BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THANH
TRA, KIỂM TRA NỘI BỘ CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Mã Số: V2014 -10
Chủ nhiệm đề tài: ThS. NGUYỄN CHÍ BÍNH
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
1. Thành viên tham gia nghiên cứu
- ThS. Nguyễn Thị Hạnh
- ThS. Đỗ Văn Ngát
- ThS. Lê Thị Thu Hà
- ThS. Vũ Thị Thịnh
2. Đơn vị phối hợp
- Trung tâm Tư vấn pháp luật
-
Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng
2.4.1 Cơ cấu tổ chức ....................................................................................... 22
2.4.2 Về chức năng Phòng Thanh tra - Pháp chế ............................................. 23
2.4.3 Về nhiệm vụ của Phòng Thanh tra - Pháp chế ........................................ 24
2.5 Thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các lĩnh vực công tác
của Viện Đại học Mở Hà Nội. .......................................................................... 26
2.5.1 Khái quát một số lĩnh vực ...................................................................... 26
2.5.2 Quy trình tiến hành thanh tra một vụ việc tại Viện Đại học Mở Hà Nội........ 45
2.6 Đánh giá hoạt động thanh tra, kiểm tra .................................................... 45
2.6.1 Kết quả đạt được.................................................................................... 45
2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân ........................................................................ 46
2.7 Một số kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ở Viện Đại học
Mở Hà Nội ........................................................................................................ 46
Kết luận chương 2 ............................................................................................ 47
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THANH
TRA, KIỂM TRA NỘI BỘ CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI ..................... 48
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp ............................................................. 48
3.1.1. Nguyên tắc tính kế thừa ........................................................................ 48
3.1.2. Nguyên tắc tính toàn diện ..................................................................... 48
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và hiệu quả ..................................... 49
3.2. Các giải pháp ............................................................................................. 49
3.2.1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức trong đội ngũ cán bộ, giáo viên về
công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ .................................................................. 49
3.2.2. Giải pháp 2: Chỉ đạo, hướng dẫn hệ thống hóa, cụ thể hóa các văn bản chỉ
đạo, hướng dẫn hoạt động thanh tra, kiểm tra phù hợp với điều kiện thực tế nhà
trường ............................................................................................................. 51
3.2.3. Giải pháp 3: Đầu tư công tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ làm công tác thanh tra ........................ 52
3.2.4. Giải pháp 4: Kế hoạch hóa công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ............. 55
: Kinh tế - xã hội
TT-KT
: Thanh tra, kiểm tra
PGS
: Phó Giáo sư
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Mô hình tổ chức công tác thanh tra ở một số trường đại học tại Việt Nam
.............................................................................................................................. 17
Bảng 2.1 Quy mô đào tạo của Viện Đại học Mở Hà Nội đến năm 2013 ................. 35
Bảng 2.2 Quy mô tuyển sinh của Viện Đại học Mở Hà Nội đến năm 2013 ............ 36
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người
bạn của dưới theo dõi chỉ thị, chính sách, thông tư đưa xuống cho đến lúc hoàn
thành”… “sự kiểm tra việc thực hiện được đặt ra một cách đúng đắn là ngọn đèn
pha giúp cho làm sáng tỏ tinh thần hoạt động của bộ máy trong bất kỳ thời gian nào,
chín phần mười những chỗ hỏng, chỗ hở đều do thiếu sự kiểm tra. Thanh tra và
kiểm tra thường xuyên, đúng đắn, chắc chắn những chỗ hỏng, chỗ hở đều có thể
ngăn ngừa được”.
Vai trò quan trọng của thanh tra luôn được Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh
trong mọi thời kỳ, giai đoạn. Thông qua thanh tra chủ thể quản lý nắm bắt được tình
hình thực hiện nhiệm vụ được giao của các đối tượng quản lý thuộc quyền, phát
2.Tổng quan nghiên cứu
Thanh tra là một lĩnh vực khó nghiên cứu, các công trình khoa học nghiên cứu
về thanh tra và đặc biệt là về quản lý công tác thanh tra (kể cả trong và ngoài nước)
hiện nay rất hiếm hoi. Lưu trữ tại các thư viện nói chung và thư viện của các cơ sở
giáo dục chủ yếu xuất hiện những văn bản pháp quy về thanh tra giáo dục như: Luật,
Pháp lệnh, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục;
Chỉ có một số tác phẩm có liên quan đến lý luận và nghiệp vụ thanh tra giáo dục, như:
- G. I. Ôglôblina (1992), Thanh tra, kiểm tra công tác trường phổ thông.
- Lưu Xuân Mới (1993), cơ sở khoa học của thanh tra giáo dục. Trường Cán bộ
quản lý GD&ĐT, Hà Nội
- Bộ GD&ĐT (1999), Hệ thống giáo dục và thanh tra ở Pháp (Le système
éducatif et l’inspection pédagogique en France) - (Tài liệu Dự án Ficev).
- Bộ Giáo dục và đào tạo (2004), Thanh tra giáo dục: Nghiệp vụ thanh tra giáo
dục Việt Nam - Văn bản pháp (Tài liệu Dự án Ficev).
- Bộ Giáo dục và đào tạo (2004), Thanh tra giáo dục: Nghiệp vụ thanh tra giáo
dục Việt Nam - Công cụ đào tạo (Tài liệu Dự án Ficev).
- Bộ Giáo dục và đào tạo (2005), Tổng kết dự án “đào tạo cán bộ thanh tra
giáo dục Việt Nam” (Dự án Ficev).
2
- Nguyễn Phúc Châu (2003): Thanh tra, kiểm tra và đánh giá trong quản lý
giáo dục (Bài giảng cho các lớp Cao học quản lý giáo dục). Trường Cán bộ quản lý
GD&ĐT (nay là Học viện Quản lý giáo dục), Hà Nội.
- Simone Goet Schalckx, Watter Laureys (2003), thanh tra ở Châu Âu - Thanh
tra ở vùng Flanders (Vương quốc Bỉ).
- Từ Đức Văn (chủ biên), Lưu Xuân Mới, Giáo trình Thanh tra Giáo dục. Nhà
xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội, 2004.
- Quang Anh, Hà Đăng (2003), Những điều cần biết trong hoạt động thanh tra
- Rút ra những bài học kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ở
Viện Đại học Mở Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm
tra nội bộ của Viện Đại học Mở Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử trong nghiên cứu.
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp thu thập thông tin số liệu
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp logic
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp chuyên gia
5. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh tra, kiểm tra trong giáo dục
đại học.
- Các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ
của Viện Đại học Mở Hà Nội.
6. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: nghiên cứu toàn bộ hoạt động của Viện Đại học Mở Hà Nội
Phạm vi thời gian: từ khi thành lập Phòng Thanh tra (tháng 5 năm 2013)
đến nay.
4
7. Cấu trúc đề tài
Phần mở đầu
tra. Do đó hoạt động thanh tra trong những năm qua đã góp phần tích cực vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên sau 14 năm thực hiện, Pháp lệnh thanh tra đã bộc lộ những điểm
bất cập, không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Đổi
mới tổ chức và hoạt động thanh tra, hoàn thiện pháp luật thanh tra là một trong
những nội dung của cải cách nền hành chính. Đáp ứng nhu cầu đổi mới về hoạt
động thanh tra, hoàn thiện về cơ cấu, tổ chức bộ máy thanh tra đồng thời cũng nhằm
đồng bộ hóa các quy định của pháp luật về thanh tra, ngày 15 tháng 6 năm 2004
Quốc hội đã thông qua Luật thanh tra. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 10 năm 2004.
6
Để đáp ứng yêu cầu mới nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH),
ngày 15 tháng 11 năm 2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật Thanh tra, luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Điều đó chứng tỏ thanh tra xuất hiện như một tất yếu khách quan ở nhiều
nước có hình thái kinh tế xã hội khác nhau, từ chế độ phong kiến đến các nhà nước
tư sản hiện đại và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tiến hành hoạt động quản lý trên các
lĩnh vực, quy mô, chủ thể quản lý có thẩm quyền đều phải thực hiện cả ba loại công
việc sau đây:
- Đề ra chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, kế hoạch.
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện những chủ trương, chính sách và biện pháp đã đề ra.
- Thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng
quản lý thuộc quyền.
Như vậy thanh tra, kiểm tra là một khâu không thể thiếu được trong công tác
quản lý. Bàn về vai trò của hoạt động này, Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh: “Có kiểm
soát như thế mới biết rõ cán bộ, nhân dân tốt hay xấu; Mới biết rõ ưu điểm khuyết
thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở
các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm
đạt tới mục tiêu”
Trên đây là những quan niệm khác nhau về quản lý, tuy có cách tiếp cận
khác nhau nhưng chúng tôi nhận thấy khái niệm quản lý bao hàm một ý nghĩa
chung là:
- Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc
qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.
- Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá
nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
- Quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm
người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một Nhà nước.
- Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý, thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt
được những mục tiêu đã định.
8
Như vậy, khái niệm quản lý có thể được hiểu: Quản lý là một quá trình tác
động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục
tiêu chung. Bản chất của quản lý là một loại hình lao động phong phú, phức tạp thì
hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng.
Để đạt được mục tiêu đã định, quản lý phải thông qua các chức năng quản lý.
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một hoạt động cơ bản mà thông qua đó chủ thể quản lý
tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu xác định. Chức năng
quản lý chiếm giữ vị trí then chốt, nó gắn liền với nội dung của hoạt động điều hành
ở mọi cấp. Quản lý có 4 chức năng là:
quyền hành của một chủ thể nhất định.
Thời phong kiến, khái niệm thanh tra chưa được sử dụng, nhưng có các chức
quan làm công việc giống như thanh tra, đó là: thời Lý có chức quan Gián nghị đại
phu (tả, hữu); thời Trần có cơ quan gọi là “Ngự sử đài” với chức năng gần giống
như cơ quan Thanh tra nhà nước hiện nay và có chức quan Ngự sử đứng đầu là Ngự
sử đài; thời Lê có hàm Gián nghị đại phu phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói
thẳng, nói đúng sự thật; thời Lê Thánh Tông (1460 -1497) đặt ra chức Giám sát ngự
sử để xem xét công việc; nhà Nguyễn (thời Gia Long 1802-1819) có lục Bộ: Bộ
Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công, ngoài lục Bộ có Đô sát viện để giữ
việc can gián Vua và dàn hạch các quan với các chức Cấp sự trung các khoa và
giám sát ngự sử các đạo, trong viện có tả hữu đô ngự sử và tả hữu phó đô ngự sử
đứng đầu (Việt nam sử lược tr 172 Trần Trọng Kim).
Sau khi giành độc lập (2/9/1945), nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời,
ngày 24/11/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban thanh
tra đặc biệt, thuật ngữ “thanh tra” xuất hiện, quyền thanh tra được xác định và chính
thức giao cho Chính phủ.
Hiến pháp 1946 chưa sử dụng thuật ngữ “thanh tra”, hoạt động thanh tra,
kiểm tra, chưa được giao cho một cơ quan chuyên trách nào, quyền kiểm soát đối
với Chính phủ được giao cho Ban thường vụ của Quốc hội.
Hiến pháp 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các
quyết định quản lý nhà nước.
10
Hiến pháp 1980 sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng
của cơ quan quản lý nhà nước.
Hiến pháp 1992: Khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn tại các
điều 112, 116 và 124; khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức
và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra
bất kỳ cá nhân nào trong xã hội trong bất cứ một hoạt động, là xem xét những diễn
biến có đúng với quy tắc đã xác lập, các tiêu chuẩn và các mệnh lệnh về quản lý đã
ban hành ra hay không.
Kiểm tra vốn là chức năng của người quản lý, không phân biệt họ làm việc ở
cấp bậc nào trong bộ máy quản lý nói chung và trong bộ máy quản lý nhà nước nói
riêng. Ở các cấp bậc khác nhau thì quy mô và yêu cầu kiểm tra có khác nhau. Trong
quản lý hành chính nhà nước, kiểm tra có mục tiêu: đó là tìm kiếm động cơ, nguyên
nhân cán bộ làm tốt (hay không làm tốt) nhiệm vụ được giao. Như vậy, kiểm tra là
một hoạt động thường xuyên.
1.2.2.3. So sánh giữa thanh tra và kiểm tra
- Sự giống nhau của thanh tra và kiểm tra.
Thanh tra, kiểm tra (TT-KT) giống nhau ở tính mục đích. Thông qua kiểm
tra, thanh tra nhằm phát huy những nhân tố tích cực, phát hiện hoặc phòng ngừa vi
phạm, góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản lý nhà
nước.
Thanh tra, kiểm tra đều phát hiện, phân tích đánh giá thực tiễn một cách
chính xác, khách quan trung thực làm rõ đúng, sai, nguyên nhân dẫn đến sai phạm,
từ đó đề xuất biện pháp khắc phục và xử lý sai phạm.
- Sự khác nhau của thanh tra và kiểm tra
Nội dung thanh tra thường đa dạng phức tạp hơn nội dung kiểm tra.
Chủ thể của kiểm tra thường đa dạng hơn thanh tra, vì nội dung kiểm tra đa dạng
và hoạt động thường xuyên, rộng khắp nên chủ thể của kiểm tra rất rộng và đa dạng.
Trong công tác quản lý, mọi cơ quan, đơn vị đều là chủ thể của kiểm tra.
Hoạt động thanh tra có yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn lựa chọn thanh tra viên
(phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu về kinh tế - xã hội, có khả năng chuyên môn sâu
vào lĩnh vực mà thanh tra hướng đến).
12
13
* Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra GD&ĐT góp phần tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa. Thực chất thanh tra, kiểm tra GD& ĐT chính là việc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiến hành kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật về GD&ĐT của các cơ
quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT. Hoạt
động thanh tra, kiểm tra sẽ giúp các đối tượng được thanh tra, kiểm tra nhận thức một
cách đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, nhận thức được vai trò quan trọng của chính
sách phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, từ đó sẽ hình thành ý thức tuân thủ quy
định của pháp luật nói chung và những quy định của pháp luật về GD&ĐT nói riêng.
* Thứ hai, thanh tra, kiểm tra GD&ĐT góp phần nâng cao hiệu lực quản lý
nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền. Không chỉ về phía các tổ chức và cá nhân
có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT mà ngay cả về phía cơ
quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực GD&ĐT cũng cần phải có sự chấp hành pháp
luật một cách triệt để. Công tác thanh tra, kiểm tra giúp các cơ quan chức năng nhận
thức đúng và làm tròn vai trò, trách nhiệm được giao. Các cơ quan quản lý nhà nước
trong lĩnh vực GD&ĐT được đề cập ở đây bao gồm tất cả các cơ quan có thẩm
quyền quản lý về GD&ĐT nói chung và các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm
tra GD&ĐT nói riêng.
* Thứ ba, thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nâng cao năng lực quản lý cho người đứng
đầu các cơ sở GD&ĐT. Để một cơ sở GD&ĐT hoạt động có hiệu quả thì yếu tố mang
tính quyết định chính là công tác lãnh đạo của Hiệu trưởng. Khi diễn ra hoạt động thanh
tra, kiểm tra toàn diện một cơ sở GD&ĐT thì công tác lãnh đạo của Hiệu trưởng là một
nội dung thanh tra, kiểm tra quan trọng. Theo đó, Hiệu trưởng có trách nhiệm giải trình
về hoạt động của mình trước cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra. Những sai lầm,
thiếu sót, nếu có, sẽ kịp thời được phát hiện và có biện pháp xử lý phù hợp. Ngược lại,
những ưu điểm, những mặt tích cực sẽ kịp thời được biểu dương và phát huy một cách
có hiệu quả. Như vậy, thanh tra, kiểm tra giúp Hiệu trưởng nhận rõ ưu, khuyết điểm của
nhà trường cũng như của bản thân trong công tác quản lý, góp phần thực hiện tốt các yêu
- Luật Khiếu nại 2011
- Luật Tố cáo 2011
- Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra;
15
- Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật khiếu nại; Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 01/10/2012
của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật tố cáo;
- Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ
quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục;
- Thông tư số 51/2012/TT-BGD ĐT ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra của cơ sở giáo dục
đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp;
- Thông tư số 40/2013/TT-BGD ĐT ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo quy định về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố
cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Thông tư số 04/2013/TT-TTCP ngày 29 tháng 7 năm 2013 của Thanh tra
chính phủ quy định thẩm quyền, nội dung thanh tra trách nhiệm thực hiện pháp luật
về khiếu nại;
- Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30 tháng 9 năm 2013 của Thanh tra
chính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo;
- Thông tư số 03/2013/TT-TTCP ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Thanh tra
chính phủ quy định chế độ báo cáo công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và phòng chống tham nhũng.
1.4.3 Tổ chức và hoạt động thanh tra của cơ sở giáo dục đại học
Thanh tra việc thực hiện pháp luật, chính sách về giáo dục đại học;
2
ĐH Kinh tế QD
P.Thanh tra – Pháp chế
09
3
ĐH Bách khoa HN
TT Đảm bảo CL
14
4
ĐH Thủy lợi
P.Tổ chức Hành chính
08
5
ĐH Ngoại thương
P.Tổ chức Hành chính
P.Thanh tra
05
10
ĐH Hàng hải
P.Thanh tra
03
Ghi chú
Nguồn: Website các trường nêu trên
Từ bảng 1.1 cho thấy:
- Đa số các trường thực hiện nghiêm túc Thông tư 51/2012 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, do đó đã thành lập riêng phòng thanh tra.
- Mộ số trường ghép phòng thanh tra với một số bộ phận khác như pháp
chế, đảm bảo chất lượng hoặc công tác sinh viên nhưng vẫn phải có từ “thanh tra”
- Một số trường để chức năng thanh tra nằm trong phòng, trung tâm khác
như Tổ chức hành chính, đảm bảo chất lượng, như vậy là chưa nghiêm túc thực hiện
quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
17
Kết luận chương 1
Chương 1 đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về thanh tra, kiểm tra
trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Nghiên cứu tổng quan các