TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN
Nhóm …
TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ
NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
(LIÊN HỆ Ở VIỆT NAM)
Cần Thơ, tháng 12/2019
MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ................................................................................................1
MỤC LỤC...................................................................................................................................2
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG.....................................................................................................................4
1.TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.......................4
1.1.KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY RA NỢ CÔNG.......................4
1.2.KHÁI NIỆM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ......6
2.NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
.....................................................................................................................................................7
2.1.NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ......7
2.2.NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH Tế............9
Bảng 1: Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam............................................10
Bảng 2. Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2014 - 2018.........11
2.3.HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG NỢ CÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ...................................................................................................................................16
NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN CHUNG....................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................24
1.1.1. Khái quát về nợ công
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ và có nhiều
chuyển biến khó lường, điển hình là khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra từ cuối
năm 2008, đầu năm 2009, khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đang lan sang một số
nước châu Âu, nợ công và quản lý nợ công trở thành vấn đề nóng được các nhà
lãnh đạo các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Trong quá khứ, khủng
hoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu thập niên 80 của Thế kỷ XX.
Năm 1982, Mê-hi-cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố không trả được nợ vay Quỹ
Tiền tệ quốc tế (IMF). Đến tháng 10-1983, 27 quốc gia với tổng số nợ lên tới
240 tỉ USD đã tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn trả nợ (1). Tuy nhiên, đến
nay xung quanh khái niệm và nội hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểm
chưa thống nhất.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và IMF, nợ công, theo nghĩa rộng, là
nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của chính phủ trung
ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức
độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước (NSNN) quyết định hay
trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải
trả nợ thay). Còn theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của chính phủ
trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được
chính phủ bảo lãnh thanh toán.
Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công bao gồm:
nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Theo
đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước
ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc
các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo
quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời
kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài
chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Nợ chính
quyền địa phương là khoản nợ do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
tính cần 2.000 tỷ đôla (bằng toàn bộ đầu tư cả nước trong 50 năm nữa) để đầu
tư. Năm 2011, cả nước thực hiện xiết chặt đầu tư công theo tinh thần Nghị quyết
11/CP, nhưng vẫn có đến 333 dự án mới sai đối tượng, không thuộc danh mục sử
dụng vốn trái phiếu Chính phủ mà vẫn được khởi công ... Nhìn tổng quát, tốc độ
tăng đầu tư công trong mười năm qua cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Khu vực
DNNN (doanh nghiệp nhà nước) được hưởng nhiều nguồn lợi nhất và chiếm tỷ
trọng đầu tư xã hội cao nhất lại có hiệu quả đầu tư thấp nhất.
Đầu tư công cao và kém hiệu quả trong bối cảnh tiết kiệm của Việt Nam
giảm là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát tăng, lãi suất thị
trường tăng cao và nhất là làm nợ công tăng nhanh.
Nguyên nhân thứ hai có thể kể đến là việc vay nợ để chi thường xuyên dẫn
đến thâm hụt ngân sách mà không được bù đắp. Nguyên nhân này xuất phát từ
nhiều vấn đề khác nhau như: tình trạng tham nhũng làm tăng chi tiêu chính phủ,
nhắm tới duy trì mức lương cao cho công chức, vấn đề trốn thuế và hoạt động
kinh tế ngầm làm giảm nguồn thu ngân sách, việc tiết kiệm trong nước thấp dẫn
tới phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công.
Đối với cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu trong thời gian qua, có
nhiều nguyên nhân được các chuyên gia chỉ rõ. Với từng quốc gia, đó là khả
năng quản trị công yếu kém, chi tiêu thiếu hợp lý, hoặc mất kiểm soát các hoạt
động cho vay của hệ thống ngân hàng... Với cả khu vực, đó là thói quen "chi
nhiều hơn thu" kéo dài và hệ thống phúc lợi xã hội ngày càng phình to. Để đối
phó cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, châu Âu dễ dàng vay mượn
5
quá mức, không tương thích tốc độ tăng trưởng kinh tế và vì thế đẩy tình trạng
thâm hụt ngân sách và mức nợ công tăng chóng mặt, vượt khả năng kiểm soát.
1.2.
KHÁI NIỆM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG
Các nhân tố tác động đến tổng cầu: Kinh tế học vĩ mô đã cho thấy có 4
nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu, bao gồm: Chi cho tiêu dùng cá nhân (C); Chi
tiêu của Chính phủ (G); Chi cho đầu tư (I); Chi qua hoạt động xuất nhập khẩu
(NX = X – M).
6
2. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ NỢ CÔNG VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
2.1. NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
Chúng ta có thể thấy mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng rõ nét nhất
khi nghiên cứu về cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước phát triển, đển hình là
Liên minh châu Âu và Mỹ.
Khủng hoảng nợ công gia tăng ở Liên minh châu Âu (EU) cùng sự sụt
giảm nhanh chóng của đồng USD kéo nền kinh tế thế giới đi xuống. Chính vì lẽ
đó, các Bộ trưởng Tài chính toàn cầu trong cuộc họp thuộc khuôn khổ Hội nghị
thường niên IMF và WB sáng 13/10/2012 tại thủ đô Tokyo (Nhật Bản) đã hối
thúc các quốc gia thành viên sớm hoàn tất chính sách quản lý tài chính mới,
giảm triệt để nợ công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước và thế giới.
Trong một thông cáo được đưa ra ngày 13/10/2012, Ủy ban tài chính và
tiền tệ quốc tế (IMFC) thuộc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã kêu gọi các nước
phải nhanh chóng hành động và hành động một cách có hiệu quả nhằm bảo toàn
sự phát triển của nền kinh tế hiện tại, xây dựng lại lòng tin và cuối cùng là thúc
đẩy kinh tế phát triển hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp với tuyên bố trước đó
của Tổng Giám đốc IMF Christine Lagarde rằng, nợ công của các nước phát
triển đã lên đến mức 110% GDP năm 2012 và lên đến 113% GDP trong năm
2013.
Hai năm qua, sự tiến triển chậm chạp trong việc giải quyết vấn đề nợ công
chính G7 ngày 11/10/2012, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy Geithner đã cam
kết rằng chính phủ nước này sẽ dốc sức giúp Quốc hội đạt được một thỏa thuận
nhằm tránh để khả năng xấu nhất xảy ra. Theo báo cáo sơ bộ của Phòng Ngân
sách Quốc hội Mỹ (CBO) ngày 5/10/2012 cho biết, thâm hụt ngân sách liên
bang Mỹ trong tài khóa 2012 đã giảm trong năm thứ tư liên tiếp, mặc dù vẫn ở
cao hơn mức 1.000 tỷ USD.
Ngày 12/10/2012, Tổng Giám đốc IMF Christine Lagarde một lần nữa
nhắc lại lời kêu gọi Mỹ hợp tác để thực hiện ngay gói cải cách quản lý quỹ này.
Bà Christine Lagarde cho rằng kế hoạch cải cách 2010 cho thấy “sự thay đổi
quản lý lớn nhất” trong lịch sử IMF, với 6% quyền bỏ phiếu được chuyển sang
các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển. Đây là điều hoàn toàn phù
hợp bởi trong thời gian vừa qua, các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát
triển đã thể hiện được sức mạnh và sự ưu việt của mình trong cách đối phó với
8
khủng hoảng nợ công và suy thoái kinh tế thế giới.
2.2. NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG
TRƯỞNG KINH Tế
Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa kinh tế và đạt được những bước
phát triển vượt bậc. Chỉ trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp
3 lần, từ 32,7 tỷ USD năm 2001 lên 102 tỷ USD nam 2010. Trong giai đoạn này,
Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy mô nền kinh tế của Việt
Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nền kinh tế phụ thuộc nhiều
vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu. Do đó,
việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng và nợ công nói chung là một nhu cầu tất
yếu vì Việt Nam cần sự hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ và viện trợ phát
triển chính thức) từ các tổ chức đơn phương, đa phương trên thế giới để phát
triển nền kinh tế.
2.2.1. Quy mô nợ công
2012
2013
2014
Tỷ lệ nợ công trên tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) (%)
56,3
54,9
50,8
54,5
58,0
Tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP của
quốc gia (%)
42,2
41,5
37,4
37,3
46,4
Số dư của chính phủ đối với các
khoản thu của ngân sách nhà nước
(%)
157,9
162,0
172,0
184,4
211,5
Nghĩa vụ nợ của chính phủ đối với
các khoản thu của ngân sách nhà
nước (%)
17,6
15,6
14,6
12,6
13,8
tiếp tục tăng gần 68% vào năm 2020 và cao hơn nhiều so với các quốc gia khác
trong khu vực ASEAN. Đáng chú ý, tỷ lệ này có xu hướng giảm hoặc khá ổn
định ở các nước khác từ năm 2006, trong khi ở Việt Nam nó đã tăng mạnh, đặc
biệt là trong giai đoạn từ năm 2009 đến nay. Mặc dù tỷ lệ nợ công của Việt Nam
vẫn dưới ngưỡng 90% theo tính toán của Reinhart C.M. et al (2012), ngưỡng
này được tính cho các quốc gia có thị trường tài chính phát triển cao; Đối với
các nước đang phát triển như Việt Nam, tỷ lệ tối ưu có thể ở mức thấp hơn
nhiều.
Bảng 2. Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn
2014 - 2018
Chỉ tiêu
Nợ công so với GDP (%)
Nợ nước ngoài của quốc gia so với
GDP(%)
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung, dài
hạn của quốc gia so với tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
(%)
Dư nợ Chính phủ so với GDP (%)
Dư nợ Chính phủ so với thu ngân
sách (%)
Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ so với
thu NSNN(%)
2014
2015
2016
6,1
46,4
49,2
52,7
51,7
211,5
206,8
215,0
201,0
13,8
14,9
20,5
18,3
52,1
11
dù có thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Đến cuối năm 2015, tổng nợ công
của Việt Nam là 125 tỷ USD, tương đương 61% GDP, bình quân mỗi người dân
gánh số nợ công là 1.384 USD, tương đương 30 triệu, ngang với Trung Quốc,
Philippines và Malaysia. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016 - 2018, tốc độ tăng của
nợ công của Việt Nam đã giảm xuống bình quân còn 8,6%/năm, riêng năm 2018
chỉ còn ở mức 6%.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, nếu như trong giai đoạn 2014 - 2015, tốc
độ tăng của nợ công của Việt Nam ở mức bình quân là 18,1%/năm thì giai đoạn
2016 - 2018 đã kéo xuống bình quân còn 8,6%/năm, riêng năm 2018 chỉ còn ở
mức 6%. Trong khi đó, về trần nợ công, tỷ lệ nợ công giảm từ mức cuối năm
2016 là 63,7% GDP xuống còn 61,4% GDP cuối năm 2017. Đến cuối 2018, dư
nợ công của năm 2018 ở mức dưới 61% GDP.
2.2.2. Cơ cấu nợ công
Theo Luật quản lý nợ công thì nợ công bao gồm nợ của Chính phủ, nợ
được Chính phủ bảo lãnh và vay nợ của chính quyền địa phương. Trong cơ cấu
nợ công thì nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là nợ được Chính
phủ bảo lãnh (Hình 3). Quy mô nợ của chính quyền địa phương nhìn chung
chiếm tỷ trọng còn khá thấp (1% GDP).
12
Hình 3. Cơ cấu dư nợ công năm 2017 (%) (Nguồn: Bộ Tài chính)
Như vậy, so với nhiều nước đang phát triển thì tỷ lệ nợ công và
nợ Chính phủ của Việt Nam cũng thuộc nhóm tương đối cao (Hình 4). Các hệ số
an toàn về nợ công của Việt Nam tuy vẫn còn trong giới hạn nhưng đã tiệm cận
ở mức cao, đó còn chưa tính đến yếu tố hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn
vay cũng đang là một vấn đề đặt ra hiện nay. Ngoài ra, khi Việt Nam không còn
là nước thu nhập thấp thì điều kiện vay nợ nước ngoài sẽ khó khăn hơn với chi
phí cao hơn. Quy mô của các khoản vay ưu đãi giảm dần.
63:37 của thời kỳ 2006-2010. Chi thường xuyên tăng lên và cao hơn mức tăng
thu chủ yếu là do tăng chi để thực hiện các chính sách mới về an sinh xã hội, chi
lương và phụ cấp và chi trả lãi các khoản vay. Chi đầu tư từ NSNN, mặc dù
giảm tỷ trọng trong tổng chi tiêu của Chính phủ, nhưng vẫn duy trì ở mức cao so
với khu vực và thế giới. Nếu so với tổng đầu tư toàn xã hội, chi đầu tư từ NSNN
chiếm 29,1% trong giai đoạn 2011-2015, tăng nhẹ so với mức 28,4% của thời kỳ
2006-2010, cho thấy đầu tư của Nhà nước vào hạ tầng công cộng vẫn tiếp tục
được duy trì trong thời gian qua, chủ yếu do cơ sở hạ tầng của Việt Nam hiện
đang còn ở mức thấp, chưa phát triển.
Cân đối cán cân thương mại luôn trong tình trạng nhập siêu và ít có dấu
hiệu cải thiện. Trong mười năm 2001-2010, tổng giá trị hàng hóa nhập siêu gần
81,7 tỷ USD, bằng 20,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Trị giá nhập siêu
hàng hóa năm 2010 ước tính gần 12,4 tỷ USD, gấp trên 10,7 lần mức nhập siêu
hàng hóa năm 2000. Tính ra, trong những năm 2001-2010, tốc độ tăng nhập siêu
bình quân mỗi năm gần 26,8%. Do bội chi ngân sách kéo dài, nợ công tiếp tục
tăng lên trong năm 2016, tiến sát đến hạn mức quy định là 65% GDP. Bội chi
NSNN thực hiện năm 2017 ước khoảng 174,3 nghìn tỷ đồng, bằng 3,48% GDP,
14
thấp hơn dự toán là 3,5% GDP. Bội chi ngân sách bình quân trong giai đoạn
2011 - 2016 là 5,8% so với 2,2% GDP giai đoạn 2006 - 2010. Dữ liệu cho thấy
ngân sách vẫn gặp áp lực năm 2016 với mức bội chi ước bằng khoảng 6,5%
GDP.
Bất cân đối ngân sách tăng lên chủ yếu do suy giảm cơ cấu về tỷ lệ thu
ngân sách trên GDP, giảm từ 27% GDP năm 2011 xuống khoảng 23% GDP năm
2016. Trong khi đó, tỷ lệ chi ngân sách trên GDP được duy trì tương đối ổn
định, bình quân bằng khoảng 29% GDP trong 05 năm qua. Theo các báo cáo của
Chính phủ, tổng nợ công của Việt Nam (gồm nợ Chính phủ, nợ được khu vực
công bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã lên đến 63,7% GDP trong
tăng tiêu dùng làm tăng tổng cầu và thu nhập quốc dân trong ngắn hạn nhưng
dẫn đến khối lượng tư bản ít hơn (do đầu tư giảm) và thu nhập quốc dân thấp
hơn trong dài hạn.
Quan điểm Barro-Ricardo lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù
đắp bằng nợ chính phủ không kích thích chi tiêu ngay cả trong ngắn hạn vì
không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà nó chỉ làm dịch
chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai. Các cá nhân dự tính rằng, hiện giờ chính
phủ giảm thuế và phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt, thì đến một thời điểm
trong tương lai chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in tiền để trả nợ
(mà hậu quả là lạm phát tăng tốc); do đó, người ta tiết kiệm hiện tại để có tiền
đóng thuế trong tương lai hoặc mua hàng hóa và dịch vụ sẽ lên giá.
Hai quan điểm nói trên tuy khác nhau nhưng cùng xuất phát từ hành vi của
người tiêu dùng và do vậy khi áp dụng cần nghiên cứu hành vi của người tiêu
dùng.
2.3.2. Về hiệu suất của tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng
kinh tế
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài
hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng
trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:
Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng
cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút.
Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân:
thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái
phiếu chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư
đã chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế
đầu tư.
Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là
một tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ
trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm
méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.
trọng đến khía cạnh giải ngân cho các khoản vay, bán cho được trái phiếu, thu
tiền về đã được xem là thành công. Còn theo nhiều đánh giá, các khoản đầu tư
của Nhà nước vẫn bị coi là dàn trải, chậm tiến độ, thất thoát, lãng phí lớn vốn
nhà nước nhưng hiệu quả đầu tư thu được thấp và những “căn bệnh” kinh niên
của các dự án đầu tư công không hề giảm mà vẫn có chiều hướng tăng nhanh.
Một trong những lý do trên là do công tác buông lỏng quản lý và giám sát đầu
tư. Việc chấp hành chế độ báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và các chủ đầu
tư chưa thực sự nghiêm túc, có hiện tượng buông lỏng trong thực hiện công tác
giám sát, đánh giá đầu tư. Số tiền thất thoát từ nợ công sẽ lan tỏa vào xã hội
dưới dạng đầu tư chứng khoán, bất động sản, mua sắm, du lịch… Sự “năng
động” của thị trường do những đồng vốn vay chưa trả thất thoát này tạo ra đang
làm mờ đi sự phát triển thực sự từ vốn tự có, từ nội lực kinh tế. Mức tiêu dùng
mạnh mẽ tại các thành phố lớn ngày càng hấp dẫn và tạo ra động lực mạnh mẽ
thúc đẩy không chỉ Chính phủ, mà các tỉnh, các doanh nghiệp quốc doanh liên
tục vay nợ, tạo dựng các dự án, đề án dù chưa biết lỗ lãi ra sao. Có thể đó cũng
là một trong các nguyên nhân làm cho tốc độ nợ công tăng lên nhanh chóng
trong thời gian gần đây.
Từ năm 2003, Việt Nam đã hết thời gian ân hạn 10 năm, bắt đầu phải trả
cả gốc lẫn lãi. Lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ
17
1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9% trong năm 2009 và năm 2010 đạt tới
2,1%/năm. Bên cạnh đó, từ năm 2010, Việt Nam đã bước ra khỏi danh sách các
nước nghèo kém phát triển và trở thành nước có mức thu nhập trung bình thấp,
điều đó cũng có nghĩa là các khoản vay hiện nay của Chính phủ sẽ tương đương
với các khoản vay thương mại mà gần như không có thêm ưu đãi. Do đó, bên
cạnh việc trả nợ thì Việt Nam sẽ phải thận trọng và tính toán kỹ càng cho các
khoản vay mới và ngay khi vay đã phải chuẩn bị trả nợ đúng hạn.
Nợ, thâm hụt ngân sách, lạm phát và dự trữ ngoại tệ luôn có mối liên hệ
- Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế
là một tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu
nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm
méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.
18
Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công
cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng
crowding out, đó là đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên.
- Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái
phiếu chính phủ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính
phủ giảm, thể hiện qua việc chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy
động được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tế
cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân,
khiến họ giảm đầu tư. Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm của người
tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi suất trong nước tăng
tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào
trong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu ròng. Tóm lại,
phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có
những tác động phụ làm giảm tổng cầu.
- Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài
sản thì khi chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất,
người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn.
Tổng cầu nhận được tác động tích cực từ việc tăng chi tiêu chính phủ nhờ phát
hành công trái và tăng tiêu dùng nói trên. Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tới tăng
lượng cầu tiền. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu cực tới tốc
độ tăng trưởng thực tế (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát).
Hôm nay chúng ta đang sống trong tâm bão lạm phát, bạn cảm thấy điều này
hơn ai hết.
thích tăng trưởng kinh tế hiện tại, nhưng sẽ dẫn đến sự suy giảm trong dài hạn.
Các nhà kinh tế đã chứng minh, nợ công gia tăng sẽ làm tăng lãi suất dài
hạn của nền kinh tế và sự bất ổn trong chính sách tiền tệ. Sự gia tăng trong tỷ lệ
nợ/GDP vượt ngưỡng 82 - 90% sẽ làm cho tiết kiệm của khu vực tư nhân không
tồn tại. Tỷ lệ nợ/GDP vượt ngưỡng 45 - 68% sẽ làm cho đầu tư công bị cắt giảm
và nếu vượt trên mức 100% thì năng suất của nền kinh tế suy giảm trầm trọng.
Vấn đề nợ công của Việt Nam rõ ràng đang gây ra hàng loạt các mối lo
ngại từ quy mô, đến tính an toàn và khả năng tài trợ nợ công.
Khả năng tăng trưởng kinh tế có thể sẽ bị giảm xuống nếu các biện pháp
can thiệp quá nhanh và quá mạnh, có thể làm vô hiệu những chính sách kinh tế
vĩ mô.
Rõ ràng, nợ công ở Việt Nam đang tăng nhanh trong khi thâm hụt ngân
sách vẫn thường diễn ra, đầu tư không ngừng mở rộng kéo theo lạm phát và lãi
suất tăng cao khiến cho việc tài trợ nợ công ngày càng trở nên đắt đỏ và tạo áp
lực tín dụng dài hạn.
Nếu Chính phủ phải in thêm tiền để mua trái phiếu sẽ có thể khiến lãi suất
các loại trái phiếu dài hạn tăng cao thay vì hạ thấp đi và tất nhiên, tiếp tục gây áp
lực lạm phát. Nếu Chính phủ đột ngột thắt chặt ngân sách thì sẽ là một sai lầm
bởi nền kinh tế vẫn ở trạng thái yếu mặc dù tốc độ tăng trưởng hiện nay không
phải là thấp. Việc vội vã thắt chặt ngân sách và tăng thuế đã đẩy nền kinh tế
Nhật Bản vào suy thoái trở lại là kinh nghiệm đáng để Việt Nam học tập trong
công tác điều hành, quản lý vĩ mô.
Bởi vậy, thay vì tìm cách cắt giảm mạnh thâm hụt ngân sách, Chính phủ
cần cam kết và thực hiện hiệu quả việc kiểm soát chặt chẽ phần chi tiêu công.
Thêm vào đó, bên cạnh việc trả nợ thì Việt Nam cũng phải thận trọng và tính
toán kỹ càng hơn cho các khoản vay mới và cần phải lường trước khả năng trả
được nợ đúng hạn ngay khi vay. Bởi vì, bất cứ một dự án nào sử dụng tiền vay
thì cũng có thời hạn trả. Do đó, bên cạnh việc triển khai dự án cho xong thì còn
phải theo dõi dòng tiền thu về có đủ trả nợ như cam kết hay không, hoặc tiền
vay có được sử dụng đúng mục đích ban đầu, tiến độ trả nợ có đúng lộ trình và
liên hệ với GDP, thu ngân sách nhà nước, tổng kim ngạch xuất khẩu, cán cân
thương mại, dự trữ ngoại hối, dự trữ tài chính, quỹ tích lũy để trả nợ...
Ba là, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay về cho vay lại và các khoản vay
được Chính phủ bảo lãnh. Chính phủ vay về cho vay lại và bảo lãnh vay là các
hoạt động thường phát sinh khi doanh nghiệp cần huy động một lượng vốn lớn
trên thị trường vốn quốc tế, nhưng không đủ uy tín để tự mình đứng ra vay nợ.
Khi đó, Chính phủ có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận được với các nguồn vốn
quốc tế với quy mô lớn, lãi suất thấp. Các khoản vay và bảo lãnh này thực chất
là nghĩa vụ ngân sách dự phòng, làm nảy sinh nguy cơ ngân sách nhà nước phải
trang trải các khoản nợ của khu vực doanh nghiệp trong tương lai, khi doanh
nghiệp gặp khó khăn hoặc mất khả năng thanh toán. Nguy cơ này sẽ càng cao
hơn nữa khi Chính phủ vay và phát hành bảo lãnh không dựa trên những phân
tích thận trọng về mức độ rủi ro cũng như năng lực trả nợ của doanh nghiệp. Do
đó, việc vay về cho vay lại và bảo lãnh vay cần hết sức thận trọng, chỉ nên ưu
tiên cho các chương trình, dự án trọng điểm của Nhà nước hoặc thuộc các lĩnh
vực ưu tiên cao của quốc gia. Kiểm soát chặt chẽ các khoản vay nợ nước ngoài
được Chính phủ bảo lãnh và việc cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay nợ
trong nước; khuyến khích phát triển mô hình hợp tác công - tư (PPP).
Bốn là, nâng cao hiệu quả và tăng cường kiểm soát việc sử dụng vốn vay,
vốn được Chính phủ bảo lãnh. Đây là vấn đề cốt yếu bảo đảm cho khả năng trả
nợ và tính bền vững của nợ công. Chính phủ là người đứng ra vay nợ, nhưng
21
không phải là người sử dụng cuối cùng các khoản vốn vay, mà là các chủ dự án,
các đơn vị thụ hưởng ngân sách, các doanh nghiệp...; trong mọi trường hợp,
ngân sách nhà nước phải gánh chịu hậu quả, rủi ro trong toàn bộ quá trình vay
nợ. Để bảo đảm hiệu quả trong việc vay vốn và sử dụng vốn vay cần phải tuân
thủ 2 nguyên tắc cơ bản là: không vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn, vay thương
mại nước ngoài chỉ sử dụng cho các chương trình, dự án có khả năng thu hồi
kinh tế mọi quốc gia. Bài toán về nợ công vốn phức tạp và hiệu ứng của nó vẫn
luôn khó lường, chính vì vậy mỗi quốc gia cần đánh giá đúng quy mô năng lực
của mình để có thể hấp thụ được một luồng vốn tín dụng ứng, để từ đó chủ động
nhận thức, kiểm soát, quản lý, vay – sử dụng nợ một cách hợp lý cả trong ngắn
22
hạn và dài hạn, đảm bảo khả năng thanh toán và xử lý các vấn đề phát sinh từ nợ
công một cách hiệu quả, giảm thiểu các tác động tiêu cực, giữ vững sự ổ định và
phát triển nền kinh tế./.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ugo Panizzab and Andrea F. Presbitero (2012), “Public Debt and
Economic Growth in Advanced Economies”
2. Nguyễn Thị Liên Hương, 2019. Nợ công Việt Nam giai đoạn 2014 - 2018
và giải pháp cho năm 2019. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia 2019
3. Benedict Bingham (IMF, 2010), “Vietnam Fiscal Strategy and Public
Debt”.
4. Bộ Tài chính (2018), các bản tin nợ nước ngoài.
5. Dương Thị Bình Minh và Sử Đình Thành (2009), “Phương pháp tiếp
cận đánh giá hiệu quả quản lý nợ công”, Tạp chí Kinh tế phát triển số
tháng 9/2009.
6. Lê Thị Mận, Mai Bình Dương, 2017. “Chính sách tài khóa với tăng
trưởng kinh tế Việt Nam”, Thị trường tài chính tiền tệ, Số 1+2/2017.
7. Tổng cục Thống kê, www.gso.gov.vn
Trang web:
1. />2. />3. />%9Fng_kinh_t%E1%BA%BF