BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Chủ đề số:
3
BÀI TẬP NHÓM MÔN
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CHỦ ĐỀ
XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP
SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
NHÓM
LỚP
: 03
: N06 – TL3
Hà Nội, 2019
MỤC LỤC
1
Contents
2
MỞ ĐẦU
Con cái là sợi dây vô hình gắn kết hạnh phúc hôn nhân. Khi có con, nhiều
1.2. Điều kiện áp dụng
Tuy đây là phương pháp nhằm hỗ trợ và khắc phục các trường hợp hiếm
muộn, khó thụ thai, vô sinh, song nếu áp dụng một cách tràn lan, thiếu khoa học
sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy khác. Vậy nên, đi kèm với sự thừa nhận tính hợp pháp
của các phương pháp này tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Nghị định số
10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã ghi nhận những nguyên tắc
áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo. Tại Khoản 1 Điều 3:“Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền
sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ
chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo”. Như vậy, đối tượng được Luật cho phép áp dụng biện pháp sinh con
bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản gồm cặp vợ chồng vô sinh hoặc phụ nữ độc thân.
Với đối tượng là các cặp vợ chồng vô sinh, trước hết, khái niệm “vô sinh”
là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2
– 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có
thai1.
Vô sinh có thể là xuất phát từ một phía là vợ hoặc chồng vô sinh hoặc
xuất phát từ hai phía, nghĩa là cả hai người cùng vô sinh. Nếu như trước đây họ
chưa từng có thai lần nào được gọi là vô sinh nguyên phát. Nhưng nếu như họ đã
có ít nhất một lần mang thai, đã sẩy thai hoặc phá thai mà sau đó muốn có thai
mà vẫn không có thai trở lại được gọi là vô sinh thứ phát.
1 Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.
4
Với đối tượng là phụ nữ độc thân, căn cứ theo Khoản 6, Điều 2 Nghị định
số 10/2015/NĐ-CP về Giải thích từ ngữ, phụ nữ độc thân được quy định cụ thể
là “Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy
Trường hợp người con sinh ra trong thời kì hôn nhân nhưng không được
cha thừa nhận, tại khoản 2 Điều 88 có quy định: “Trong trường hợp cha, mẹ
không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”. Theo
đó, nếu như người cha nghi ngờ đứa trẻ không phải là con mình thì có quyền yêu
cầu giám định về gen để chứng minh đứa trẻ và mình không có cùng huyết
thống.
Nhưng với phương pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, quan hệ
cha, mẹ và con là tất yếu và không thể phủ nhận được, trong trường hợp cặp vợ
chồng vô sinh người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ mà họ không được
quyền yêu cầu xác định đứa trẻ đó không phải là con mình. Nguyên nhân bởi khi
làm đơn yêu cầu thực hiện biện pháp hỗ trợ sinh sản, cả hai vợ chồng đều phải
thể hiện ý chí đồng thuận đồng nghĩa với việc người chồng thừa nhận mình là
người chồng trong cặp vợ chồng vô sinh; do đó mối quan hệ cha, con với đứa trẻ
được mặc nhiên thiết lập.
Như vậy, pháp luật không cho phép thực hiện việc xác định lại cha, mẹ, con
đối với trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học.
Trường hợp người vợ thụ tinh trong thời kì hôn nhân nhưng sinh con khi
hôn nhân kết thúc, theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân
được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”. Nếu người vợ có
thai nhờ kĩ thuật hỗ trợ sinh sản trong thời kì hôn nhân, nghĩa là kể từ khi hôn
nhân chấm dứt trước pháp luật (ly hôn hoặc chồng chết), nếu trong thời hạn 300
ngày (người vợ chưa kết hôn với người khác) mà sinh con thì con đó vẫn được
xác định là “con chung” của hai vợ chồng.
Như vậy, căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh để xác
định cha, mẹ, con. Bởi vậy mà trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng
6
đăng ký kết hôn và được vợ chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp
con bằng phương pháp khoa học thì ngoài mối quan hệ mẹ - con, chúng ta cũng
có thể xác định mối quan hệ cha – con cho đứa trẻ.
Riêng đối với trường hợp người mẹ độc thân mang thai đứa con bằng
phương pháp khoa học, kết hôn nhưng lại sinh con sau khi hôn nhân đã kết thúc
thì người phụ nữ đó vẫn được xác định là người phụ nữ độc thân. Do đó chỉ có
mối quan hệ mẹ - con là duy nhất, không phát sinh mối quan hệ cha – con nào.
Tuy nhiên, nếu người phụ nữ không đợi quá 300 ngày kể từ ngày hôn nhân chấm
dứt (li hôn hoặc chồng chết) mà tiếp tục kết hôn rồi sinh con thì người con lại
được xác định là con của người chồng sau theo nguyên tắc suy đoán.1
2.2. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo
Khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định về định
nghĩa mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:
“ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện,
không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ
không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản,
bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh
trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang
thai để người này mang thai và sinh con”.
Pháp luật nước ta chỉ có quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
mà không cho phép mang thai vì mục đích thương mại. Bởi việc mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo là biện pháp cuối cùng giúp các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm
muộn có được đứa con mà họ hằng mong ước sau khi đã áp dụng các biện pháp
hỗ trợ sinh sản mà người vợ vẫn không thể mang thai và sinh con. Điều này có ý
nghĩa hết sức nhân văn. Còn việc mang thai hộ vì mục đích thương mại trái với
1 Vũ Ngọc Huy, Xác định cha, mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2017.
8
9
khi người mẹ của đứa trẻ không có khả năng nuôi con bằng sữa của chính mình
thì chúng ta cũng nên chấp nhận việc mang thai hộ. Hai hiện tượng này gần như
đồng nhất với nhau, chỉ khác ở thời điểm là trước và sau khi sinh.1
Bởi vậy cho nên việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo theo quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp lý.
2.3. Xác định cha, mẹ trong trường hợp vợ chồng vô sinh sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
2.3.1. Xác định cha, mẹ trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh
con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
Trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng chỉ làm phát sinh quan hệ mẹ con
mà không làm phát sinh quan hệ cha con và cũng không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ đối với người hiến tinh trùng. Trong trường hợp này người mẹ có
quyền xác định lại quan hệ mẹ con.
2.3.2. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ
trợ sinh sản với tinh trùng của người chồng
Việc xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp này không khác gì
so với xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên. Bản
chất của việc xác định quan hệ cha, mẹ, con căn cứ vào huyết thống, con phải có
chung huyết thống với cha, mẹ. Việc xác định một người là con hay không phải
là con mình dựa trên việc chứng minh họ có cùng chung huyết thống với mình
hay không. Pháp luật cho phép cha, mẹ có quyền xác định người nào đó là con
mình cũng như có quyền xác định một người nào đó không phải là con mình
theo Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
“Điều 89. Xác định con
1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa
án xác định người đó là con mình.
11
người vợ sinh ra hoặc mang thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ
chồng.
Để tránh gây ra những tranh chấp về quyền nhận con, nhận cha trong
trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng của người hiến,
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định như sau:
“Điều 93. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản
3. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan
hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con
được sinh ra”.
Như vậy, người hiến tinh trùng sẽ không có quyền đòi lại đứa trẻ đã được
sinh ra.
2.3.4. Xác định cha, mẹ trong trường hợp con sinh ra không trong
thời kỳ hôn nhân
Trong trường hợp phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
sau đó kết hôn. Nếu đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân áp dụng quy định tại
khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đứa trẻ sẽ là con chung
của vợ chồng. Trong trường hợp người chồng không thừa nhận con thì có thể
yêu cầu Tòa án xác định đứa trẻ đó không là con mình. Còn nếu đứa trẻ được
sinh ra trước khi kết hôn áp dụng khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 quy định: “con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ
thừa nhận là con chung của vợ chồng”, nếu vợ hoặc chồng không thừa nhận
đứa trẻ đó là con chung của vợ chồng thì đứa trẻ đó sẽ được xác định là con
riêng của vợ.
Trường hợp sau khi người chồng chết người vợ sử dụng tinh trùng của
chồng lưu giữ trước khi chết để sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đứa trẻ
Hiện nay, với sự phát triển tiên tiến của nền y học, phương pháp sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng trở nên phổ biến và được áp dụng rộng
13
rãi. Đã có rất nhiều trường hợp các cặp vợ chồng vô sinh, những người phụ nữ
độc thân có nhu cầu sinh con bằng phương pháp khoa học đã đến bệnh viện, các
cơ sở y tế xin tinh trùng, xin phôi để thực hiện việc thụ tinh nhân tạo, thậm chí là
nhờ mang thai hộ. Tuy nhiên nếu không có các quy định cụ thể để kiểm soát
hoạt động này thì nó không chỉ gây ra những ảnh hưởng lớn tới những cá nhân
sử dụng mà còn mang đến những tác động xấu đến kinh tế xã hội. Chính vì vậy,
nhà nước đã đưa ra nhiều chế tài pháp luật để ngăn chặn những tác hại của việc
lạm dụng biện pháp này, đặc biệt là trong việc xác định cha, mẹ, con bằng các
phương pháp khoa học được sử dụng phổ biến như hiện nay.
Với sự xuất hiện của những điều luật quy định về vấn đề này, phần lớn
người dân đã có nhận thức đứng đắn hơn về tầm quan trọng của việc xác định
cha, mẹ cho đứa trẻ sau khi sinh ra. Bộ y tế đã dựa vào các quy định được Nhà
nước ban hành để áp dụng, xây dựng một cơ chế hoàn chỉnh hơn trong lĩnh vực
này, cụ thể là đưa ra những chính sách riêng nhằm quản lý các bệnh viện để
tránh những việc sử dụng không đúng phương pháp hoặc gây khó khăn trong
việc xác định cha mẹ con.
Để có thể đảm bảo được đứa trẻ có cha mẹ khi sinh ra thì chúng ta phải có
đầy đủ thông tin về những người tham gia vào quá trình thực hiện phương pháp
hỗ trợ sinh sản này. Chính vi vậy, nhà nước đã có những chế tài xử lý nghiêm
khắc với những hành vi mang thai hộ, hiến tinh trùng, thụ tinh trong ống nghiệm
mà trái với pháp luật. Những chế tài này giúp nhà nước có thể dễ dàng hơn trong
việc xác định cha mẹ con, đông thời tạo một môi trường lành mạnh hơn cho
những gia đình đang hiếm muộn.
Tuy nhiên, do phương pháp sinh sản này còn rất mới mẻ nên trong pháp
luật vẫn còn tồn tại những kẽ hở, điều này khiến cho việc xác định cha mẹ con
phải có những chế tài và biện pháp xử lý đối với những tranh chấp phát sinh sau
đó. Chính vì vậy, Nhà nước ta đã bổ sung thêm vào Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đồng thời quy định
thêm việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Điều 93, 94 Luật Hôn nhân và
15
gia đình năm 2014). Đây là một trong những điểm mới và tiến bộ của các nhà
làm luật khi đưa những quy định này vào sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia
đình để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.
Đối với trường hợp những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn mong muốn
có con, muốn sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản hay muốn nhờ mang
thai hộ, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định tại như sau:
- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300
ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai
trong thời kỳ hôn nhân.Con được sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được
cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng. (Khoản 1 Điều 93 và khoản 1
Điều 88)
- Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con
chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra. (Điều
94)
Pháp luật đã quy định trong trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng
đăng ký kết hôn và được vợ chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp
dụng đối với trường hợp con sinh ra bằng hỗ trợ kỹ thuật sinh sản. Để bảo đảm
nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ
đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận
noãn hay nhận phôi của người khác và người chồng hợp pháp của người mẹ đó
cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người chồng không phải là người
ích của người mẹ và đứa trẻ.
Thứ hai, việc xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản cũng xuất phát từ nguyên tắc chung đó là xác định cha, mẹ,
con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp (Điều 88, 93 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014). Quy định này nhằm đảm bảo mọi quyền lợi cho cặp vợ chồng, người
phụ nữ độc thân và đặc biệt là đứa trẻ. Đối với trường hợp người phụ nữ độc
thân khi sinh con thì áp dụng tương tự như trường hợp xác định cha, mẹ, con khi
17
cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp, trong trường hợp này chỉ có quan hệ giữa
mẹ và con.
Ngoài ra, trong trường hợp xác định cha, mẹ, con cần quy định rõ sau khi
đứa trẻ được sinh ra nếu cha, mẹ không muốn thừa nhận con thì cũng không
được yêu cầu xác định lại. Bởi vì họ là người yêu cầu thực hiện việc sinh con
bằng biện pháp hỗ trợ sinh sản, quan hệ cha, mẹ và con là tất yếu, không thể phủ
nhận. Điều này khác với trường hợp sinh con tự nhiên vì người chồng có quyền
yêu cầu xác định lại quan hệ cha con khi không tin tưởng đứa trẻ là con ruột của
mình. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt nếu cặp vợ chồng, người phụ
nữ độc thân nghi ngờ cơ sở y tế và có thể có sự nhầm lẫn trong quá trình thực
hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì có nên cho phép họ được quyền yêu cầu xem
xét lại.
Vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp vợ chồng ly hôn. Quy
định tại khoản 4 Điều 21 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP trong trường hợp hai vợ
chồng ly hôn người vợ sử dụng phôi để sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
làm phát sinh các quan hệ ngoài quan hệ hôn nhân gia đình thì thực hiện theo
quy định của pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật dân sự. Với quy định như
vậy thì “quan hệ ngoài hôn nhân và gia đình” được hiểu như thế nào? Thiết
nghĩ, pháp luật cần phải quy định cụ thể, nếu không sẽ gây khó khăn trong việc
đình Việt nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.
Bài viết của nhóm chúng em còn nhiều thiếu sót, kính mong thầy cô góp ý
để bài làm được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn.
19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2. Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh
trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
3. Nguyễn Thị Lan, Xác định cha, mẹ, con theo Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam - Cơ sở lí luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2010.
4. Phạm Thị Hồng Đào, Quy định của pháp luật về xác định cha, mẹ, con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và kiến nghị, Trang thông tin điện tử Bộ Tư pháp
đăng ngày 24/5/2017.
5. Thông tin phổ biến giáo dục pháp luật về Y tế số 03 tháng 09/2014:
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
6. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2012.
7. TS. Ngô Thị Hường (chủ biên), Hướng dẫn học tập, tìm hiểu Luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam, NXB Lao động năm 2015.
8. Viện Đại học Mở, Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2015.
9. Vũ Ngọc Huy, Xác định cha, mẹ con trong trường hợp sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà
Nội, 2017.
20