến chốn (nghĩa là thực hiện tốt phổ cập GD bậc
tiểu học và THCS). Trường phải đảm bảo cho mọi HS đều bình đẳng về
quyền lợi (đồng thời là nghĩa vụ) học tập, không phân biệt giàu nghèo, giới

“dạy học lấy HS làm trung tâm” và “dạy học cá thể”. Có như vậy mới phát huy
được tính tự giác, tích cực học tập của các em, mới thực hiện được việc quan tâm
đến từng HS nhất là đối với các em có hoàn cảnh khó khăn, các HS “cá biệt”.
- Công tâm trong quan hệ ứng xử. Điều này là cực kỳ khó, bởi người ta
có thể chia đều tiền bạc chứ khó chia đều tình cảm. Tuy vậy, đã lựa chọn nghề
làm thầy giáo thì không còn cách nào khác các thầy cô giáo phải giữ bằng
được cho mình sự công tâm trong quan hệ ứng xử, công tâm trong chăm sóc
các em, công tâm trong việc đánh giá, cho điểm (nghĩa là phải công bằng,
khách quan với lương tâm và thiên chức nhà giáo).
4. Thân thiện giữa học sinh với nhau. Trong trường học thân thiện mối
quan hệ giữa các học sinh không chỉ là sự kết bạn cùng sở thích riêng như ở các
trường phổ thông hiện nay mà còn là mối quan hệ chia sẻ kiến thức trong nhóm
khi thảo luận trên lớp và các hoạt động theo nhóm ngoài lớp học, khi cùng làm
một bài tập sưu tầm hay nghiên cứu nhỏ ngoài lớp học. Mối quan hệ giữa các em
sẽ thân thiện hơn, gắn bó hơn do các em tham gia các hoạt động không chỉ vui
chơi giải trí mà còn học tập với nhau, chia sẻ công việc và tri thức cùng với nhau.
- Phải coi trọng giáo dục bình đẳng giới để HS nam và HS nữ biết quý
trọng nhau, sống hoà đồng với nhau. Phải rèn kỹ năng sống cho HS thích ứng
với XH, bởi cuộc sống nhà trường là cuộc sống thực, ngay ngày hôm nay, bây
giờ chứ không chỉ là chuẩn bị cho tương lai. Đừng để trò phải “ngơ ngác”
trước cuộc sống xã hội đang từng ngày đổi thay.
5. Thân thiện với môi trường yêu quý thiên nhiên.
Nhà trường thân thiện phải đảm bảo CSVC đáp ứng không chỉ yêu cầu
của sự nghiệp GD, mà còn cho cuộc sống an toàn, văn minh, phù hợp với tâm
lý của đối tượng thụ hưởng. Trường học thân thiện thì không thể thiếu sân
chơi, bãi tập đối với lứa tuổi “học mà chơi, chơi mà học” chứ không thể để
lớp học thiếu ánh sáng, bàn ghế không đúng quy cách, nhà vệ sinh buộc HS
phải bịt mũi, bặm môi mà vào...Ngược lại, trường học phải được xây dựng
khang trang, xanh, sach, đẹp, đúng yêu cầu sư phạm.
Trong trường học cần có hệ thống các thùng rác được đặt ở vị trí phù

5. Huy động, quản lý các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp với
gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
6. Quản lý, sử dụng và bỏa quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy
định của Nhà nước.
7. Tổ chức cho GV, nhân viên, HS tham gia các hoạt động xã hội.
8. Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo
dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.” [12]
1.3.3. Trường THPT với sự phát triển kinh tế - xã hội
Đất nước ta đang bước vào giao đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở
thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết
định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con người, là
nguồn lực con người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên
cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục
phổ thông, mà trước hết là phải bắt đầu từ việc xác định mục tiêu giáo dục
như là xác định những gì cần đạt được (đối với người học). Nói chung, Giáo
dục là sự kiến tạo một hệ thống phẩm chất và năng lực được hình thành trên
một nền tảng kiến thức, kỹ năng, thái độ đủ và chắc chắn.
Giáo dục phổ thông phải gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Trường THPT phải chú ý giáo dục ý thức, khả năng lao động, thực hành cho
HS trong quá trình dạy học; nhưng quan trọng hơn là làm cho những điều HS
học được trong nhà trường phải gắn với cuộc sống của họ. Giáo dục THPT
phải thích ứng với nhu cầu và đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội đất
nước, giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển giáo dục theo kế hoạch và
theo yêu cầu của thị trường lao động. Giáo dục THPT phải tạo ra nguồn lao
động có chất lượng cao, có ảnh hưởng tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội.
Giáo dục nói chung và giáo dục THPT nói riêng đồng thời phải là động lực
thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững thực hiện mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

3. Nội dung
a. Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn
- Bảo đảm trường an toàn, sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát và ngày
càng đẹp hơn, lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế hợp lứa tuổi HS.
- Tổ chức để HS trồng cây vào dịp đầu xuân và chăm sóc cây thường xuyên.
- Có đủ nhà vệ sinh được đặt ở vị trí phù hợp với cảnh quan trường học,
được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ.
- HS tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ vệ sinh các
công trình công cộng, nhà trường, lớp học và cá nhân.
b. Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của HS ở mỗi
địa phương, giúp các em tự tin trong học tập
- Thầy, cô giáo tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến
khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên, rèn
luyện khả năng tự học của HS.
- HS được khuyến khích đề xuất sáng kiến và cùng các thầy cô giáo thực
hiện các giải pháp để việc dạy và học có hiệu quả ngày càng cao.
c. Rèn luyện kỹ năng sống cho HS
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống,
thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm.
- Rèn luyện kỹ năng sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng,
chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác.
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa
bạo lực và các tệ nạn xã hội.
d. Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh
- Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến
khích sự tham gia chủ động, tự giác của HS.
- Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực
khác phù hợp với lứa tuổi của HS
đ. HS tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử,
văn hóa, cách mạng ở địa phương.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status