LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. Chiến lược kinh doanh và các cấp chiến lược.
1. Chiến lược kinh doanh.
1.1. Khái niệm chiến lược kinh doanh.
1.1.1. Khái niệm.
Hiện nay còn khá nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược kinh doanh,
nhưng chưa có khái niệm nào lột tả được đầy đủ bản chất của hoạt động này.
Cách tiếp cận phổ biến hiện nay xác nhận: Chiến lược kinh doanh là tổng
hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và giải pháp lớn về sản xuất kinh
doanh về tài chính và về giải quyết nhân tố con người nhằm đưa hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp phát triển lên một trạng thái mới cao hơn về
chất.
1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh.
Tuy còn có các cách tiếp cận khác nhau về phạm trù chiến lược kinh doanh
và phát triển doanh nghiệp; Song các đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh
doanh lại được quan niệm gần như đồng nhất với nhau. Ở phạm vi chiến lược
kinh doanh và phát triển doanh nghiệp, các đặc trưng đó là:
- Chiến lược phác thảo các mục tiêu và phương hướng phát triển của doanh
nghiệp trong thời kỳ dài (5 năm, 10 năm ...). Tính định hướng của chiến lược
nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi
trường kinh doanh thường xuyên biến động. Việc kết hợp mục tiêu chiến lược
với mục tiêu tình thế trong thực hành kinh doanh là yêu cầu cần thiết để bảo
đảm hiệu quả kinh doanh và khắc phục các sai lệch do tính định hướng của
chiến lược gây ra.
- Tập trung các quyết định chiến lược quan trọng về cấp lãnh đạo doanh
nghiệp. Điều đó đảm bảo tính chuẩn xác của các quyết định (về sản phẩm, về
đầu tư, về đào tạo...) và sự bí mật về thông tin và cạnh tranh trên thương
trường. Theo đó, chỉ có người chủ sở hữu của doanh nghiệp (doanh nhân, hội
đồng cổ đông ...) mới có quyền quyết định lựa chọn hoặc thay đổi các mô hình
chiến lược phát triển của doanh nghiệp.
được bên ngoài doanh nghiệp như: ấn tượng của doanh nghiệp có được đối
với công chúng, phương cách xử thế của doanh nghiệp nói chung.
Chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp phải nhằm đạt được những điều sau
đây:
- Đảm bảo sự đồng tâm nhất chí về hướng trong nội bộ doanh nghiệp.
-Tạo cơ sở để huy động các nhiệm vụ của doanh nghiệp.
- Đề ra tiêu chuẩn để phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp.
- Hình thành khung cảnh kinh doanh thuận lợi.
- Đóng vai trò tiêu điểm để mọi người đồng tình với mục đích và phương
hướng của doanh nghiệp.
-Tạo điều kiện để chuyển hoá các mục đích của tổ chức thành các mục tiêu
thích hợp của doanh nghiệp.
-Tạo điều kiện để chuyển hoá mục tiêu thành các chiến lược và biện pháp cụ
thể.
Ngoài ra chức năng nhiệm vụ còn phải:
Xác định rõ tình hình hiện tại của tổ chức và tổ chức muốn trở thành như
thế nào trong tương lai.
Phân biệt tổ chức với mọi tổ chức khác.
Là khuôn khổ để đánh giá các hoạt động hiện thời cũng như trong tương lai.
Chức năng nhiệm vụ phải giới hạn vừa đủ để loại trừ các rủi ro mạo hiểm và
đủ rộng để tạo điều kiện tăng trưởng sáng tạo, đồng thời nội dung các chức
năng nhiệm vụ phải tương đối rõ ràng để mọi người trong toàn thể tổ chức
quán triệt.
Khi đề ra chức năng nhiệm vụ phải tính đến ít nhất 5 yếu tố chính đó là:
- Lịch sử của doanh nghiệp.
- Sở thích hiện tại của ban lãnh đạo và các chủ sở hữu.
- Các kiến giải về môi trường.
- Nguồn lực hiện có.
- Các khả năng đặc biệt.
1.2.2. Những mục đích và mục tiêu cơ bản (Hay mục tiêu chiến lược).
thời gian từ một năm trở lên. Tuy nhiên vấn đề dài hạn hay ngắn hạn còn phụ
thuộc vào ngành công nghiệp và doanh nghiệp cụ thể. Do vậy cách phân chia
như trên chưa làm rõ được sự khác nhau giữa mục tiêu dài hạn và ngắn hạn.
Cần định nghĩa mục tiêu dài hạn và ngắn hạn theo một chu kỳ quyết định cụ
thể thông thường của doanh nghiệp. Chu kỳ quyết định là khoảng thời gian
cần thiết để thực hiện trọn vẹn một quyết định. Như vậy thì mục tiêu dài hạn là
mục tiêu thường dài hơn một chu kỳ quyết định, còn mục tiêu ngắn hạn là các
kết quả cụ thể mà doanh nghiệp dự định đạt được trong chu kỳ quyết định.
Thông thường một mục tiêu đúng đắn phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
+ Tính cụ thể: Mục tiêu phải chỉ rõ nó liên quan đến những vấn đề gì, giới
hạn thời gian thực hiện và kết quả thực hiện được.
+ Tính linh hoạt: Các mục tiêu đề ra cần phải đủ linh hoạt để có thể điều
chỉnh phù hợp với nguy cơ và cơ hội thường xảy ra trong điều kiện môi
trường.
+ Tính định lượng: Các mục tiêu đề ra sẽ là cơ sở cho những đánh giá sau
này vì vậy các mục tiêu càng mang tính định lượng bao nhiêu càng tốt bấy
nhiêu. tuy nhiên không phải tất cả các mục tiêu đều có thể định lượng được
một cách rõ ràng, hợp lý, có khá nhiều mục tiêu quan trọng không thể định
lượng được, đó là những mục tiêu mang tính định tính cao. Để làm tăng tính
xác đáng của mục tiêu loại này người ta thường thực hiện các giải thích rõ
ràng hơn về đặc tính của các chương trình hoặc các mục tiêu liên quan khác và
định rõ ngày hoàn thành.
+ Tính khả thi: Nội dung mục tiêu phải đặt ra thử thách đối với lãnh đạo và
công nhân viên, nhưng chúng phải sát thực và có thể đạt được.
+ Tính hợp lý: Một mục tiêu là hợp lý khi nó được các nhà lãnh đạo chịu
trách nhiệm thực hiện và các đối tượng hữu quan chủ chốt chấp nhận.
1.2.2.2. Mục tiêu chiến lược.
* Khái niệm:
Mục tiêu chiến lược là những định hướng cơ bản, những định mức và những
kết quả cần đạt được của doanh nghiệp ứng với thời kỳ dài hạn.
thực thi chiến lược ở mỗi lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp.
* Vai trò của mục tiêu chiến lược.
Trong phạm vi doanh nghiệp mục tiêu chiến lược có vai trò quan trọng ở các
mặt sau:
- Định hướng sự phát triển dài hạn của doanh nghiệp.
- Căn cứ để phân bổ các nguồn lực thực hiện các mục tiêu kinh doanh .
- Căn cứ để xác định và thực hiện các hướng chiến lược dài hạn về nghiên
cứu triển khai, đầu tư phát triển, đào tạo cán bộ, liên doanh liên kết kinh
tế ...
1.2.2.3. Các phương thức chiến lược.
Các phương thức chiến lược chính là các phương thức để thực hiện mục
tiêu chiến lược. Nội dung của phương thức chiến lược chính là câu trả lời cho
hai câu hỏi:
+ Phải làm gì để thực hiện mục tiêu chiến lược?
+ Thực hiện mục tiêu chiến lược bằng công cụ gì?
Trước hết trả lời cho câu hỏi thứ nhất, chúng ta có: sau khi xác định mục
tiêu chiến lược, người ta căn cứ vào đó để tìm ra các giải pháp chiến lược, các
chính sách, các chương trình phụ trợ nhằm vạch ra các công việc phải thực
hiện và những mục tiêu công cụ (cấp dưới mục tiêu chiến lược) phải thực hiện
để hiện thực hoá các mục tiêu chiến lược.
Thứ hai, muốn thực hiện các giải pháp chiến lược, chính sách, chương
trình... ở trên cần phải xác định nguồn lực và tiềm năng của doanh nghiệp
nhằm trả lời câu hỏi thứ hai: "Giải quyết mục tiêu bằng cách nào", tức là công
cụ để thực hiện mục tiêu trên là gì?. Nó bao hàm tất cả những nguồn lực mà
doanh nghiệp có hoặc có thể có trong tương lai cần hoặc nên phân bổ như thế
nào cho từng giải pháp, từng chương trình, chính sách theo thời gian và không
gian.
Nói tóm lại, việc xem xét nội dung chiến lược chính là xem xét mục tiêu chiến
lược và các phương thức thực hiện chiến lược.
1.3. Vai trò của chiến lược kinh doanh.
2. Các cấp chiến lược.
Nếu doanh nghiệp chỉ kinh doanh một loại sản phẩm hay dịch vụ duy nhất
thì doanh nghiệp chỉ cần một loại kế hoạch chiến lược là đủ, bao trùm các hoạt
động trong doanh nghiệp. nhưng trong thực tế nhiều doanh nghiệp kinh doanh
nhiều mặt hàng hết sức đa dạng, trong đó có không ít những mặt hàng không
liên quan với nhau. Những doanh nghiệp này thường có các chiến lược khác
nhau cho các cấp hoạt động khác nhau. Vì vậy cần phân biệt ba cấp hoạt động
chiến lược.
- Chiến lược cấp doanh nghiệp.
- Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh.
- Chiến lược cấp chức năng.
2.1. Chiến lược cấp doanh nghiệp.
Chiến lược cấp doanh nghiệp là chiến lược xác định doanh nghiệp sẽ hoạt
động trong lĩnh vực kinh doanh nào, vị trí của doanh nghiệp đối với môi
trường, và vai trò của từng ngành kinh doanh trong doanh nghiệp.
2.2. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh chiến lược.
Chiến lược cấp kinh doanh là chiến lược xác định vị trí của ngành kinh
doanh trong doanh nghiệp, vị trí của ngành trong môi trường, và xác định nên
cạnh tranh trong mỗi lĩnh vực hoạt động của nó như thế nào.
Như vậy đối với những doanh nghiệp nhỏ chuyên hoạt động trong một
ngành kinh doanh thì chiến lược cấp kinh doanh và chiến lược cấp doanh
nghiệp cơ bản là như nhau.
Nhưng khi doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành kinh doanh khác
nhau, thông thường doanh nghiệp đó được phân chia thành các đơn vị kinh
doanh chiến lược (SBU), hay gọi là đơn vị thành viên, tương đối độc lập với
nhau. Mỗi SBU đảm nhận một hay mộ số ngành kinh doanh khác nhau, tự tạo
lập ra chiến lược kinh doanh cho đơn vị mình trong sự thống nhất với chiến
lược và lợi ích của toàn doanh nghiệp.
2.3. Chiến lược cấp chức năng.
Là chiến lược xác định cần phải hỗ trợ chiến lược cấp kinh doanh như thế
nghiệp khác trong ngành và dựa vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp
mình.
1.2. Phân tích môi trường vĩ mô.
1.2.1. Yếu tố kinh tế của môi trường vĩ mô.
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp, vì các
yếu tố này tương đối rộng nên doanh nghiệp cần chọn lọc những yếu tố có ảnh
hưởng trực tiếp nhất.
- Tỷ lệ lãi suất:
Tỷ lệ lãi suất có thể ảnh hưởng đến mức cầu đối với sản phẩm của
doanh nghiệp, tỷ lệ lãi suất là rất quan trọng khi người tiêu dùng thường
xuyên vay tiền để thanh toán các khoản tiêu dùng của mình.
Tỷ lệ lãi suất còn ảnh hưởng đến chi phí về vốn do vậy nó quyết định
mức đầu tư, chi phí này là chủ yếu khi quyết định tính khả thi của chiến lược.
- Tỷ giá hối đoái:
Sự thay đổi về tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến tính cạnh tranh của
sản phẩm doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.
- Tỷ lệ lạm phát:
Tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp, các quyết định đầu
tư của doanh nghiệp. Nếu tỷ lệ lạm phát quá cao thì hoạt động đầu tư sẽ là
may rủi và như vậy các doanh nghiệp sẽ hạn chế đầu tư vào nền kinh tế, dẫn
tới suy thoái.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng lớn tới doanh nghiệp, trước hết
doanh nghiệp sẽ lựa chọn nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao và bền vững để
đầu tư thì sẽ dễ dàng có được tỷ lệ lợi nhuận cao và có được sự ổn định cần
thiết. Việc đầu tư vào một thị trường có tỷ lệ tăng trưởng quá cao (nền kinh tế
quá nóng) hay đầu tư vào một nền kinh tế đang suy thoái đều là không tốt và