LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và
các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
Tác giả luận văn
PGS. TS Nguyễn Minh Mẫn
Trần Văn Kiên
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, học viên xin cảm ơn PGS.TS. NGUYỄN
MINH MẪN đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ học viên trong quá trình học tập,
nghiên cứu khoa học và hoàn thành Luận văn.
Học viên xin cảm ơn các thầy cô giảng dạy tại Viện Đại học Mở Hà Nội đã
giúp đỡ học viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài học viên luôn nhận được sự
động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình.
Học viên xin chân thành cảm ơn !
Tác giả luận văn
Trần Văn Kiên
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI
ly hôn .................................................................................................................... 36
2.2.1. Xác định quyền sử dụng đất tạo lập trước thời kỳ hôn nhân nhưng vẫn là
tài sản chung của vợ chồng .................................................................................. 36
2.2.2.Xác định người được tiếp tục đứng tên quyền sử dụng đất là tài sản chung
của vợ chồng......................................................................................................... 40
2.2.3. Phân chia tài sản là quyền sử dụng đất cùng tạo lập chung với cha mẹ, anh
em hoặc vợ, hoặc chồng ....................................................................................... 44
2.2.4. Phân chia quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không cùng chủ sở hữu và
sử dụng hợp pháp của vợ và chồng ...................................................................... 49
2.3. Một số hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp
về tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn ............................................ 52
2.3.1. Vướng mắc về nhận thức và áp dụng pháp luật ......................................... 52
2.3.2. Vấn đề định giá tài sản tranh chấp ............................................................. 57
2.3.3. Xác định tài sản của vợ chồng trong thực tế .............................................. 60
2.3.4. Vấn đề thủ tục tố tụng................................................................................. 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 67
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP VỀ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN.... 68
3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về phân chia quyền sử dụng đất là tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn ...................................................................... 68
3.2. Tăng cường hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Luật Đất đai 2013 ............................. 70
3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ xét xử .................................................. 72
3.4. Tăng cường hiệu lực thi hành của bản án .................................................... 75
3.5. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức pháp luật cho mọi
người dân ............................................................................................................. 76
3.6. Tăng cường công tác phối hợp, liên thông thông tin giữa các cơ quan quản
lí ............................................................................................................................ 77
của, công sức của các đương sự cũng như của các cơ quan tiến hành tố tụng. Một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là việc giải quyết tranh chấp về tài
sản của vợ chồng khi ly hôn chưa đúng pháp luật, chưa xác đáng, chưa phù hợp với
thực tế khách quan của quan hệ sở hữu... do đó chưa bảo vệ được quyền, lợi ích
chính đáng của các đương sự.
1
Hiện nay, cùng với xu thế phát triển của xã hội, số lượng các vụ án ly hôn có
tranh chấp về tài sản tăng lên, giá trị tài sản tranh chấp ngày càng lớn tạo ra rất
nhiều khó khăn và áp lực cho cơ quan tiến hành tố tụng. Một trong những vấn đề
người ta quan tâm nhất, không chỉ những cặp vợ chồng ly hôn mà hầu hết mỗi
người trong xã hội đó là vấn đề tranh chấp đất đai. Giá trị “tấc đất tấc vàng” càng
khiến cho người ta quan tâm hơn. Việc chấm dứt hôn nhân đa phần sẽ kéo theo
những vướng mắc của việc chia quyền sử dụng đất.
Những năm gần đây, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên đời
sống xã hội cũng như kinh tế của người dân ngày càng được đảm bảo và nâng cao.
Song mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến nhiều người sống buông thả, coi
trọng vật chất, tình cảm giữa mọi người với nhau không còn mặn mà, được coi
trọng như trước. Giá trị tài sản lớn và sự coi trọng vật chất làm cho những tranh
chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong các vụ án ly hôn có tính quyết liệt, căng
thẳng hơn, nên việc giải quyết cũng gặp nhiều khó khăn.
Là một tỉnh có mức sống trung bình so với cả nước song Nam Định cũng
chịu sự ảnh hưởng chung của xã hội. Những năm gần đây, số lượng các vụ tranh
chấp về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng trong toàn tỉnh tăng nhanh về số
lượng, phức tạp về nội dung, nhiều vụ tranh chấp rất gay gắt, khiếu nại kéo dài gây
nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tham gia
tố tụng. Hầu hết các vụ án đều được giải quyết trong thời hạn luật định, thấu tình
đạt lý, khách quan, được sự đồng tình của người dân. Tuy nhiên, thực tiễn giải
Bên cạnh đó, phải kể đến một số công trình nghiên cứu như “Chia tải sản
chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” của tác
giả Nguyễn Thị Lan “Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân” của tác giả Nguyễn Hồng Hải; “Một số vấn đề chia tài sản của vợ chồng
khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000” của tác giả Nguyễn Thị Bích Vân;
Nguyễn Thị Thanh Xuân “Pháp luật về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử
dụng đất khi ly hôn”, Nguyễn Thị Hạnh “Chia tài sản chung của vợ chồng theo
pháp luật Việt Nam – Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện Lê Thị Tuyết Chinh
“Pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn ở Việt
Nam” – Luận văn thạc sĩ luật học năm 2014; Nguyễn Thị Xuân “Giải quyết tranh
3
chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại TAND qua thực tiễn huyện Điện Bản, tỉnh
Quảng Nam” – Luận văn thạc sĩ luật học; Đinh Thị Minh Mẫn “Giải quyết tranh
chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn” – Luận văn thạc sĩ luật học năm
2014... Các công trình này đã nghiên cứu một các tương đối toàn diện việc phân
chia tài sản chung của vợ chồng.
Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về giải quyết
tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn giải
quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định ở cấp độ luận văn Thạc sỹ. Vì vậy trên cơ
sở tiếp thu, kế thừa những thành tựu khoa học của các công trình khoa học đã được
công bố, kết hợp với những kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động xét xử tại Tòa án,
tác giả hy vọng Luận văn sẽ đưa ra những giải pháp để tăng cường hiệu quả hoạt
động giải quyết tranh chấp về chia quyền sử dụng đất khi ly hôn theo pháp luật.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ quy trình, cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về
quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại tòa án, thực tiễn áp
dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp này tại tòa án tỉnh Nam Định, qua đó
ly hôn không được nghiên cứu trong đề tài này.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, về xây dựng và
hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như trong quá
trình giải quyết các tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, đối
chiếu, quy nạp, diễn dịch... được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn
đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản của vợ
chống khi ly hôn;
ii) Phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp số
liệu, phương pháp nghiên cứu vụ việc điển hình, phương pháp suy luận logic,
phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ việc... được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu
thực trạng giải quyết tranh chấp về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn
tại tỉnh Nam Định;
5
iii) Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải...
được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
thi hành pháp luật về chia quyền sử dụng đất khi ly hôn từ thực tiễn giải quyết tranh
chấp tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài
- Ý nghĩa lí luận:
Luận văn là một công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ và có hệ thống về
vấn đề liên quan đến việc giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh
Nam Định. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần bổ sung thêm một
Trong quá trình vợ chồng chung sống, ngoài tình cảm thì giữa vợ chồng còn
cần có tài sản chung để duy trì hôn nhân, đây được coi là một trong những điều kiện
không thể thiếu để duy trì mối quan hệ vợ, chồng.
Tài sản theo nghĩa Từ điển Tiếng Việt là của cải, vật chất dùng vào mục đích
sản xuất và tiêu dùng. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì
“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản
và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình
thành trong tương lai.”
Theo đó, tài sản chung của vợ chồng được hiểu là các tài sản (vật, tiền, giấy
tờ có giá, quyền tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai) thuộc quyền sở hữu
chung hợp nhất của vợ chồng, là hình thức sở hữu chung đặc biệt do vợ chồng cùng
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt vì nhu cầu chung của gia đình. Quan hệ tài sản này
xuất phát từ quan hệ hôn nhân, sự tồn tại của chế độ tài sản chung vợ chồng phụ
thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân và chấm dứt khi một trong hai vợ chồng
chết hoặc có bản án quyết định của Tòa án cho vợ chồng ly hôn.1
Do tính chất của hôn nhân và với vai trò là hạt nhân của gia đình đòi hỏi giữa
vợ và chồng phải có một lượng tài sản chung nhất định để đảm bảo các chi phí cho
cuộc sống chung và để thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình, đặc biệt
trong việc chăm sóc giáo dục và bảo vệ các con. Dựa trên cơ sở đó, kế thừa và phát
triển Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 33 Luật hôn nhân và gia
1
Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình, Tập 2, Nxb Đại học Cần Thơ, năm 2010, tr. 2.
7
đình năm 2014 quy định: 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng
tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát
8
tạo ra hoặc tạo ra ngang bằng nhau. Tài sản chung có thể chỉ do vợ hoặc chồng tạo
ra trong thời kỳ hôn nhân. Quy định này thể hiện sự gắn kết “Như hai mà một” của
quan hệ hôn nhân... Đây là điểm khác biệt của tài sản chung vợ chồng so với các tài
sản chung theo phần khác.
Tính hợp nhất trong việc sở hữu tài sản chung của vợ chồng còn được thể
hiện khi vợ, chồng chưa phân chia tài sản thì không xác định được tỷ lệ tài sản của
mỗi người. Khi hai bên thỏa thuận phân chia xong hoặc có quyết định phân chia của
Tòa án thì phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung mới được xác định.
Đây là điểm khác biệt đặc trưng của tài sản chung vợ, chồng so với các tài sản
chung theo phần.
Mặt khác, pháp luật còn quy định quyền và nghĩa vụ ngang nhau của vợ
chồng đối với việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung và mục đích
của việc sử dụng tài sản chung là nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, đảm
bảo cho vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình và lao động tạo ra tài sản vì lợi ích
chung của gia đình. Có thể thấy, những quy định này là phù hợp với quan điểm,
truyền thống đạo đức của Việt Nam cũng như định hướng xây dựng mối quan hệ vợ
chồng bền vững của Đảng và Nhà nước ta.3
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa:
Tài sản chung của vợ chồng là những tài sản được hình thành hoặc tạo ra
phù hợp với những căn cứ xác lập tài sản chung vợ chồng theo quy định của Luật
hôn nhân và gia đình.
1.1.2. Tài sản chung là quyền sử dụng đất của vợ chồng
Như ở phần trên đã phân tích, quyền tài sản cũng là một loại tài sản. Do đó,
quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản cũng có thể trở thành tài sản chung của
vợ chồng. Quyền sử dụng đất được ghi nhận thông qua việc coi đất đai thuộc sở hữu
của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý trong Hiến pháp năm 1980. Thực tiễn
của quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các hoạt động sử dụng mang
những lợi ích của đất đai.5
Việc chuyển giao quyền sử dụng đất hay nói cách khác là việc xác lập chủ sở
hữu đối với quyền sử dụng đất được thực hiện bằng các hình thức sau:
- Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
- Nhận chuyển nhượng từ chủ thể khác thông qua các hình thức giao dịch
dân sự như: mua bán, tặng cho, nhận thừa kế, trao đổi...6
4
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Công an nhân dân, 2007, tr. 31.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, tr. 68.
6
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, tr. 73.
5
10
Vậy, quyền sử dụng đất với tư cách là tài sản chung của vợ chồng được hiểu
thế nào? Căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2015 thì “Quyền
sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng,
trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có
được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”.
Như vậy, có thể hiểu quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng được sở hữu sau
khi kết hôn, trừ trường hợp việc sở hữu đó được thực hiện dưới hình thức thừa kế
riêng, được tặng cho riêng hoặc sử dụng tài sản riêng để giao dịch mua quyền sử
dụng đất, thì đều được coi là tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, quyền sử dụng
đất chung của vợ chồng bao gồm:
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng mua bằng thu nhập do lao động, hoạt động
sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân.
các mâu thuẫn, xung đột giữa các chủ thể sủ dụng đất khi họ cho rằng các quyền và
lợi ích hợp pháp về quyền sử dụng đất của mình bị xâm hại”10
Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Tranh chấp
đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ
giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”11
Như vậy, chúng ta có thể hiểu tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu
thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất phát sinh giữa hai hoặc
nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Qua định nghĩa trên, các dạng tranh chấp sau đây có thể được hiểu là tranh
chấp đất đai:12
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất: là những tranh chấp giữa các bên với
nhau về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó.
Trong dạng tranh chấp này chúng ta thường gặp các loại tranh chấp về ranh
giới đất; tranh chấp về quyền sử dụng đất tài sản gắn lyền với đất trong các quan hệ
ly hôn, thừa kế; tranh chấp để đòi lại đất (đất đã cho người khác mượn sử dụng mà
không trả lại, hoặc tranh chấp giữa người dân tộc thiểu số với người đi xây dựng
vùng kinh tế mới…); tranh chấp liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
8
Nguyễn Như Ý (chủ biên): Từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội 2001, tr808.
Khoản 26 Điều Luật đất đai 2003
10
TS. Trần Quang Huy (chủ biên): Giáo trình Luật đất đai, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2013, tr 341-342
11
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật đất đai, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2010, tr 455.
12
Chuyên đề: Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai và hòa giải tranh chấp đất đai – PGS.TS Nguyễn Quang
Tuyến
9
con cái. Vì thế, ly hôn là giải pháp cho cả hai bên để mỗi bên tự tìm hạnh phúc cho
13
mình. Qua đó, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng, bảo đảm quyền lợi và lợi ích hợp
pháp của cá nhân mỗi người theo quy định của pháp luật.
Có thể thấy, việc ly hôn chấm dứt quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý và do đó
nó cũng kéo theo các hệ quả pháp lý đi kèm, bao gồm: phân chia tài sản chung,
quyền và nghĩa vụ đối với con cái… Trong đó việc phân chia tài sản chung là vấn
đề thường nảy sinh tranh chấp đặc biệt đối với những tài sản chung có giá trị lớn
như quyền sử dụng đất.
Qua các phân tích trên có thể thấy tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất
sau khi ly hôn thuộc nhóm tranh chấp đất đai về quyền sử dụng đất, theo đó các bên
tranh chấp về việc xác lập chủ sử dụng đối với mảnh đất hoặc một phần của mảnh
đất. Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa về tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng
ly hôn như sau:13
Tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn là tranh chấp về việc xác
lập quyền tài sản giữa vợ chồng và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
đối với quyền sử dụng đất được một trong hai bên hoặc cả hai bên coi là tài sản
chung của vợ chồng khi quan hệ hôn nhân của họ chấm dứt.
Theo đó, các tranh chấp về quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng
khi ly hôn chủ yếu là các nội dung sau đây:
- Tranh chấp về việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung hay tài sản riêng
Đây là dạng tranh chấp phổ biến nhất (ví dụ như quyền sử dụng đất do vợ,
chồng tạo lập được trong thời ky hôn nhân nhưng trong giấy tờ mua bán hoặc giấy
chứng nhận quyền sử dụng chỉ đứng tên vợ hoặc chồng hoặc quyền sử dụng đất là
của bố mẹ vợ hoặc chồng cho vợ chồng nhưng khi ly hôn thì bố mẹ lại thay đổi là
chỉ cho con trai hoặc con gái hoặc cha mẹ đòi lại; quyền sử dụng đất là tài sản riêng
của vợ chồng có trước khi kết hôn nhưng lại đưa vào sử dụng chung trong thời kỳ
chồng ly hôn. Theo đó, quyền sử dụng đất được xác lập trong thời kỳ hôn nhân,
song quyền sử dụng đất đó lại có nguồn gốc hình thành từ nguồn vay của một chủ
thể thứ ba. Khi ly hôn, chồng hoặc vợ không thừa nhận nghĩa vụ phải trả khoản vay
đó cho bên thứ ba từ quyền sử dụng đất chia khi ly hôn. Đối với tranh chấp dạng
này, nếu giấy tờ vay nợ được xác lập rõ ràng, thỏa thuận cụ thể về mục đích vay là
để mua nhà đất, thời hạn vay phát sinh trước và trong khoảng thời gian xác lập
quyền sử dụng đất, giấy tờ ghi nợ xác nhận rõ nghĩa vụ chung của vợ chồng về việc
trả nợ khoản vay thì việc giải quyết không có nhiều phức tạp. Tuy nhiên, sẽ thực sự
phức tạp và khó khăn, vướng mắc cho các Thẩm phán khi khoản vay đó không có
15
giấy tờ hoặc giấy tờ không ghi nhận rõ các nội dung như đã đề cập ở trên, điều đáng
nói hơn là một trong hai vợ chồng phủ nhận khoản vay được hình thành từ việc xác
lập quyền sử dụng đất, phủ nhận trách nhiệm nghĩa vụ dân sự đối với người thứ ba.
Trong trường hợp không có giấy tờ gì về khoản vay đối với người thứ ba để minh
chứng thì vợ hoặc chồng phủ nhân khoản vay đó và phủ nhận trách nhiệm phải thực
hiện nghĩa vụ trả nợ vay bằng nguồn tài sản là quyền sử dụng đất khi ly hôn.
1.1.4. Phân loại tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn
- Quyền sử dụng đất tạo lập trước thời kỳ hôn nhân nhưng là tài sản chung
của vợ chồng: Đây là tranh chấp xảy ra khi một trong hai bên vợ hoặc chồng đã xác
lập quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất trước khi kết hôn. Tuy nhiên, trong quá
trình chung sống, khối tài sản riêng này do các sự kiện khác nhau dẫn đến một bên
coi tài sản này đã được bên kia nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng trong khi
bên còn lại cho rằng đó vẫn là tài sản riêng của mình. Điều này dẫn đến mâu thuẫn
nảy sinh và phát sinh tranh chấp khi phân chia tài sản chung khi ly hôn.
- Tranh chấp về việc ai được tiếp tục đứng tên quyền sử dụng đất là tài sản
chung của vợ chồng: Đây là tranh chấp khá phổ biến, do trên thực tế quyền sử dụng
đất là một tài sản có giá trị lớn tuy nhiên lại khó phân chia bằng hiện vật, hay được
phạm vi ranh giới đất của cha mẹ của chồng hoặc của, đã xây nhà ở và vợ chồng
ăn ở, sinh hoạt trên đất lấn chiếm, nay ly hôn thì đó là tài sản chung của vợ và
chồng nên phải chia tài sản song hoặc vợ, hoặc chồng (thường là người có bố mẹ
ở cùng) không đồng ý chia với lý do đất đó có nguồn gốc lấn chiếm nhưng trên
nên đất của cha mẹ nên đó là tài sản của cha mẹ nên không là tài sản của vợ chồng
nên không chia, có chăng chỉa thanh toán công sức đóng góp trong quá trình sinh
sống trên đất đó.
- Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không cùng chủ sở hữu và sử dụng
hợp pháp của vợ và chồng trong hôn nhân. Đây là tranh chấp có nguyên nhân phát
sinh do trong thời kỳ hôn nhân, vợ hoặc chồng đã thực hiện chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho người thứ ba nhưng không có sự đồng ý của phía bên kia nên sau
khi ly hôn khi tiến hành phân chia quyền sử dụng đất là tài sản chung đã bị chuyển
nhượng sẽ nảy sinh tranh chấp giữa vợ chồng. Đặc điểm của tranh chấp này là
quyền sử dụng đất không còn đứng tên vợ và chồng mà bị chuyển nhượng cho
người khác. Để giải quyết tranh chấp này thông thường đòi hỏi tòa án phải xác
17
minh tính hợp pháp của việc chuyển nhượng, xác định lỗi của các bên, đồng thời
xử lý tài sản một cách hợp lý để đảm bảo quyền lợi của các bên bao gồm cả bên
nhận chuyển nhượng.
1.1.5. Khái niệm giải quyết tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng
ly hôn của Tòa án
Ly hôn là sự kiện làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng, đồng thời
với sự chấm dứt quan hệ hôn nhân thì chế độ tài sản chung của vợ chồng cũng chấm
dứt kể từ thời điểm ly hôn. Khi ly hôn, do có sự mâu thuẫn về quan hệ tình cảm nên
vợ chồng khó tìm được tiếng nói chung trong việc phân chia tài sản chung, từ đó dễ
xảy ra tranh chấp chia tài sản chung.
Tranh chấp về tài sản vợ chồng thường xảy ra chủ yếu và gần như đồng thời
mâu thuẫn giữa các bên và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ và chồng. Tuy nhiên,
xét về mặt học thuật, khái niệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản
chung của vợ chồng lại không được quy định một cách chính thức và đầy đủ trong
các văn bản pháp luật đất đai. Tìm hiểu khái niệm giải quyết tranh chấp chia tài sản
là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn trước tiên, cần xem xét thế nào là giải
quyết tranh chấp đất đai; bởi lẽ, giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất là tài
sản chung của vợ chồng là một dạng cụ thể của giải quyết tranh chấp đất đai.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Giải quyết: Làm cho trở nên tốt đẹp,
cho thuận lợi, thỏa đáng hơn”14
Theo giáo trình Luật đất đai của Đại học Huế: “Giải quyết tranh chấp đất đai
trước hết là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai, là hoạt động của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu
thuẫn trong nội bộ nhân dân, giữa nhân dân với tổ chức và giữa các tổ chức sử
dụng đất với nhau để qua đó phục hồi các quyền lợi bị xâm phạm; đồng thời truy
cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai”15
Từ khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai nói chung, có thể đưa ra
định nghĩa về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ
chồng như sau:
Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi
14
15
Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Sdd, tr298
Đại học Huế, Giáo trình Luật đất đai Sđ, tr343
19
ly hôn là hoạt động của Tòa án nhằm giải quyết việc phân định quyền tài sản đối