TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC VÀ HIỆN ĐẠI HÓA CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT PHỤC VỤ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO ĐẾN NĂM 2030 - Pdf 61

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM

DỰ THẢO

THUYẾT MINH ĐỀ ÁN
TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC VÀ HIỆN ĐẠI HÓA CƠ SỞ VẬT CHẤT
KỸ THUẬT PHỤC VỤ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO ĐẾN NĂM 2030

Hà Nội, tháng 10 năm 2019


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM

THUYẾT MINH ĐỀ ÁN
TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC VÀ HIỆN ĐẠI HÓA CƠ SỞ VẬT CHẤT
KỸ THUẬT PHỤC VỤ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO ĐẾN NĂM 2030

Hà Nội, tháng 10 năm 2019


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 3
THÔNG TIN TỔNG QUÁT ......................................................................................... 5

1. Tên đề án ........................................................................................................ 5
2. Cơ quan chủ quản ........................................................................................... 5
3. Cơ quan thực hiện .......................................................................................... 5

II. MỤC TIÊU ............................................................................................................. 37

1. Mục tiêu tổng quát ....................................................................................... 37
2. Mục tiêu cụ thể ............................................................................................. 37


III. PHẠM VI .............................................................................................................. 38

1. Về không gian: ............................................................................................. 38
2. Về thời gian: ................................................................................................. 38
IV. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN .................................................................................... 38

1. Tăng cường năng lực quan trắc tài nguyên, môi trường biển và hải đảo: ... 38
2. Tăng cường năng lực quản lý tổng hợp; điều tra, khảo sát; kiểm soát ô
nhiễm môi trường biển và đảo ......................................................................... 42
3. Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và hiện đại hóa công tác quản lý tài
nguyên, môi trường biển và hải đảo................................................................. 44
4. Tăng cường năng lực cơ sở vật chất cho Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam .................................................................................................................. 45
5. Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương có biển. ....................................................... 47
V. TỔNG MỨC ĐẦU TƯ VÀ NGUỒN VỐN THỰC HIỆN .................................... 48
VI. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN: ............................. 50
VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ..................................................................................... 50
VIII. HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐỀ ÁN ................................................ 52
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 54
PHỤ LỤC 1: CÁC DỰ ÁN THỰC HIỆN ĐỀ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CƠ
SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT PHỤC VỤ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO ĐẾN NĂM 2030.........................................................................55
PHỤ LỤC 2: DANH MỤC MÁY MÓC, THIẾT BỊ PHỤC VỤ ĐIỀU TRA CƠ

phương tiện hiện đại, ngang tầm nhiệm vụ để quản lý việc khai thác, sử dụng tài
nguyên một cách có hiệu quả và bảo vệ tốt môi trường sinh thái biển, đảo. Bên
cạnh đó, đòi hỏi cấp thiết về tăng cường năng lực và hiện đại hóa điều tra, khảo
sát và quản lý tài nguyên, môi trường biển, đảo hiện nay trong tình hình các
nước tăng cường hiện diện và tuyên bổ chủ quyền tại Biển Đông đặt ra yêu cầu
phải hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật và bổ sung trang thiết bị, tàu nghiên
cứu biển, đảm bảo sự hiện diện trên biển của Việt Nam.
Tuy vậy, sau hơn 10 năm thành lập, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
và các Chi cục/Phòng chức năng quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
các tỉnh, thành phố ven biển chưa được đầu tư, trang bị đủ cơ sở vật chất kỹ
thuật, phương tiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên, môi
trường biển, đảo ngày càng cao và phức tạp hiện nay.
Thực hiện chủ trương “Tăng cường năng lực cho Bộ Tài nguyên và Môi
trường thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ là cơ quan thường trực giúp Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển,
3


đảo” được xác định tại Nghị quyết 36/NQ-TW và tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật và phương tiện làm việc cho các Sở Tài nguyên và Môi trường, mà trọng
tâm là Chi cục/Phòng chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường
biển, đảo ở các tỉnh, thành phố ven biển, Bộ Tài nguyên và Môi trường xây
dựng “Đề án tăng cường năng lực và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030” nhằm đáp ứng yêu
cầu quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển, đảo trong thời kỳ tới.

4


THÔNG TIN TỔNG QUÁT

5


PHẦN 1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. CĂN CỨ PHÁP LÝ
Đề án được xây dựng dựa trên căn cứ pháp lý quan trọng, chủ yếu sau:
- Nghị quyết số 36/NQ- TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Ban Chấp
hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt
Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Luật biển Việt Nam năm 2012;
- Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015;
- Nghị định 51/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ
quy định chi tiết việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai
thác, sử dụng tài nguyên biển;
- Nghị định 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và
hải đảo;
- Nghị định 41/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ
quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành
nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam;
- Nghị định số 36/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên
và Môi trường;
- Quyết định số 02/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu;
- Quyết định số 1570/QĐ-TTg ngày 06 tháng 9 năm 2013 của Thủ tướng
Chính phủ về phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và
bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 2295/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng
Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm

đảo, hướng dẫn việc lập và quản lý hồ sơ tài nguyên hải đảo;
- Thông tư số 20/2016/TT-BTNMT ngày 25 tháng 8 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng, khai thác và sử dụng
cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;
- Thông tư số 26/2016/TT-BTNMT ngày 29 tháng 9 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết tiêu chí phân cáp vùng rủi
ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo và hướng dẫn phân vùng rủi ro ô nhiễm
môi trường biển và hải đảo;
- Thông tư số 27/2016/TT-BTNMT ngày 29 tháng 9 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết bộ chỉ số và việc đánh giá
kết quả hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo;
- Thông tư số 29/2016/TT-BTNMT ngày 12 tháng 10 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật thiết lập hành lang bảo vệ
bờ biển;
- Thông tư số 49/2017/TT-BTNMT ngày 30 tháng 11 năm 2017 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật thiết lập, điều chỉnh
chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ;
- Thông tư số 74/2017/TT-BTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về lập quy hoạch khai
thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ;
7


- Thông tư số 33/2018/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy trình khắc phục hậu quả sự cố
tràn dầu trên biển;
- Công văn số 6236/VPCP-KGVX ngày 03 tháng 7 năm 2018 của Văn
phòng Chính phủ về việc trình phê duyệt chủ trương xây dựng Đề án tăng cường
năng lực và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quản lý tổng hợp tài
nguyên và môi trường biển, hải đảo;

đến phát triển kinh tế - xã hội, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc

8


gia của Việt Nam trên biển; các cơ chế, chính sách khai thác sử dụng tài nguyên
biển do các bộ, ngành, địa phương chủ trì xây dựng;
- Quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về biển, đảo;
- Quản lý nhà nước về khai thác, sử dụng tài nguyên biển, đảo;
- Kiểm soát tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo;
- Thiết lập, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài
nguyên, môi trường biển, đảo;
- Tổ chức tuyên truyền, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về biển,
đảo.
Để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi
trường mà trọng tâm là Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam phải có đội ngũ cán
bộ công chức, viên chức, người lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và
kỹ năng quản lý tổng hợp về biển, hải đảo. Bên cạnh đó, để có thể điều tra, khảo
sát, quan trắc và kiểm soát, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, hải đảo có hiệu
quả, Tổng cục cần được đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện làm việc
hiện đại, đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng phức tạp hiện nay.
b) Chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu quản lý nhà nước về biển và hải đảo
của cơ quan quản lý nhà nước về biển và hải đảo ở địa phương:
Hiện nay, 24/28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển đã thành
lập Chi cục Biển và Hải đảo; 04 địa phương thành lập Phòng chuyên môn thuộc
Sở Tài nguyên và Môi trường, gồm: Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh, Trà
Vinh và Tiền Giang.
Theo Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28 tháng 8
năm 2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở
Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc

biển, hải đảo của Tổ quốc như Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;
Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số Điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải
đảo; Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ
quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử
dụng tài nguyên biển,…
Tổng cục đã xây dựng và trình các cấp có thẩm quyền ban hành Chiến
lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trườngbiển đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam
đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 và nhiều Thông tư quy định kỹ thuật
phục vụ công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo và các
Chương trình, Kế hoạch hành động liên quan đến quản lý nhà nước về biển và
hải đảo.
Đặc biệt, năm 2018, Tổng cục đã tổ chức tổng kết10 năm thực hiện Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về "Chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020" và dự thảo chiến lược giai đoạn tiếp theo và
tham mưu trình Bộ Tài nguyên và Môi trường để trình Chính phủ, trình Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về
Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045. Đây là văn bản có tầm chiến lược, xác định được mục tiêu,
nhiệm vụ, giải pháp và các khâu đột phá nhằm phát triển bền vững kinh tế biển
Việt Nam song song với việc quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên và bảo vệ
môi trường biển, đảo.
Tuy vậy, để thực hiện tốt công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi
trường biển, đảo, Tổng cục cần tiếp tục rà soát, cập nhật và trình ban hành mới
10


nhiều văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở bám sát tình hình thực tiễn công
tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển, đảo như Nghị định sửa đổi

bộ đánh giá đượchiện trạng đa dạng sinh học về hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển,
rừng ngập mặn, bãi bồi, cửa sông, đầm phá; tiềm năng tài nguyên nước, tài
nguyên đất ở một số khu vực ven biển và một số đảo, cụm đảo quan trọng; đo đạc
và thành lập bản đồ địa hình ở một số cửa sông lớn.
Tuy nhiên, công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển thời gian
qua vẫn gặp nhiều khó khăn, thể hiện cụ thể trên các mặt sau:
- Thành lập hải đồ và bản đồ địa hình đáy biển: Đến nay mới thành lập hải
đồ tỷ lệ 1:200.000 trên diện tích khoảng 819,5 nghìn km2, đạt khoảng 82% diện
11


tích vùng biển Việt Nam; mjột số hải đồ và bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ từ
1:100.000 đến 1:5.000 ở khu vực 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vùng biển
ven bờ, các khu vực cửa sông, cảng biển và một số đảo, cụm đảo lớn, quan trọng,
xây dựng bộ cơ sở dữ liệu chi tiết về độ sâu trên vùng biển Việt Nam. Vì vậy,
trong thời gian tới cần tiếp tục thành lập bản đồ địa hình đáy biển và hải đồ biển ở
tỷ lệ lớn (từ tỷ lệ 1:25.000 đến 1:100.000) cho một số khu vực các cụm đảo quan
trọng và các khu vực có yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế và an ninh quốc
phòng.
- Công tác điều tra cơ bản địa chất khoáng sản biển:Hiện mới điều tra
được khoảng 24,5% diện tích vùng biển Việt Nam ở các tỷ lệ từ 1:500.000 đến
1:50.0001, chủ yếu tập trung ở khu vực biển nông ven bờ, độ sâu từ 0 - 100m
nước. Đang triển khai công tác điều tra ở vùng biển sâu, xa bờ, chú ý tới các đối
tượng khoáng sản mới. Do vậy, trong thời gian tới, cần đẩy mạnh điều tra địa
chất, khoáng sản vùng biển sâu, biển xa, vùng hải đảo và vùng biển quốc tế liền
kề ở tỷ lệ nhỏ (tỷ lệ 1/500.000 đến 1/100.000); đầu tư điều tra, khảo sát chi tiết
nhằm khoanh định chính xác trữ lượng khoáng sản đáy biển ở một số khu vực
được đánh giá là có tiềm năng trên cơ sở kết quả của các dự án đã thực hiện
trong thời gian qua. Bên cạnh đó cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy
trình công nghệ, định mức, đơn giá về công tác điều tra cơ bản địa chất, khoáng

những năm 60. Năm 1987, Trung tâm Khí tượng Thủy văn biển (nay là Trung
tâm Hải văn) được thành lập. Trên cơ sở kế thừa các kết quả đã đạt được, Trung
tâm Hải văn đã thực hiện nhiều công việc về điều tra, khảo sát khí tượng, thuỷ
văn và môi trường biển, quan trắc sóng, dòng chảy trên biển.
Kết quả quan trắc và điều tra, khảo sát của Trung tâm Hải văn đã phục vụ
nhu cầu về số liệu điều tra của các ngành kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng
như xác định nguồn gốc xảy ra sự cố môi trường biển2; chia sẽ dữ liệu phục vụ
công tác khí tượng thủy văn và dự báo thời tiết trên biển3; xác định đường triều
cao trung bình nhiều năm, đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm
vùng biển Việt Nam phục vụ công tác quản lý Nhà nước về biển và hải đảo; hợp
tác khoa học kỹ thuật, nghiên cứu biển, liên quan đến việc xác định số "0" độ
sâu lãnh hải Việt Nam, các ngấn triều thấp nhất xảy ra tại các vùng biển Việt
Nam, các tham số thống kê, phục vụ thiết kế, thi công các công trình biển ven
bờ và ngoài khơi, tham gia trong các đoàn đàm phán của Việt Nam về vịnh Bắc
Bộ và Biển Đông với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khác.... Các kết
quả này phục vụ thiết thực cho các ngành khai thác tài nguyên biển, đóng góp
tích cực cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển cũng như quản
lý tài nguyên môi trường biển.
Tuy vậy, công tác quan trắc tài nguyên, môi trường biển, quan trắc các
yếu tố khí tượng, thủy văn biển trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn, như
chưa đầu tư mạng lưới các trạm quan trắc tổng hợp tài nguyên, môi trường biển;
hệ thống radar biển, trạm phao biển; chưa có kế hoạch điều tra, khảo sát tổng
thể, dài hạn;các trang thiết bị chuyên dùng còn thiếu về chủng loại, ít về số
lượng, nên hạn chế về khả năng đo đạc và nghiên cứu đồng bộ. Công tác điều tra
chủ yếu thực hiện trong vùng thềm lục địa. Từ sau giai đoạn phối hợp khảo sát
Việt – Nga thời kỳ 1987-1997, Việt Nam chưa tự tổ chức được các chuyến điều
tra khảo sát trên toàn bộ vùng thềm lục địa của Việt Nam vì không có phương
tiện và kinh phí. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra, khảo sát về
hải văn biển còn thiếu, chưa thường xuyên được đào tạo lại để phù hợp với trình
độ phát triển của khoa học công nghệ.

biển để nhận chìm vật chất nạo vét.
Công tác giao khu vực biển bước đầu thực hiện đã đi vào nền nếp, bảo
đảm tuân thủ các quy định hiện hành, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các
tổ chức, địa phương có biển trong việc xử lý các hồ sơ giao khu vực biển để
nhận chìm.
Về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, theo quy định tại Khoản 2 Điều 79
Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ
biển tại các địa phương ven biển còn chậm. Tính đến nay, trong tổng số 28 tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương có biển, mới chỉ có Quảng Ngãi và Hải Phòng
công bố danh mục các khu vực yêu cầu phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.
Có 07/26 tỉnh, thành phố (Thái Bình, Bình Định, Bến Tre, Phú Yên, Quảng Trị,
Sóc Trăng, Bà Rịa - Vũng Tàu) đang gửi báo cáo lấy ý kiến của các bộ, ngành.
Các địa phương có biển khác còn lại hiện mới đang trong giai đoạn xây dựng,
triển khai thực hiện dự án về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.
Tuy vậy, công tác quản lý nhà nước về khai thác, sử dụng tài nguyên biển
và hải đảo còn gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể là:
- Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch quản lý, sử dụng bền
vững tài nguyên vùng bờ và các quy hoạch liên quan khác đang trong quá trình
xây dựng. Do vậy, công tác quản lý về khai thác, sử dụng tài nguyên biển, đảo
còn lúng túng, thiếu đồng bộ. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý,
khai thác sử dụng biển còn thiếu, chồng chéo, đặc biệt là quy định về giao khu
vực biển theo Nghị định 51/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2014 về giao các
khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển
và Thông tư 02/2015/TT-BTNMT ngày 27 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết

14


một số điều của Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Nghị định 44/2014/NĐ-CP ngày
15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

Tuy vậy, công tác kiểm soát tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải
đảo còn có những hạn chế, thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
- Chưa xây dựng được bản đồ phân vùng ô nhiễm môi trường biển; chưa
đánh giá đầy đủ được sức chịu tải môi trường biển; chưa đánh giá được hiện
trạng ô nhiễm rác thải nhựa, vi nhựa, phóng xạ…
- Chưa xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu về môi trường biển thống
nhất; các tư liệu hiện có về chất lượng môi trường biển của Việt Nam hiện đang
15


phân tán trong các đơn vị khác nhau, không tập trung và rất khó để các đơn vị có
nhu cầu sử dụng tham khảo.
- Chưa xây dựng được nguyên tắc, quan điểm về quản lý, bảo vệ tài
nguyên môi trường, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai, phòng ngừa và ứng phó sự
cố môi trường, hạn chế ô nhiễm theo hướng phát triển bền vững, đảm bảo an
ninh quốc phòng.
- Chưa dự báo được về nguy cơ sự cố môi trường biển và đánh giá đúng
và kịp thời mức độ tổn thất môi trường biển khi sự cố xảy ra. Hoạt động giám
sát, đánh giá rủi ro, ứng phó, khắc phục, giải quyết hậu quả SCTD (gọi chung là
ứng phó, khắc phục SCTD) nói chung và trên biển nói riêng đôi lúc còn bị động,
thiếu tính phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng ở trung ương và địa
phương.
- Công tác thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường biển, đảo: Công tác kiểm
tra, kiểm soát ô nhiễm các cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tăng
cường, chỉ đạo quyết liệt những vẫn chưa xử lý dứt điểm. Việc chấp hành pháp
luật bảo vệ môi trường của một số đơn vị chưa nghiêm túc, thực hiện không đầy
đủ theo quy định; tình trạng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng một số cơ sở
vẫn xảy ra, chưa được xử lý dứt điểm, còn phát sinh thêm cơ sở mới; ý thức của
người dân trong việc bảo vệ môi trường còn thấp, tình trạng người dân xả rác
bừa bãi ra biển khá phổ biến. Đến nay, chưa có Nghị định xử phạt vi phạm hành

nguyên, môi trường biển, đảo.
Tuy vậy, so với yêu cầu quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển,
đảo, thì hệ thống cơ sở dữ liệu hiện nay còn nghèo nàn, chưa hình thành bộ cơ
sở dữ liệu hoàn chỉnh, chưa số hóa và cập nhật đầy đủ các kết quả điều tra, khảo
sát, nghiên cứu về tài nguyên, môi trường biển, đảo, dẫn đến việc khai thác, sử
dụng gặp nhiều khó khăn.
Tổng cục chưa có hệ thống thông tin kết nối thời gian thực với các trung
tâm quan trắc, trạm radar, trạm DGPS,... Do vậy, công tác chỉ đạo, điều hành và
xử lý tình huống trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo còn bị
động và chưa kịp thời. Công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển,
đảo, do đó, còn nhiều lúng túng.
g) Công tác tuyên truyền, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về biển và
hải đảo
- Về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: Thực hiện các
dự án thuộc Quyết định số 373/QĐ-TTg ngày 23 tháng 3 năm 2010 của Thủ
tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác tuyên truyền và quản lý, bảo vệ và phát
triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam (Đề án 373). Luật tài nguyên, môi
trường biển và hải đảo; Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền
vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045,...
Hàng năm, Tổng cục đã tổ chức thành công Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt
Nam từ ngày 01 đến ngày 08 tháng 6 hàng năm để hưởng ứng ngày Môi trường
thế giới (ngày 05 tháng 6) và ngày Đại dương thế giới (ngày 08 tháng 6) tại các
địa phương ven biển. Triển khai Chương trình truyền thông về quản lý tổng hợp
đới bờ cho cộng đồng ven biển tại 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có
biển nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là ý thức về biển phải được thể hiện đầy
đủ trong chính sách phát triển của những ngành có liên quan và các địa phương
có biển.
Tuy vậy, hình thức và nội dung tuyên truyền chưa bắt kịp với sự phát triển
trong kỷ nguyên số và sự bùng nổ của các mạng xã hội. Điều này, đòi hỏi phải

Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonessia, Philipin,… và các nước có trình độ
nghiên cứu khoa học về biển và công nghệ biển tiên tiến trên thế giới như Nga,
Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy, Đức. Tổ chức các đoàn công tác đến
thăm và học tập kinh nghiệm về xây dựng văn bản pháp luật, về khoa học công
nghệ điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển, về quản lý tổng hợp biển và hải
đảo.
Tuy vậy, hợp tác quốc tế trong điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và
chia sẽ kinh nghiệm, kỹ năng quản lý tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển
chưa nhiều, cần đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới.

4 Theo Quyết định số 785/QĐ-BTNMT ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên
cứu biển và hải đảo, Viện có Phân viện nghiên cứu biển và hải đảo miền Trung. Tuy nhiên, đến nay,
Phân viện vẫn chưa được thành lập và chưa xác định được địa điểm đặt trụ sở.

18


III. HIỆN TRẠNG CƠ SỞ VẬT CHẤT, KỸ THUẬT VÀ TRANG
THIẾT BỊ PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI
NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO:
1. Các dự án đầu tư của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam từ khi
thành lập đến nay:
Từ khi Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam được thành lập đến nay, Tổng
cục đã được giao làm chủ đầu tư 09 dự án; trong đó 05 dự án đã hoàn thành đưa
vào sử dụng (với tổng mức đầu tư được phê duyệt là 571 tỷ đồng); 02 dự án đã
được phê duyệt dự án đầu tư nhưng chưa được bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư
công trung hạn giai đoạn 2016-2020 và 02 dự án đang trong quá trìnhchuẩn bị
đầu tư, cụ thể như sau:
a) Các dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng:

- Hình thức quản lý dự án: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án.
- Thời gian khởi công - hoàn thành: 2009-2013.
- Mục tiêu dự án: cung cấp thông tin về sóng biển, dòng chảy biển; phát
hiện sự cố tràn dầu trên biển, lan truyền ô nhiễm, phát hiện quỹ đạo vật thể trôi
nổi trên biển; đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc
phòng trên biển và phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, góp phần tích cực thực hiện
Chiến lược biển Việt Nam.
- Quy mô đầu tư: Xây dựng 03 trạm thu phát Rađa biển (tại Hòn Dấu Hải Phòng, Nghi Xuân - Hà Tĩnh, Đồng Hới - Quảng Bình) và 01 trạm trung
tâm tại Hà Nội (đặt tại Trung tâm Hải văn, số 8 phố Pháo Đài Láng, Đống Đa,
Hà Nội).
- Tổng mức đầu tư được phê duyệt: 102.481.642.000 đồng
Kể từ khi đưa vào hoạt động, các trạm Rađa biển Hòn Dấu, Nghi Xuân,
Đồng Hới và trạm trung tâm đã bước đầu hình thành mạng lưới trạm Rađa biển,
cung cấp thông tin về sóng biển, dòng chảy biển và phát hiện sự cố môi trường
biển (năm 2014 hệ thống Rađa biển của Trung tâm Hải văn đã góp phần xác
định nguyên nhân sự cố môi trường biển tại 04 tỉnh miền Trung do Công ty
Formusa gây ra), chia sẻ dữ liệu với Tổng cục Khí tượng thủy văn phục vụ công
tác dự báo thời tiết biển và góp phần vào công tác phòng chống thiên tai, bảo vệ
môi trường và an ninh quốc phòng trên biển.
(iii) Dự án “Đầu tư bước đầu phương tiện và thiết bị chuyên dùng thiết
yếu cho các đơn vị mới thành lập thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam”:
Dự án được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt tại Quyết định số
2007/QĐ-BTNMT ngày 28 tháng 10 năm 2011. Tổng dự toán được Bộ phê
duyệt tại Quyết định số 627/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 4 năm 2013 và điều
chỉnh tại Quyết định số 2712/QĐ-BTNMT ngày 28 tháng 11 năm 2014.
- Chủ đầu tư: Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
- Đơn vị được giao thực hiện dự án: Ban Quản lý dự án đầu tư về biển, hải đảo.
- Thời gian khởi công - hoàn thành: 2013 -2014.
- Mục tiêu dự án: Cung cấp phương tiện và trang thiết bị thiết yếu nhất
cho một số đơn vị mới thành lập thuộc Tổng cục, giúp Tổng cục Biển và Hải

tầng kỹ thuật cấp điện, cấp thoát nước; Các công trình kiến trúc (nhà làm việc,
nhà ở thuyền viên, nhà kho xưởng).
+ Về thiết bị: thiết bị phục vụ hoạt động của bến, thiết bị làm việc văn
phòng và kỹ thuật, thiết bị công trình.
Địa điểm xây dựng dự án: xã Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố
Hải Phòng.
- Tổng mức đầu tư được phê duyệt: 163.576.263.000 đồng
Mặc dù dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng, nhưng do chưa có tàu
nghiên cứu biển, nên việc khai thác sử dụng Bến đỗ còn hạn chế. Hiện nay, khu
vực kho của Bến đỗ được sử dụng để lưu trữ mẫu vật của một số dự án điều tra
cơ bản do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên - môi trường biển khu
vực phía Bắc thực hiện. Bên cạnh đó, Tổng cục đã chỉ đạo Cục quản lý điều tra

21


cơ bản biển và hải đảo (Đơn vị được giao quản lý Bến đỗ) chủ động khai thác,
sử dụng Bến đỗ có hiệu quả, phù hợp với quy định hiện hành.
(v) Dự án thành phần “Mua sắm trang thiết bị điều tra, khảo sát GH”
thuộc Dự án Nghiên cứu, điều tra, đánh giá, khoanh định các cấu trúc địa chất có
tiềm năng và triển vọng khí Hydrate ở các vùng biển Việt Nam:
Dự án được Bộ phê duyệt tại Quyết định số 1411/QĐ-BTNMT ngày 14
tháng 8 năm 2013; điều chỉnh tại Quyết định số 1670/QĐ-BTNMT ngày 26
tháng 7 năm 2016.
- Chủ đầu tư: Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
- Đơn vị được giao thực hiện dự án: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng
trực thuộc Bộ (trước kia là Ban Quản lý dự án đầu tư về biển, hải đảo trực thuộc
Tổng cục).
- Đơn vị quản lý, sử dụng thiết bị sau đầu tư mua sắm: Trung tâm Quy
hoạch và Điều tra tài nguyên, môi trường biển khu vực phía Bắc (trước kia là

sâu của Việt Nam.
b) Các dự án đã được phê duyệt dự án đầu tư nhưng chưa được bố trí vốn
thực hiện:
(i) Dự án “Đầu tư tàu điều tra, nghiên cứu tài nguyên và môi trường biển”:
Dự án được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt tại Quyết định số
161/QĐ-BTNMT ngày 07 tháng 02 năm 2014.
- Chủ đầu tư: Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
- Đơn vị được giao thực hiện dự án: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng
trực thuộc Bộ (trước kia là Ban Quản lý dự án đầu tư về biển, hải đảo trực thuộc
Tổng cục).
- Thời gian thực hiện: 2014– 2018.
- Mục tiêu của dự án: Đầu tư đóng mới một tàu nghiên cứu đa năng có
tính năng kỹ thuật, cấu hình và các trang thiết bị máy móc đáp ứng việc thực hiện
các nhiệm vụ: điều tra, khảo sát các yếu tố về tài nguyên và môi trường biển, thu
thập các dữ liệu, số liệu (chuẩn quốc tế) về các đặc trưng vật lý, hải dương học;
địa chất, địa mạo; sinh học, sinh thái học; phân tích mẫu nước, trầm tích, sinh thái
môi trường; đo đạc biển, vẽ bản đồ biển nhằm đáp ứng yêu cầu công tác điều tra
cơ bản và quản lý tài nguyên và môi trường biển; phục vụ công tác đào tạo, huấn
luyện nghiệp vụ, phối hợp với các lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và
các lực lượng chức năng khác thực hiện công tác cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu
quả thiên tai, dịch bệnh trên tuyến biển, hải đảo; thực hiện các chức năng khác
được giao.
- Nội dung đầu tư của dự án:
+ Đóng tàu để sử dụng đa năng về nghiên cứu, điều tra tài nguyên - môi
trường biển và hải đảo.
+ Mua thiết kế kỹ thuật tàu, thiết kế thi công, chuyển giao công nghệ, thiết
bị, vật tư phục vụ đóng tàu của đối tác nước ngoài có thương hiệu, uy tín và nhiều
kinh nghiệm trong việc đóng loại tàu nghiên cứu biển.
+ Đóng tàu tại nhà máy đóng tàu trong nước.
+ Mua sắm thiết bị nghiên cứu, khảo sát tài nguyên và môi trường biển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status