HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM THEO CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG (1960-1975) - Pdf 61

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------

ĐỖ THỊ HIÊN

HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA MẶT TRẬN DÂN
TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM THEO
CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG (1960-1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------

ĐỖ THỊ HIÊN

HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA MẶT TRẬN DÂN
TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM THEO
CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG (1960-1975)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Quang Hiển



MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................. 5
6. Những đóng góp của luận văn ...................................................................... 5
7. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 6
Chƣơng 1. HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC
GIẢIPHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM TỪ THÁNG 12-1960 ĐẾN
THÁNG 5-1969 ................................................................................................ 7
1.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng ............................................... 7
1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử ........................................................................................................ 7
1.1.2. Chủ trương của Đảng và chính sách đối ngoại của Mặt trận ................................... 11
Chủ trương của Đảng .......................................................................................................... 11

1.2. Hoạt động đối ngoại của Mặt trận ............................................................ 20
1.2.1. Tuyên truyền, vận động nhân dân thế giới ủng hộ cách mạng miền Nam Việt Nam . 20
1.2.2. Đấu tranh ngoại giao trực diện với Mỹ trên bàn đàm phán Pari.............................. 39

Chƣơng 2. MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT
NAMDUY TRÌ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI TỪ THÁNG 6-1969 ĐẾN
THÁNG 4-1975............................................................................................... 44
2.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng .............................................. 44
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử ...................................................................................................... 44
Tình hình trong nước ........................................................................................................... 46
2.1.2. Chủ trương của Đảng và chính sách của Mặt trận ................................................... 47
Chủ trương của Đảng .......................................................................................................... 47


3. KHXH:

Khoa học Xã hội

4. Nxb:

Nhà xuất bản

5. Sđd:

Sách đã dẫn

6. Tp:

Thành phố

7. Tr:

Trang


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, liên tiếp chống giặc
ngoại xâm để giành và giữ nền độc lập, tự do là đặc trưng nổi bật của dân tộc Việt
Nam. Đoàn kết chống xâm lăng đó là truyền thống vẻ vang của những người dân
đất Việt. Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời khối đại đoàn kết dân tộc
càng được xây dựng và củng cố vững chắc hơn trong việc thành lập các mặt trận
đoàn kết toàn dân chống kẻ thù. Sức mạnh dân tộc tập hợp trong Mặt trận Việt
Minh đã đưa tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong hai cuộc

song song với cuộc đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị ở miền Nam Việt Nam.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố chính sách đối
ngoại “hòa bình và trung lập”. Chính sách này xuyên suốt quá trình quan hệ đối
ngoại giữa Mặt trận với nhân dân thế giới. Từ đó, Mặt trận không chỉ tranh thủ nhận
được sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng miền Nam; mà còn góp
phần làm trọn nghĩa vụ quốc tế. Chính bởi vậy, uy tín của Mặt trận ngày càng được
nâng cao và khẳng định trên trường quốc tế.
Sự ra đời và hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam là một đặc điểm của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đây là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Vì thế tôi chọn đề tài: “Hoạt động đối
ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam theo chủ trương của
Đảng (1960-1975)” để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đã có một số công trình viết về Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam với nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Cuốn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong sự nghiệp
cách mạng Việt Nam, TS. Nguyễn Duy Hùng (Chủ biên), (NXB Chính trị Quốc gia,
HN, 2010). Nội dung cuốn sách là sự tập hợp, chọn lọc các bài nghiên cứu, các văn
kiện tiêu biểu về vị trí, vai trò và những đóng góp quan trọng của Mặt trận Dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại
của dân tộc.
Cuốn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960-1977), Hà
Minh Hồng, Trần Nam Tiến, (NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, HCM,
2010). Cuốn sách phân tích và khẳng định tính tất yếu sự ra đời của Mặt trận Dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhằm đoàn kết tập hợp các lực lượng, tầng lớp
yêu nước ở miền Nam, tiếp tục thực hiện chuyển thế chiến lược cho cách mạng
miền Nam. Ngọn cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã phất cao trên các chiến trường
2


tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh yêu nước chống đế quốc
Mỹ và tay sai ở miền Nam nước ta hiện nay, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 69
(tháng 12-1964); Nguyễn Hoài, Từ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
3


Nam đến Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Tạp chí
nghiên cứu lịch sử, số 153 (tháng 12-1973)…
Nhìn chung, những cuốn sách, bài viết trên với góc độ khác nhau đã đề cập
tới những vấn đề cơ bản là quá trình ra đời, hoạt động và vai trò của Mặt trận Dân
tộc Giải phóng đối với cách mạng miền Nam. Nhưng những tác phẩm đó chưa đề
cập một cách cụ thể và hệ thống về vấn đề hoạt động đối ngoại của Mặt trận theo
chủ trương của Đảng. Bởi vậy, từ góc độ lịch sử, kế thừa những công trình đã
nghiên cứu, được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của PGS.TS Vũ Quang Hiển tôi
đã đi sâu nghiên cứu vấn đề hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam theo chủ trương của Đảng (1960-1975).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ hơn hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam theo chủ trương của Đảng, từ đó bước đầu rút ra một số nhận xét và bài
học kinh nghiệm lịch sử.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày một cách có hệ thống hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam dưới chủ trương chỉ đạo của Đảng qua hai giai
đoạn: 1960 - 1969; 1969 - 1975 gắn với điều kiện lịch sử cụ thể và những kết quả
cụ thể.
- Khôi phục một cách khách quan các hoạt động đối ngoại chủ yếu của Mặt
trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của quá trình Đảng
lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

- Sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic chủ yếu nhằm trình bày
một cách có hệ thống, toàn diện các sự kiện lịch sử và thực tiễn lịch sử về vấn đề
Đảng với hoạt động đối ngoại của Mặt trận từ năm 1960 đến năm 1975.
- Ngoài ra còn có sử dụng một số phương pháp khác như tổng hợp, so sánh,
phân tích để đánh giá sự kiện và làm nổi bật vấn đề cần nghiên cứu.
6. Những đóng góp của luận văn
- Trình bày một cách có hệ thống và khách quan sự chỉ đạo của Đảng đối với
hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng
như các hoạt động đối ngoại của Mặt trận những năm 1960-1975.
- Đánh giá và rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử từ quá trình
Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam từ năm 1960 đến năm 1975.

5


- Cung cấp thêm một tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về lịch sử Đảng
và lịch sử đối ngoại Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
được chia thành 3 chương:
Chương 1: Hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam từ tháng 12- 1960 đến tháng 5-1969.
Chương 2: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam duy trì hoạt
động đối ngoại từ tháng 6-1969 đến tháng 4 - 1975.
Chương 3: Nhận xét chung và kinh nghiệm lịch sử.

6



hoạch kinh tế - xã hội dài hạn, thiết lập liên minh chính trị - kinh tế (Hội đồng tương
trợ kinh tế - SEV) và liên minh quân sự (Khối Hiệp ước phòng thủ Varsava). Phong
7


trào giải phóng dân tộc ngày càng dâng cao ở các nước Á, Phi và Mỹ latinh. Cuộc
đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ diễn ra liên tiếp ngay tại các nước tư bản
chủ nghĩa.
Trung Quốc tập trung thực hiện kế hoạch 5 năm và giải quyết những công
việc nội bộ, e ngại việc Mỹ có thể tiếp tục can thiệp vào khu vực, làm cho tình hình
căng thẳng và đe dọa an ninh của Trung Quốc. Trung Quốc tích cực giúp đỡ Việt
Nam trong công cuộc xây dựng miền Bắc, nhưng chưa thể ủng hộ đấu tranh vũ
trang ở miền Nam. Theo Trung Quốc, Hiệp định Giơnevơ đã tạo ra tiền đề chính trị
tốt hơn cho Việt Nam so với tình hình Đức và Triều Tiên, và Việt Nam đã giành
được thế chủ động. Miền Bắc có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội và thông qua đấu
tranh lâu dài để ảnh hưởng và tranh thủ miền Nam.
Cũng như Trung Quốc, Liên Xô giúp Việt Nam thực hiện các kế hoạch ba
năm 1955-1957 và 1958-1960 ở miền Bắc, nhưng không ủng hộ đấu tranh vũ trang
ở miền Nam. Khơrútsốp chủ trương “thi đua hòa bình”, hòa hoãn với Mỹ, trong lúc
Mỹ đang nhảy vào thay chân Pháp ở miền Nam Việt Nam, cùng thời điểm xảy ra
những vụ bạo động ở Ba Lan và Hunggari (1956). Đại hội XX của Đảng Cộng sản
Liên Xô (1956) nhận định: 1- Tất cả các cuộc xung đột trên thế giới đều có thể giải
quyết bằng cách thương lượng hòa bình, 2- Phong trào cách mạng trong nhiều nước
có thể tiến triển hòa bình được. Đại hội đề ra đường lối “tam hòa” (“cùng tồn tại
hòa bình”, “quá độ hòa bình”, “thi đua hòa bình”).
Trọng tâm chiến lược của Liên Xô lúc đó là châu Âu, tập trung củng cố
Đông Âu. Vì lợi ích của mình, Liên Xô coi nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là thực
hiện hòa hoãn Đông - Tây, tránh đối đầu với Mỹ, giữ nguyên trạng châu Âu và
nguyên trạng thế giới, tranh thủ vốn và kỹ thuật của Mỹ và các nước phương Tây,
tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Liên Xô lo ngại sự

Tình hình thế giới cũng có những diễn biến rất phức tạp. Bất đồng giữa một số
Đảng cộng sản và công nhân quốc tế ngày càng sâu sắc và bộc lộ công khai, nhất là
bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Sự mất đoàn kết trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa, nhất là mâu thuẫn Trung
- Xô được Mỹ lợi dụng triệt để nhằm phá hoại phong trào cách mạng thế giới, chia
rẽ, gây mất ổn định chính trị và làm suy yếu lực lượng chủ nghĩa xã hội, đồng thời
hạn chế sự giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô và Trung Quốc đối
với Việt Nam, nơi đang diễn ra cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của Mỹ. Trong
tình hình đó, Việt Nam không thể trông chờ vào sự đồng thuận trong phe xã hội chủ
nghĩa như một sự hợp sức, thống nhất hành động giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Vấn
đề lúc đó chỉ có thể là tranh thủ sự giúp đỡ của từng nước.
9


Tình hình trong nước
Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi với
chiến dịch Điện Biên Phủ và sự ký kết Hiệp đinh Giơnevơ về Đông Dương (21-71954). Ranh giới quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17, thời hạn tổng tuyển cử là hai năm.
Nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác
nhau. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ xây dựng kinh tế,
phát triển văn hóa theo hướng chủ nghĩa xã hội, củng cố và tăng cường an ninh quốc phòng, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Lẽ ra sau hai năm,
khi quân Pháp rút hết khỏi miền Nam, nhân dân Việt Nam sẽ Tổng tuyển cử thống
nhất đất nước. Nhưng Mỹ đã vào thay chân Pháp, chia cắt lâu dài nước Việt Nam,
biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt thân Mỹ, nằm trong “thế giới tự do”,
đối lập với “phe cộng sản”.
Đế quốc Mỹ trở thành đối tượng trực tiếp của cách mạng Việt Nam. Mục
tiêu trực tiếp của Mỹ trong việc can thiệp vào Việt Nam và tiến hành cuộc chiến
tranh dài ngày nhất trong lịch sử nước Mỹ là xóa bỏ một chế độ chính trị trong hệ
thống thế giới mới đang hình thành. “Chính quyền Aixenhao kiên quyết tạo dựng
miền Nam Việt Nam thành một quốc gia mà sau này sẽ là thành trì chống chủ nghĩa
cộng sản và làm cơ sở để chứng minh cho “nền dân chủ” ở châu Á” [53, tr.52-56].

trào Đồng khởi bùng nổ. Phong trào đã làm tan rã cơ cấu chính quyền cơ sở địch ở
nhiều vùng nông thôn. Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã làm lung lay tận gốc
rễ bộ máy chính quyền của chủ nghĩa thực dân mới, chuyển cách mạng miền Nam
từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, đánh dấu bước nhảy vọt về chất của
phong trào cách mạng miền Nam.
1.1.2. Chủ trương của Đảng và chính sách đối ngoại của Mặt trận
Chủ trương của Đảng
Trước tình hình đất nước tạm thời chia làm hai miền, cách mạng Việt Nam
bước vào thời kỳ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: đấu tranh để hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Lúc này Đảng khẳng định: Mũi nhọn đấu tranh chĩa vào đế quốc Mỹ, kẻ thù
chính của nhân dân thế giới, kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt Nam. Cuộc
đấu tranh cách mạng của nhân dân hai miền Nam, Bắc trong giai đoạn mới là bộ
phận của xu hướng đấu tranh cho mục tiêu thời đại, vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Trước tình hình mới trên thế giới và những biến động ở trong nước, tháng 11959, Ban Chấp Hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15, ra Nghị quyết có
ý nghĩa lịch sử đối với cách mạng miền Nam.

11


Trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 (khóa II) họp từ ngày
12 đến 22-1-1959 (đợt 1), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Ban Chấp hành Trung
ương phải có đối sách đặc biệt tế nhị, khéo léo và mềm mỏng trước mọi sức ép rất
nặng nề từ nhiều phía trên thế giới đối với Đảng ta lúc đó [37, tr.22].
Ngay sau Hội nghị 15, Ban Bí thư Trung ương Đảng gửi cho Xứ ủy Nam Bộ
bản Chỉ thị và nêu rõ: “Nam Bộ có thể và phải lập căn cứ địa cách mạng để xây
dựng và xúc tiến phong trào cách mạng… tiến tới làm nơi trung tâm hoạt động của
Mặt trận dân tộc thống nhất để nêu cao ngọn cờ giải phóng cứu nước, đánh đổ Mỹ Diệm” [37, tr.516].
Nghị quyết 15 chỉ rõ phương hướng và yêu cầu ở miền Nam: “Đảng phải đẩy

Việt Nam được triệu tập. Nghị quyết nêu rõ nội dung cơ bản của chính sách đối
ngoại là: ra sức góp phần tăng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa, tăng
cường sự đoàn kết nhất trí và củng cố tình hữu nghị không gì lay chuyển nổi giữa
nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, phát triển quan hệ hợp tác tương trợ
với các nước anh em theo những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản; kiên
quyết đấu tranh để góp phần bảo vệ và củng cố hòa bình, chống chính sách xâm
lược và gây chiến của đế quốc Mỹ; ra sức ủng hộ phong trào đấu tranh của nhân dân
các nước Á, Phi và Mỹ la tinh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc; kiên
quyết đấu tranh làm cho Hiệp nghị Giơnevơ về Đông Dương được thi hành đầy đủ
nhằm duy trì hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á; tăng cường quan hệ hữu
nghị giữa Chính phủ và nhân dân Việt Nam với Chính phủ và nhân dân các nước
yêu chuộng hòa bình.
Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: Để đảm bảo cuộc đấu tranh cách mạng ở
miền Nam giành được toàn thắng, “nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam
là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây
chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ,
thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập
dân tộc, các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình,
thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo
vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới... Để bảo đảm cho cuộc đấu tranh cách
mạng ở miền Nam giành được toàn thắng, đồng bào ta ở miền Nam cần ra sức xây
dựng khối công nông binh liên hợp và thực hiện một mặt trận dân tộc thống nhất
rộng rãi chống Mỹ - Diệm lấy liên minh công nông làm cơ sở. Mặt trận này phải
đoàn kết các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, dân tộc đa số, các dân tộc thiểu số,
các đảng phái yêu nước và các tôn giáo, và tất cả những người có khuynh hướng
chống Mỹ - Diệm. Mục tiêu phấn đấu của mặt trận này là hòa bình, độc lập dân tộc,
13


tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình thống nhất Tổ quốc. Công tác mặt trận


14


Khi Hoa Kỳ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, chuyển sang chiến lược chiến
tranh cục bộ, tình hình đất nước có những thay đổi mới. Ban chấp hành Trung ương
Đảng họp hội nghị lần thứ 11 (3/1965), lần thứ 12 (12/1965) ra nghị quyết với
nhiệm vụ ngoại giao hai miền thời kỳ này là: “tranh thủ đến cao độ sự đồng tình và
ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc Á, Phi, Mỹ La tinh và của
nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ” [43, tr.640].
Mở màn cho cục diện “đánh và đàm” cũng như cho mặt trận đấu tranh ngoại
giao là Nghị quyết Trung ương lần thứ 13 (23-26 tháng giêng năm 1967). Đây là
nghị quyết về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự
nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Nghị quyết khẳng định:
“Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng
địch, thế của ta là thế mạnh… Trước mắt, chúng ta cần tập trung vào khẩu hiệu đòi
Mỹ phải chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động
chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa [43,tr. 174-176].
Những thắng lợi mới của nhân dân ta ở trên cả hai miền đất nước đã tạo ra
những khả năng mới để đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao. Tình thế đã đến lúc cho
phép ta mở mặt trận đấu tranh ngoại giao để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của
nhân dân thế giới và nhân dân tiến bộ Mỹ, cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ. Từ ngày 23
đến ngày 26-1-1967, BCH TƯ Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 13, chủ trương đẩy
mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ,
cứu nước của nhân dân ta.
Hội nghị chủ trương: “Để thực hiện quyết tâm chiến lược của ta, trên cơ sở
tiếp tục phát huy những thắng lợi đã giành được, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh đấu
tranh quân sự và chính trị ở miền Nam. Đi đôi với đấu tranh quân sự và chính trị ở
miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt trận đấu
tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa”. Hội nghị đã vạch rõ vị trí của đấu tranh

16 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III nhấn mạnh: “Trên thế mạnh, thế thắng
về quân sự, chính trị, ta đang chủ động tiến công địch trên mặt trận ngoại giao, buộc
địch phải chịu vừa đánh vừa đàm, bị động ngồi lại nói chuyện với miền Bắc, rồi phải
nói chuyện với cả Mặt trận dân tộc giải phóng trong Hội nghị Bốn bên ở Pari. Trong
đấu tranh ngoại giao, cần phối hợp tiến công quân sự và chính trị” [8, tr.522]
Chính sách đối ngoại của Mặt trận
Trước hoàn cảnh lịch sử mới trên thế giới và tình hình trong nước, đặc biệt là
thắng lợi của phong trào Đồng Khởi, theo chủ trương của Đảng, ngày 20-12-1960,
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã ra đời.
Trước tình hình trong và ngoài nước, cuối năm 1960, Xứ ủy Nam Bộ họp
bàn việc xúc tiến việc thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất [77, tr.39]. Trên cơ sở
16


chủ trương và chỉ đạo của Trung ương, đồng chí Nguyễn Văn Linh - Bí thứ Xứ ủy
Nam Bộ nhất trí đề nghị lấy tên Mặt trận là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam”. Về mục tiêu của Mặt trận, Xứ ủy nhất trí nêu mục tiêu hòa bình, thống
nhất, độc lập dân chủ, cơm no, áo ấm cho nhân dân, nhưng sáng tạo thêm vấn đề
hòa bình, trung lập cho phù hợp với xu hướng hòa bình trung lập trên thế giới lúc
ấy, đáp ứng yêu cầu của một số người trong các tầng lớp trung gian, trí thức, tư sản,
nhân sĩ yêu nước, cũng như có thể làm cho một số nước ở Đông Nam Á không quá
bức xúc.
Tối ngày 19-12-1960, tại Suối Chò, xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây
Ninh, đại biểu các giai cấp, các đảng phái, các tôn giáo, các dân tộc toàn miền Nam
họp Hội nghị để giải quyết nhiều công việc về thành lập Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam. Hội nghị kéo dài từ 20 giờ đến 1 giờ sáng ngày 20-121960 thì kết thúc với lời tuyên bố long trọng: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam Việt Nam đã được thành lập.
Ngay sau khi ra đời, Mặt trận đã nhanh chóng trở thành một thực thể chính
trị, đại diện cho nguyện vọng của nhân dân cả nước, đặc biệt là nhân dân miền Nam
Việt Nam. Cùng với thắng lợi trong cuộc đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận và

giải phóng miền Nam nhất định thành công”[4, tr.14].
Bản tuyên bố đề cao vai trò của nhân dân thế giới đối với cách mạng miền
Nam Việt Nam. Tuy nhiên để nhận sự được ủng hộ đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng
cần ra sức thực hiện những nhiệm vụ quốc tế: “Chống chiến tranh xâm lược và tất
cả các hình thức nô dịch của đế quốc. Ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc của nhân dân các nước; Chống tuyên truyền chiến tranh. Đòi tổng giải trừ quân
bị, cấm vũ khí hạt nhân, sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình;
Ủng hộ phong trào đấu tranh hòa bình, dân chủ và tiến bô xã hội trên thế giới. Tích
cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và tiến bộ trên thế giới” [134, tr.12]. Đây là điểm thứ 10 trong Chương trình 10 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam. Bằng điểm này và bằng mọi hoạt động của mình, Mặt
trận đã hòa vào thế giới như là một bộ phận khăng khít, sau trở thành một bộ phận
đi đầu trong phong trào dân tộc giải phóng, hòa bình dân chủ và tiến bộ xã hội.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời với Cương lĩnh 10 điểm đã
giúp nhân dân thế giới hiểu được nguyện vọng của nhân dân Việt Nam từ Nam chí
Bắc là: “độc lập và thống nhất”. Mỹ có chấm dứt xâm lược thì mới có độc lập và
có độc lập thì mới thống nhất đất nước được. Để tranh thủ dư luận rộng rãi của nhân
dân thế giới và làm rõ thêm nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, Cương lĩnh Mặt
trận nhấn mạnh đến chủ trương ngoại giao hòa bình, độc lập, trung lập và tiến tới
hòa bình thống nhất Tổ quốc. Từ đó, ở nhiều nước trên thế giới bắt đầu biết đến lá
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status