1
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
1
CAEO
2
CEPCO
3
CNOC
4
EFTA
5
FINE
Hiệp hội thương mại công bằng
châu Âu
Tổ chức liên kết 4 thành viên
IFAT, FLO, NEWS và EFTA
Tổ chức dán nhãn thương mại
công bằng thế giới
Tổ chức thành viên của FLO,
2
CERT
Trade certification
The National Federation of
Colombian Coffee Growers
Fair Trade USA, or Transfair
USA
The Green Mountain Coffee
Roasters
International Coffee
Organisation
The International Fair Trade
Association
The Network of European
World Shops
Non-governmental Organisation
chịu trách nhiệm về nhãn hiệu
thương mại công bằng
14
NGO
15
UCEPCO
The Oaxaca State Credit Union
of Coffee Producers
16
USDA
The United States Department
of Agriculture
Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ
17
WFTO
World Fair Trade Organisation
Tổ chức thương mại công bằng
thế giới
Liên quan đến các sản phẩm thương mại công bằng, cà phê là hàng hóa đầu
tiên được chứng nhận và kinh doanh theo nhãn hiệu thương mại công bằng. Ba thập
kỉ áp dụng thương mại công bằng đã có những cải thiện đáng kể ở nhiều cộng đồng
sản xuất cà phê. Peru, Colombia, Nicaragua, Mexico, Honduras và Guatemala là 6
thị trường chính trong thị trường cà phê thương mại công bằng, chiếm tới 70%
lượng xuất khẩu trong năm 2009/10.
Ở Việt Nam, các đơn vị sản xuất cà phê phải đối mặt với nhiều thách thức,
bao gồm biến động giá cả, mất cân bằng quyền lực và vị trí thấp trong chuỗi giá trị
toàn cầu. thương mại công bằng được coi là câu trả lời toàn diện cho vấn đề của
4
ngành cà phê Việt Nam. Tuy nhiên, việc áp dụng thương mại công bằng trong
ngành cà phê Việt Nam vẫn còn hạn chế cả về quy mô lẫn hiệu quả. Vì vậy, người
viết đã lựa chọn đề tài: “Thương mại công bằng đối với ngành cà phê – Kinh
nghiệm của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam” nhằm tìm ra các giải pháp
cho sự phát triển của Cà phê Thương mại công bằng tại Việt Nam thông qua các
phân tích kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới.
2. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận này nhằm mục đích chỉ ra những bài học dẫn đến thành công trong
phong trào cà phê thương mại công bằng ở Mexco, Colombia và Guatemala. Từ đó,
khóa luận tìm kiếm một số gợi ý để Việt Nam phát triển ngành cà phê thương mại
công bằng, tạo sự phát triển bền vững của cộng đồng cà phê Việt Nam và rộng ra là
toàn xã hội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận này phân tích kinh nghiệm trong việc phát triển phong trào cà phê
thương mại công bằng ở 3 quốc gia là Mexico, Colombia, Guatemala và thực trạng
phong trào cà phê thương mại công bằng tại Việt Nam. Khái niệm thương mại công
bằng và ứng dụng của nó trong ngành cà phê từ khi thành lập vào năm 1940 cũng
nghiệp. Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Bùi Thị Lý vì
những hướng dẫn tận tình, quý báu cũng như sự giúp đỡ của cô trong suốt quá trình
thực hiện viết khóa luận này.
6
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG VÀ VIỆC ÁP
DỤNG THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG ĐỐI VỚI NGÀNH CÀ PHÊ
1.1. Giới thiệu chung về khái niệm Thương mại công bằng
1.1.1. Bối cảnh ra đời của Thương mại công bằng
Trong một vài thập kỉ trở lại đây, thương mại quốc tế đã góp phần đáng kể
trong việc chia sẻ sự thịnh vượng của các quốc gia thuộc thế giới thứ nhất với các
quốc gia thuộc thế giới thứ ba. Tuy nhiên, cùng lúc đó, thương mại quốc tế cũng gạt
nhiều quốc gia khác ở châu Phi cận Sahara, châu Á và châu Mỹ Latinh vào vòng
xoay đói nghèo. Mặt khác, quá trình chuyển hướng từ sản xuất nông nghiệp phục
vụ tiêu dùng sang sản xuất nông nghiệp phục vụ xuất khẩu trong chính sách
thương mại quốc tế của các quốc gia này đã khiến quan hệ cung – cầu nông sản
trên thế giới diễn biến bất ổn, kéo theo mức giá bấp bênh khiến mọi rủi ro đều trút
lên vai những người sản xuất nhỏ. Sự phân chia lợi nhuận không công bằng giữa
người sản xuất với người trung gian trong thương mại quốc tế truyền thống đã
khiến những người sản xuất nghèo khó tại các nước này về cơ bản chỉ có thể duy trì
mức thu nhập ở mức vừa đủ sống và chỉ cần một vụ thất bát họ sẽ trắng tay. Thêm
vào đó, tự do hóa thương mại và sự phân phối lợi nhuận không công bằng giữa
người sản xuất và trung gian đã tạo nên một nghịch lý quốc tế, được gọi là “nghịch
lý cà phê” - Sự bùng nổ về nhu cầu của người tiêu dùng với hàng nông sản (mà
điển hình là cà phê) tại các nước phát triển ở Bắc bán cầu diễn ra cùng lúc với sự
khủng hoảng trầm trọng trong sản xuất nông nghiệp tại các nước đang phát triển ở
Nam bán cầu.
Trong bối cảnh đó, thương mại công bằng đã ra đời như một ý tưởng nhằm
người sản xuất nhỏ, người mà tốn nhiều công sức để tạo ra hàng hóa nhưng chỉ
nhận được một phần nhỏ lợi ích, bằng cách tối thiểu hóa các khâu trung gian mua
bán, thiết lập mức giá công bằng, đảm bảo cho người sản xuất nhỏ không những có
thể đạt được mức sống căn bản mà còn có cơ hội tiếp tục phát triển sản xuất một
cách công bằng.
1.2. Những nguyên tắc của thương mại công bằng
Thương mại công bằng được cụ thể hóa bằng các nguyên tắc sau:
−
Mức giá tối thiểu:
Mức giá tối thiểu thỏa thuận thường được thiết lập cao hơn giá tối thiểu của
thị trường. Mức giá thương mại công bằng tính tới cả điều kiện kinh tế địa phương
nên đảm bảo được mức thu nhập cho người sản xuất. Với nền sản xuất có quy mô
8
nhỏ, FLO tính toán mức giá sàn thương mại công bằng, mức giá mà đủ để trang trải
chi phí sản xuất, dự phòng cho các thành viên trong gia đình và cải thiện điều kiện
sản xuất. Ngoài ra, giá thương mại công bằng trả không chỉ bao gồm chi phí sản
xuất mà còn bao gồm khoản tiền thưởng, tiền phúc lợi để phát triển cộng đồng và
bảo vệ môi trường.
−
Tập trung và hỗ trợ phát triển công nghệ
Việc tập trung hỗ trợ phát triển công nghệ thông qua việc trả cho người sản
xuất một mức tiền thưởng (thường là 10% hoặc hơn 10% chi phí sản xuất hàng
hóa). Mức thưởng này được trả cho người sản xuất để họ có thể tiếp cận và thực
−
Đáp ứng điều kiện tín dụng khi có yêu cầu
9
Do các nhà nhập khẩu thường có điều kiện tiếp cận tín dụng dễ hơn các nhà
sản xuất ở các nước đang phát triển nên các nhà nhập khẩu được yêu cầu cung cấp
khoản tín dụng lên tới 60% tổng giá trị hàng hóa cho người sản xuất. Điều này có
nghĩa là người sản xuất nhỏ sẽ được nhận tiền hàng trước khi xuất khẩu hàng. Đây
là một nguồn tài chính rất quan trọng với những nhà sản xuất nhỏ.
−
Cung cấp thông tin thị trường cho người sản xuất
Các tổ chức thương mại công bằng cung cấp thông tin về giá cả và biến động
thị trường thường xuyên cho nguời sản xuất. Điều này cực kì hữu ích trong việc
đàm phán khi những người sản xuất bán hàng cho người mua không thuộc hệ thống
thương mại công bằng.
−
Nông dân và công nhân được hoạt động có tổ chức và dân chủ
Những người nông dân sản xuất với quy mô nhỏ phải thuộc một nhóm sản
xuất nào đó mà được tổ chức một cách dân chủ và theo nguyên tắc mỗi nông dân
đều có quyền dân chủ như nhau trong hệ thống.
1.3. Chứng nhận Thương mại công bằng
Sự phát triển của hệ thống chứng nhận đã kích thích sự phát triển của thương
mại công bằng. Trong giai đoạn đầu của phong trào thương mại công bằng, hệ
chuẩn hợp đồng sản xuất và tiêu chuẩn thương mại
−
Tiêu chuẩn cho các tổ chức sản xuất nhỏ
Đây là bộ tiêu chuẩn đầu tiên được áp dụng cho các tổ chức sản xuất nhỏ ở
các khu vực thu nhập thấp và trung bình (bao gồm gần như tất cả các nước Châu
Phi, Châu Mỹ La Tinh, Caribbean, Châu Đại Dương và các nước nghèo nhất ở
Châu Á) . Tiêu chuẩn đưa ra các yêu cầu trong các lĩnh vực sau:
+
Yêu cầu chung: Ít nhất một nửa số thành viên của tổ chức có quy mô sản
xuất nhỏ và những thành viên này phải tạo ra ít nhất một nửa số sản phẩm
thương mại công bằng của tổ chức.
+
Thương mại: Sản phẩm của thành viên FLO tạo ra phải có sự khác biệt so
với sản phẩm của những nhà sản xuất không phải thành viên. Các sản phẩm,
kể cả hàng tồn kho trong vòng 1 năm trước khi chứng nhận thương mại công
bằng phải được đánh dấu rõ ràng, sử dụng mã nhận dạng Thương mại công
bằng quốc tế (Fair Trade International). Phải giữ hồ sơ của mọi giao dịch dù
lớn hay nhỏ.
+
Sản xuất: Các tiêu chí này đưa ra nhằm mục đích đảm bảo quản lý hiệu quả
các hoạt động sản xuất, phát triển môi trường (bao gồm quản lý dịch hại,
giảm thiểu phát thải và chất thải, giảm sử dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, quản lý chất thải một cách hợp lý, loại bỏ các chất độc hại, sinh vật và
cầu bắt buộc.
+
Phát triển xã hội: Mục đích của các tiêu chí này là đảm bảo rằng tiền thưởng
thương mại công bằng và việc nâng cao năng lực sẽ mang lại lợi ích cho
những người hưởng lợi trực tiếp từ thương mại công bằng bao gồm công
nhân, gia đình họ và cộng đồng. Thứ nhất, Uỷ ban Thương mại công bằng sẽ
được thành lập một cách dân chủ với đa số thành viên là công nhân, chịu
trách nhiệm quản lý và phân bổ tiền thưởng thương mại công bằng cho tất cả
công nhân. Thứ hai, các công ty phải mở một tài khoản ngân hàng đặc biệt
mang tên “Tài khoản tiền thưởng thương mại công bằng” dưới sự đồng ý
của Ủy ban Thương mại Công bằng và Ban giám đốc. Thứ ba, các công ty
phải tập trung vào các khoá đào tạo nhằm nâng cao nhận thức của lao động
về thương mại công bằng, sự bình đẳng giới và những kỹ năng, kiến thức
12
cần thiết khác. Cuối cùng, toàn bộ con em các công nhân ở đây phải được hỗ
trợ để tiếp cận với giáo dục, tối thiểu là hết cấp tiểu học.
+
Điều kiện lao động và phát triển môi trường: Các tiêu chí này tương tự như
tiêu chuẩn sản xuất trong bộ tiêu chuẩn cho các tổ chức sản xuất nhỏ.
+
Thương mại: Các tiêu chuẩn này tương tự như tiêu chuẩn thương mại trong
bộ tiêu chuẩn cho các tổ chức sản xuất nhỏ.
thanh toán và điều kiện giao hàng.
+
Kinh doanh và phát triển: Các tiêu chí này nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác
thương mại bền vững giữa các nhà sản xuất và người mua. Việc người mua
hỗ trợ cho người sản xuất được đánh giá rất cao. Đặc biệt, người mua có thể
phải trả tiền trước lên đến 60% giá trị hợp đồng nếu nhà sản xuất yêu cầu
nhằm tài trợ cho sản xuất. Liên quan đến giá thương mại công bằng và tiền
13
thưởng thương mại công bằng, các yêu cầu tương tự như trong bộ tiêu chuẩn
cho hợp đồng sản xuất.
Tóm lại, FLO đã đưa ra các yêu cầu chi tiết trong thương mại, kinh doanh, xã
hội và phát triển môi trường. Các tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả người tham gia
chứng nhận thương mại công bằng, bao gồm tổ chức sản xuất nhỏ, các nhà sản xuất
chưa có cơ cấu tổ chức hoàn thiện , các tổ chức trung gian, các công ty sản xuất và
thương nhân.
Trong khi đó, FTUSA chia các tiêu chuẩn của nó thành 5 loại chính: tiêu
chuẩn cho may mặc và hàng gia dụng (kết hợp các tiêu chuẩn cho các tổ chức sản
xuất nhỏ và tiêu chuẩn sử dụng lao động của FLO); tiêu chuẩn cho người lao động
nông trại (tương tự tiêu chuẩn FLO về sử dụng lao động); tiêu chuẩn cho các hộ sản
xuất nhỏ độc lập (tương tự như các tiêu chuẩn FLO về hợp đồng sản xuất); tiêu
chuẩn cho các tổ chức sản xuất nhỏ (áp dụng tiêu chuẩn FLO cho tổ chức sản xuất
nhỏ); và tiêu chuẩn thương mại (tương tự như tiêu chuẩn thương mại của FLO).
1.2.2. Thủ tục cấp chứng nhận Thương mại công bằng
Người nộp đơn xin chứng nhận thương mại công bằng có trách nhiệm liên lạc
với tổ chức chứng nhận của FLO là FLO-CERT (FLO‟s body in charge of Fair
Trao quyền cho người sản xuất:
−
Một số nghiên cứu tác động cho thấy rằng các nhà sản xuất được hưởng lợi từ
thương mại công bằng thông qua chính các hoạt động của mình. Cải thiện các kỹ
năng và kiến thức về thị trường, xuất khẩu, trồng trọt, và các vấn đề chất lượng đã
thúc đẩy sự tự tin của các nhà sản xuất, từ đó góp phần thắt chặt hơn mỗi quan hệ
với các đối tác thương mại lâu dài. Mặt khác, làm việc trong các hợp tác xã hoặc
các tổ chức thương mại công bằng đã giúp họ giành được quyền đàm phán thương
lượng.
−
Thu nhập cao hơn và ổn định hơn:
Chứng nhận thương mại công bằng đảm bảo cho nhà sản xuất mức giá sàn ít
nhất bằng giá thị trường hoặc giá thương mại công bằng tối thiểu, tùy theo mức giá
nào cao hơn. Điều này là rất quan trọng đối với những người làm việc trong thị
trường có tính biến động cao, điển hình như thị trường cà phê. Mặt khác, bằng cách
cố gắng rút ngắn chuỗi cung ứng, thương mại công bằng cho phép các nhà sản xuất
thu được nhiều hơn số tiền mà người trung gian trước đây đã trả cho sản phẩm của
họ. Hơn nữa, được tiếp cận tín dụng, kỹ năng và kiến thức cho phép các nhà sản
xuất cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm của mình, dẫn đến thu nhập tốt
hơn.
15
−
Cải thiện chất lượng sống:
người nông dân nghèo khỏi sự biến động của thị trường. Kết quả là đã làm giảm
gánh nặng đói nghèo đối với nền kinh tế và xã hội.
1.5. Thương mại công bằng trong ngành cà phê
1.5.1. Sự cần thiết của Thương mại công bằng đối với ngành cà phê
1.5.1.1.Tổng quan về ngành cà phê thế giới
Báo cáo của tổ chức thương mại công bằng năm 2016 cho thấy cà phê là mặt
hàng thương mại nông nghiệp phổ biến nhất trên thế giới với 6,2 trong tổng số 7,9
triệu tấn sản phẩm được xuất khẩu trong năm 2015. Cuộc sống của khoảng 125
triệu người trên toàn thế giới phụ thuộc vào giá cà phê tuy nhiên mức giá này lại lại
dao động do sự biến động của thị trường và điều kiện thời tiết. Về tình hình cà sản
16
xuất cà phê thế của thế giới, hiện cà phê đã được trồng ở hơn 70 quốc gia. Trong
đó, 4 quốc gia hàng đầu là Brazil, Việt Nam, Colombia và Inđônêxia chiếm 65%
sản lượng cà phê thế giới. Brazil đứng đầu với số lượng 27 triệu tấn cà phê được
sản xuất mỗi năm trong giai đoạn 2007-2016, tiếp theo là Việt Nam (12,3 triệu tấn),
Colombia, Indonesia bằng nhau khoảng 5,6 triệu tấn. Đây cũng là 4 quốc gia xuất
khẩu cà phê lớn nhất chiếm 63% xuất khẩu của thế giới.
Biểu đồ 1.1: Biểu đồ sản lượng cà phê của môt số quốc gia trên thế giới 20072016
Nguồn: Tổ chức cà phê thế giới ICO, 20171
Biểu đồ 1.2: Tỉ trọng xuất khẩu cà phê của môt số quốc gia thế giới năm 2016
Nguồn: Tổ chức cà phê thế giới ICO, 20172
Cà phê chủ yếu sản xuất ở Thế giới Thứ ba sau đó được xuất khẩu phần lớn
sang các nước phát triển. Trong tất cả các nhà nhập khẩu cà phê lớn, Mỹ đã dẫn đầu
với mức trung bình 1,27 triệu tấn/năm trong giai đoạn 2006-2010. Đức và Nhật Bản
là nhà nhập khẩu lớn thứ hai và thứ ba với số lượng nhập khẩu hàng năm tương ứng
là 546.000 và 431.000 tấn.
Trong thị trường cà phê quốc tế, cà phê được xếp loại thường xuyên và phân
2200 – 3000 mm
18 – 36oC
Nhỏ hơn và tròn
1 Người viết tự tổng hợp số liệu thống kê từ website của Tổ chức cà phê thế giới ICO, truy cập
(Truy cập ngày 15/04/2017)
2 Người viết tự tổng hợp số liệu thống kê từ website của Tổ chức cà phê thế giới ICO, truy cập
(Truy cập ngày 15/04/2017
17
Màu sắc
Sáng hơn
Tối hơn
Nguồn: Tổ chức thương mại công bằng Fairtrade International, 20123
Trong khi đó, cách phân loại cà phê của Tổ chức Cà Phê Quốc tế ICO
(International Coffee Organisation) dựa trên nguồn gốc và phương pháp chuẩn bị
-Colombian Mild Arabicas : cà phê Arabica đã được chế biến ướt từ Colombia,
Kenya, Papua New Guinea, Tanzania và Zimbabwe.
-Other mild Arabicas: Cà phê Arabica chế biến ướt chủ yếu từ Trung và Nam
-
Mỹ.
Brazil Naturals: Cà phê Arabica sấy khô, chủ yếu từ Brazil và Ethiopia.
Robustas: Tất cả cà phê từ loài Coffea Canephora.
Bảng 1.2: Tổng sản lượng và giá trị cà phê thế giới giai đoạn 2009–2013
2009/1
61.538
5
67.650
4
66.869
7
68.827
2,9
Colombian Milds
8.113
9.232
8.412
10.178
21,0
Other milds
Brazillian
22.067
Giá trị (triệu USD)
Tổng sản lượng
15.063
25.503
23.173
18.995
-18,0
Arabicas
11.646
18.737
17.862
13.699
-23,3
Colombian Milds
2.109
3.417
4.766
5.311
5.296
-0,3
Naturals
Robustas
3 Fairtrade International, 2012, Monitoring the scope and benefits of Fairtrade 4th edition 2012, Truy cập:
/>(Truy cập ngày 14/04/2017)
18
Nguồn: Tổ chức cà phê thế giới ICO, 20144.
Thông qua bảng có thể thấy cà phê Arabica chiếm hơn 60% tổng khối lượng
và khoảng 70% tổng giá trị trên thị trường cà phê thế giới. Trong thương mại quốc
tế, giá cà phê Arabica cao gấp 1,5 lần giá của Robusta tuy nhiên lại biến động nhiều
hơn. Thị trường cà phê thế giới đã trải qua một đợt sụt giảm mạnh kể từ năm 2011.
Giá cà phê Arabica bị ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng khi tổng giá trị giảm
xuống 20% dù có sự tăng trưởng về khối lượng. Trong khi đó, cuộc khủng hoảng
giá đã dẫn tới sự sụt giảm chỉ 0,3% trong giá trị thương mại của cà phê Robusta.
1.5.1.2. Những trở ngại lớn nhất đối với doanh nghiệp sản xuất và chế biến cà phê
Nhìn chung, phần lớn nông dân trồng cà phê trên thế giới phải đối mặt với
các khoản chi tiêu cơ bản cho gia đình. Mặc dù xu hướng giá cà phê dường như
đang tăng lên trong những năm gần đây nhưng tính chất biến động của thị trường
vẫn còn. Do đó, các nhà sản xuất cà phê cần một cơ chế để đảm bảo giá cả ổn định,
bảo vệ chúng khỏi sự biến động của thị trường.
−
Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề nóng suốt thời gian qua vì nó đã
ảnh hưởng tới hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống con người. Về sản lượng cà
phê, nhiệt độ cao hơn, mưa thất thường và hạn hán kéo dài, có ảnh hưởng nghiêm
trọng đến giai đoạn ra hoa, độ phì của đất và năng suất cây cà phê. Hơn nữa, thay
đổi khí hậu đã làm dấy lên mối lo ngại rằng một số khu vực đang chậm phát triển
hoặc không còn phù hợp để sản xuất cà phê. Việc giảm diện tích sản xuất một phần
sẽ có tác động tiêu cực gây nên biến động thị trường.
5 Fairtrade International, 2012, Monitoring the scope and benefits of Fairtrade 4th edition 2012, Truy cập:
/>(Truy cập ngày 14/04/2017)
20
Do đó, việc trồng trọt thân thiện với môi trường rất quan trọng để đảm bảo
sản xuất bền vững, mang lại nhiều lợi ích cho chính nhà sản xuất, đặc biệt là những
nhà sản xuất nhỏ.
−
Sự mất cân bằng của thị trường
Chuỗi cung ứng phức tạp với một hàng dài các trung gian đã ngăn cản các nhà
21
1989. Sản phẩm được chứng nhận thương mại công bằng đầu tiên này cũng là một
trong những mặt hàng thương mại công bằng có doanh số bán àng lớn nhất. Theo
báo cáo của Tổ chức thương mại công bằng năm 2012, 10 năm qua đã có sự phát
triển mạnh mẽ của thương mại công bằng trong ngành công nghiệp cà phê. Số
lượng các tổ chức sản xuất cà phê thương mại công bằng đã tăng gần 90%, từ 175
năm 2002 lên 329 vào năm 2011. Hơn nửa triệu nông dân ở 28 quốc gia hiện đang
tham gia vào các tổ chức sản xuất cà phê thương mại công bằng.
Tổng diện tích trồng cà phê của các tổ chức này khoảng 718.000 ha, cung cấp
hơn 100.000 tấn cà phê thương mại công bằng cho thị trường toàn cầu trong năm
2009/10. Mặc dù là mặt hàng thương mại công bằng có doanh số cao nhất nhưng
cà phê thương mại công bằng chỉ chiếm 1% lượng cà phê bán ra. Hơn 50% trong số
này được xuất khẩu bởi Peru (25%), Colombia (11%), Nicaragua (9%) và Mexico
(9%). Brazil là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu cà phê thông thường nhưng chỉ
xếp thứ 7 và chỉ chiếm 5% trong xuất khẩu cà phê thương mại công bằng. Việt
Nam là nước xuất khẩu cà phê thường lớn thứ hai trên thế giới chỉ xếp sau Brazil
nhưng không lọt được vào nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu trong thị trường cà
phê thương mại công bằng.
Mỹ, Anh, Pháp, Canada và Đức là những nước nhập khẩu cà phê thương mại
công bằng lớn nhất với tổng cộng khoảng 75% cà phê thương mại công bằng toàn
cầu. Trong đó Mỹ là nước nhập khẩu lớn nhất, chiếm 64% nhập khẩu cà phê
thương mại công bằng trong năm 2015, trong khi Anh Quốc là thị trường lớn nhất
với gần 30% doanh thu cà phê thu được từ cà phê được chứng nhận bởi thương
mại công bằng.
1.5.2.2. Điều kiện để được chứng nhận thương mại công bằng trong ngành cà phê
Để tham gia vào chứng nhận thương mại công bằng, các nhà sản xuất cà phê
phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung của thương mại công bằng như được minh họa ở
trên. Thêm vào đó, Tổ chức thương mại công bằng quốc tế cũng đã đưa ra các tiêu
Tài trợ nguồn vốn ban đầu cho những tổ chức sản xuất nhỏ
Giảm chi phí chứng nhận.
Cung cấp dịch vụ hòa giải và tư vấn trong trường hợp vỡ nợ.
Thiết lập bộ phận hỗ trợ nhà sản xuất do các chuyên gia cà phê độc lập điều
hành, có vai trò quản lý rủi ro và đưa ra các lời khuyên về kỹ thuật, hợp
-
đồng để hỗ trợ các nhà sản xuất và các nhà khai thác thương mại.
Hướng dẫn về đàm phán giá, quản lý rủi ro, chất lượng và năng suất.
Cung cấp các khóa học về quản lý rủi ro giá cà phê. Hình thức này xuất hiện
-
đầu tiền ở Kenya, Tanzania và Colombia.
Tổ chức Diễn đàn Cà Phê Châu Á Thái Bình Dương để cung cấp cho 70 nhà
sản xuất cà phê khu vực những hiểu biết, thông tin về chất lượng, giá cả,
-
quản lý hợp đồng và quảng bá, truyền thông.
Hợp tác với các tổ chức bên ngoài để có thể cung cấp một số dịch vụ cho các
thành viên của hiệp hội, bao gồm tiếp cận với tài chính, cơ hội thị trường và
xây dựng năng lực.
Cũng cần lưu ý rằng tất cả các tiêu chuẩn của FLO ngoại trừ tiêu chuẩn sử
dụng lao động đều có thể áp dụng cho ngành cà phê. Nói cách khác, các đồn điền
cà phê không thể tham gia vào chứng nhận FLO. FLO cho rằng khoảng cách rất lớn
về tình hình tài chính và kỹ thuật giữa các đồn điền cà phê và các hộ sản xuất nhỏ
Mức thu nhập ổn định và sự hỗ trợ từ các tổ chức thương mại công bằng đã
cho phép nhiều nhà sản xuất cà phê có đủ tiền để nuôi dạy con mình. Ví dụ, hàng
ngàn thành viên của hợp tác xã cà phê Cecovasa (ở Peru) và La Voz (ở Guatemala)
đã có thể đưa con đến trường, hy vọng cho con của họ có thể thoát ra khỏi các vườn
trồng cà phê, có một tương lai tốt hơn. Trong khi đó, các thành viên của Cocafelol
tại Octotepeque đã thành lập một trường học để khuyến khích sự quan tâm đến cà
phê trong thế hệ trẻ vì sự phát triển bền vững của cà phê trong cộng đồng của họ
Các nhà sản xuất cà phê cũng có thể tự tin hơn thông qua các khoá đào tạo,
diễn đàn và các chương trình hỗ trợ từ tổ chức thương mại công bằng. Ví dụ, các
thành viên của Hiệp hội Các nhà sản xuất Cà Phê An toàn Việt Nam đã nhận ra
rằng chất lượng là vấn đề cốt lõi của họ sau khi tham gia Diễn đàn Cà Phê Châu Á
Thái Bình Dương. Từ đó họ đã tập trung vào cải tiến chất lượng của cà phê để nhận
được một mức giá tốt hơn. Trong khi đó, hợp tác xã Oro Verde của Peru đã có được
sức mạnh thị trường do khả năng đa dạng hóa sản phẩm và nâng cấp chuỗi giá trị cà
phê.
1.5.3.2. Lợi ích đối với xã hội
Về mặt môi trường, các tiêu chuẩn thương mại công bằng yêu cầu thực hiện
các phương pháp canh tác thân thiện với môi trường đồng khuyến khích sản xuất cà
phê hữu cơ thông qua tiền thưởng thương mại công bằng. Hơn nữa, tiền thưởng
thương mại công bằng đã cho phép các nhà sản xuất cà phê đầu tư trồng cây để
ngăn ngừa xói mòn đất, xây đập để bảo tồn nước ... Ngoài việc ổn định cuộc sống
cho những nhà sản xuất nhỏ lẻ, thương mại công bằng cũng giúp giảm thiểu số
nông dân từ bỏ trang trại của họ, hạn chế sự suy thoái của đất. Rất khó để đánh giá
kết quả của những thực tiễn này nhưng ít ra chúng cũng có thể giúp bảo vệ môi
trường khỏi những thiệt hại do sản xuất thông thường gây ra.
6 Fairtrade International, 2012, Monitoring the scope and benefits of Fairtrade 4th edition 2012, Truy cập:
/>(Truy cập ngày 14/04/2017)