CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ DỰ TRỮ HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 62

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ DỰ TRỮ HÀNG HOÁ TRONG DOANH
NGHIỆP .
1.1. Vai trò của quản trị dự trữ hàng hoá trong doanh nghiệp .
1.1.1. Mục đích của quản trị dự trữ hàng hoá trong doanh
nghiệp .
 Khái niệm về dự trữ hàng hoá :
Hàng hoá là một sản phẩm được sản xuất ra , trước hết nó phải có công
dụng thoả mãn
một nhu cầu nào đó của xã hội ( sản xuất hoặc tiêu dùng ) và nó phải
được bán ra cho người khác chứ không phải tự tiêu dùng . Như vậy , hàng hoá
của doanh nghiệp này cũng có thể vật tư đầu vào của một doanh nghiệp khác .
Sản phẩm hàng hoá dự trữ trong doanh nghiệp có thể là vật tư đầu vào
phục vụ cho sản xuất , và có thể là sản phẩm hàng hoá từ khi sản xuất đến khi
được đem tiêu dùng ( sử dụng ).
Dự trữ hàng hoá là trạng thái sản phẩm hàng hoá chưa được sử dụng
( tiêu dùng) theo công dụng, mục đích của nó. Là sản phẩm hàng hoá, nó luôn
luôn phải tuân theo một quá trình vận động từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
Đó chính là quá trình trao đổi hàng hoá, lưu thông hàng hoá. Sản xuất ra hàng
hoá là để tiêu dùng, chỉ khi bước vào tiêu dùng sản phẩm trở lại thành sản
phẩm đích thực. Dự trữ hàng hoá chính là sự tồn tại của sản phẩm dưới dạng
hàng hoá, là sự ngưng đọng của sản phẩm hàng hoá, đó là trạng thái sản
phẩm hàng hoá đang trong quá trình vận động từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh
vực tiêu dùng sản xuất hoặc tiêu dùng cá nhân.
 Khái niệm về quản trị dự trữ hàng hoá :
Quản trị dự trữ theo cách tiếp cận quá trình: Gồm các hoạt động quản
trị liên quan đến
việc hoạch định, tổ chức, kiểm soát hàng hoá dự trữ trong doanh nghiệp
nhằm đạt được các mục tiêu xác định.
Quản trị dự trữ theo cách tiếp cận nội dung: Quản trị hàng hoá được
tiến hành trên ba phương diện chính là quản trị dự trữ hàng hoá về mặt hiện
vật, quản trị dự trữ hàng hoá về mặt giá trị và quản trị kinh tế dự trữ hàng

Như vậy, quản trị dự trữ hàng hoá trong doanh nghiệp phải thực hiện
đúng một số các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Xây dựng định mức dự trữ hàng hoá tối ưu cho doanh
nghiệp. Chúng ta cần đảm bảo được nguyên tắc này do:
Định mức dự trữ hàng hoá là sự quy định đại lượng tối thiểu phảI có theo
kế hoạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục và đều đặn.
Qua kháI niệm trên cho thấy hàng hoá không đủ mức cần thiết nó sẽ làm
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nguy cơ bị gián đoạn
và ngược lại nếu dự trữ vượt mức cần thiết sẽ dẫn đến ứ đọng hàng hoá, ứ
đọng vốn gây ra lãng phí cho doanh nghiệp, bởi vậy để có đủ hàng hoá cho
hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh tình trạng dự trữ quá ít hoặc quá nhiều
cần phảI tiến hành định mức dự trữ hàng hoá.
Khi tiến hành định mức dự trữ hàng hoá, cần phảI tuân theo các quy tắc
sau:
Qui tắc 1: Phải xác định đại lượng dự trữ tối thiểu, tối đa và bình quân
nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được duy
trì bình thường trong mọi tình huống.
Qui tắc 2: Phải xác định đại lượng dự trữ trên cơ sở tính toán tất cả các
nhân tố ảnh hưởng trong kỳ kế hoạch liên quan đến khả năng cung ứng và khả
năng thực tế tiêu dùng của kỳ báo cáo cũng như quan tâm tới hệ thống giao
thông mạng lưới thương mại, tình hình thị trường và khả năng cạnh tranh.
Qui tắc 3: Phải tiến hành định mức dự trữ từ cụ thể đến tổng hợp để tính
toán một cách đầy đủ các điều kiện cung ứng với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Nguyên tắc 2: Thực hiện đúng các nguyên tắc, nhiệm vụ, nội dung của các
nghiệp vụ nhập, xuất hàng hoá ở kho và nhiệm vụ, nội dung của nghiệp vụ bảo
quản hàng hoá ở kho.
Nguyên tắc 3: Xây dựng và thực hiện đầy đủ chế độ sổ sách của kho, đặc
biệt là thẻ kho. Hạch toán cập nhập, kịp thời nghiệp vụ nhập, xuất hàng hoá

nhà quản trị cấp trung gian.
Nhóm C : Chiếm 50% đến 60% về số lượng dự trữ , nhưng chỉ thực hiện
từ 5% đến 10% giá trị dự trữ nên ảnh hưởng ít đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Do đó những mặt hàng này được giao theo dõi cho các nhà
quản trị cấp cơ sở.
- Phân loại hàng hoá căn cứ theo công dụng và tính chất lí hoá của sản
phẩm hàng hoá.
 Đảm bảo hệ thống kho tàng phù hợp với việc bảo quản và
bảo vệ hàng hoá:
Hàng hoá trong kho thuộc nhiều loại, có tính chất lí – hoá khác nhau và
yêu cầu bảo
quản khác nhau. Ví dụ :
Hàng nông sản cần tránh mưa nắng, ẩm, cần được bảo vệ trước sự phá
hoại của sâu
bọ, côn trùng, chuột,…..Vì vậy kho phảI thông thoáng, cao ráo, tránh được
mưa, nắng, có phương tiện phòng chống sinh vật phá hoại.
Các hàng hoá có giá trị cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Các loại hàng hoá dễ cháy cần phải được bảo quản trong các kho có khả
năng chống cháy và có thiết bị, phương tiện phòng, chữa cháy.
Các hàng hoá dễ lây mùi phảI được bảo quản riêng….
 Phương pháp và phương tiện chất xếp hàng trong kho khoa học:
Phương pháp, phương tiện chất xếp khoa học vừa đảm bảo không hư
hỏng hàng hoá,
vừa đảm bảo dễ dàng, thuận tiện trong việc xuất hàng. Cần có sơ đồ sắp
xếp hàng trong kho một cách hợp lý.
 Thực hiện chế độ theo dõi hàng trong kho về mặt hiện vật:
Để theo dõi lượng hàng hoá dự trữ có thể tiến hành kiểm kê hàng bằng
cách áp dụng
một trong hai phương pháp kiểm kê:
Phương pháp 1: Ngừng toàn bộ hoạt động sản xuất, hoạt động bán hàng

là phương pháp rất khó thực hiện trên thực tế bởi vì không phải lúc nào cũng
có thể phân định chính xác hàng hoá dự trữ nào được mua với giá nào.
 Phương pháp tính theo giá mua bình quân gia quyền:
Đây là phương pháp tương đối dễ thực hiện nên thường được áp dụng
trong thực tế, bởi
vì dựa vào sổ sách nhập kho người ta dễ dàng tính được giá mua bình
quân gia quyền và giá trị hàng hoá dự trữ sẽ bằng lượng hàng hoá dự trữ
nhân với giá bình quân gia quyền ( vì vậy đại lượng giá trị này chỉ là số gần
đúng). Giá bình quân gia quyền có thể tính bằng công thức sau:
Giá bình quân gia truyền =


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status