ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH HỒNG QUANG
TỘI MUA BÁN NGƢỜI DƢỚI 16 TUỔI TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
(TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH HỒNG QUANG
TỘI MUA BÁN NGƢỜI DƢỚI 16 TUỔI TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
(TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM MẠNH HÙNG
Hà Nội – 2020
1.2.1. Giai đoạn trƣớc khi có BLHS năm 1985 ........................................................19
1.2.2. Quy định về tội mua bán trẻ em trong BLHS năm 1985 ................................21
1.2.3. Quy định về tội mua bán trẻ em trong BLHS năm 1999(sửa đổi, bổ sung
năm 2009) .................................................................................................................24
1.4. Quy định về tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi trong pháp luật hình sự một số
nƣớc trên thế giới ......................................................................................................33
1.4.1. BLHS nƣớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ...................................................33
1.4.2. BLHS Malaysia ...............................................................................................35
1.4.3. BLHS Liên bang Nga ......................................................................................35
1.4.4. Luật hình sự Campuchia .................................................................................37
1.4.5. Luật hình sự Thái Lan .....................................................................................38
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1..........................................................................................40
ii
Chƣơng 2. QUY ĐỊNH VỀ TỘI MUA BÁN NGƢỜI DƢỚI 16 TUỔI TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH ...............................................................41
2.1. Hình phạt đối với ngƣời phạm tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi quy định trong
BLHS Việt Nam năm 2015 .......................................................................................41
2.2. Thực tiễn xét xử tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ......50
2.2.1. Tình hình xét xử ..............................................................................................50
2.2.2. Một số hạn chế và vƣớng mắc trong hoạt động xét xử đối với tội mua bán
ngƣời dƣới 16 tuổi .....................................................................................................61
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và vƣớng mắc trong hoạt động xét
xử tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ............................66
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2..........................................................................................69
Chƣơng 3. TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Bộ luật hình sự
2
CAND
Công an nhân dân
3
TNHS
Trách nhiệm hình sự
4
TAND
Tòa án nhân dân
5
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
nghiêm trọng, nhiều trƣờng hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính xuyên quốc gia. Đặc
biệt là nạn mua bán phụ nữ và trẻ em đang là một hiện tƣợng nhức nhối ở nƣớc ta
hiện nay. Nguy hiểm hơn đã xuất hiện một số đƣờng dây đƣa ngƣời sang Trung
Quốc bán nội tạng cho các bệnh viện tƣ, dẫn đến nạn nhân bị tử vong. Vấn nạn này
không chỉ xâm hại đến quyền con ngƣời, làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức
khỏe, tinh thần, tính mạng của nạn nhân mà còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống,
thuần phong mỹ tục, ảnh hƣởng trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự của đất nƣớc.
Tội phạm của hoạt động mua bán ngƣời, mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi luôn coi
con ngƣời nhƣ một loại hàng hóa để mang ra mua bán, trao đổi. Mua bán ngƣời
đƣợc coi là ngành công nghiệp bởi luôn có sẵn nguồn cung ứng, nguy cơ bị phát
hiện và xử lý thấp, đem lại lợi nhuận cao, ở đó một nạn nhân có thể bị bóc lột trong
nhiều năm, dƣới nhiều hình thức khác nhau. Ngày nay, tình hình tội mua bán ngƣời
có xu hƣớng gia tăng về quy mô, tính chất và mức độ nghiêm trọng; đã phát hiện
nhiều vụ án mua bán ngƣời có tổ chức, đặc biệt là ở vùng giáp biên giới. Các đối
tƣợng phạm tội đã lợi dụng tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, sự nhẹ dạ cả tin,
mất cảnh giác của ngƣời dân, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi để lôi kéo, dụ dỗ,
lừa gạt đƣa trái phép ra nƣớc ngoài, ép nạn nhân hoạt động mại dâm, lao động
cƣỡng bức hoặc thực hiện các hình thức vô nhân đạo khác. Việc đƣa ngƣời trái phép
ra nƣớc ngoài xuất hiện dƣới dạng xuất khẩu lao động, du lịch… Hoạt động tội
phạm xảy ra trên địa bàn cả nƣớc, nhƣng chủ yếu vẫn là các tỉnh vùng cao, các tỉnh
có đƣờng biên giới chung với Trung Quốc, Lào, Campuchia,…
Quảng Ninh là tỉnh miền núi biên giới Đông Bắc, nằm trong vùng tam giác
kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là khu công nghiệp than lớn nhất cả
nƣớc. Quảng Ninh có 132,8 km đƣờng biên giới trên bộ và khoảng 250 km đƣờng
1
biên giới trên biển với nƣớc ngoài. Đặc biệt trên địa bàn tỉnh có các cửa khẩu kinh
tế tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và trở thành một trong những
khu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc của Tổ quốc. Do vậy, hằng năm lƣu lƣợng
Tuy nhiên, thực tiễn khách quan luôn biến đổi không ngừng dẫn đến việc văn
bản quy phạm điều chỉnh về tội phạm này còn một số bất cập, hạn chế. Thực tiễn áp
dụng pháp luật cho thấy một số trƣờng hợp không có sự thống nhất về hiểu và áp
dụng pháp luật giữa các cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án. Trƣớc những thực
trạng đó, việc nghiên cứu các quy định của PLHS hiện hành về tội mua bán ngƣời
dƣới 16 tuổi dƣới góc độ thực tiễn tại một địa phƣơng nhất định, không những có ý
nghĩa sâu sắc về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật, để từ
đó đƣa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp
luật đối với loại tội phạm này. Nhận thức đƣợc điều đó, tôi chọn đề tài: “Tội mua
bán người dưới 16 tuổi trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (Trên cơ sở
thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Ninh)” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình làm luận văn, tôi đã tham khảo, nghiên cứu một số tài liệu là
những giáo trình, sách chuyên khảo, những luận văn đã đƣợc công bố và tập trung ở
ba nhóm chủ yếu nhƣ sau:
- Các sách chuyên khảo: GS. TSKH. Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau
đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; GS.TSKH. Lê Cảm (2018), Sách chuyên khảo Sau
đại học: Nhận thức khoa học về phần chung pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp
điển hóa lần thứ ba Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; GS. TSKH. Lê Cảm
(2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội; GS. TSKH. Lê Cảm, PGS. TS. Trịnh Quốc Toản (2011), Định
tội danh: Lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội; GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2017) Bình luận Khoa học BLHS năm
2015,được sửa đổi bổ sung 2017 (Phần các tội phạm), Nxb Tƣ pháp; PGS. TS.
Trịnh Quốc Toản (2011), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt bổ sung
trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội; Trƣờng Đại
học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội; Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt
một cách tổng quát các vấn đề pháp lý ở phạm vi rộng hoặc chỉ tập trung nghiên
cứu một vài khía cạnh có liên quan đến nhóm các tội về mua bán ngƣời, mua bán
ngƣời dƣới 16 tuổi. Hầu hết chƣa nghiên cứu sâu về tội mua bán ngƣời dƣới 16
4
tuổi một cách đầy đủ, toàn diện, có tính hệ thống từ lý luận đến thực tiễn áp dụng
pháp luật.
Đồng thời, qua nghiên cứu BLHS năm 2015 đƣợc Quốc hội khóa XIII thông
qua tại kỳ họp thứ 10, ngày 27 tháng 11 năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau
đây gọi chung là BLHS năm 2015) thay thế cho BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung
năm 2009 (sau đây gọi chung là BLHS năm 1999), nhận thấy đã có những sửa đổi,
bổ sung quy định về tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi để khắc phục những hạn chế
của BLHS năm 1999, tuy nhiên vẫn còn những điểm quy định chƣa đƣợc chặt chẽ
làm cho việc định tội danh, quyết định hình phạt, việc phân hóa TNHS đối với tội
phạm chƣa cao, hình phạt chƣa đủ sức răn đe, giáo dục đối với tội phạm. Hơn nữa,
BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đã có những thay đổi cơ bản và hiện
tại vẫn chƣa có nghiên cứu nào về tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi. Do đó, việc tiếp
tục nghiên cứu để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự hiện
hành và BLHS năm 2015 quy định về tội phạm này vẫn có ý nghĩa rất lớn cả về mặt
lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ những quy định của BLHS về tội mua bán
ngƣời dƣới 16 tuổi và phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS trong giải
quyết các vụ án mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi, tìm ra những khó khăn, vƣớng mắc và
giải pháp khắc phục, nâng cao chất lƣợng áp dụng các quy định của BLHS trong
giải quyết các vụ án mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi. Đồng thời tìm ra phƣơng hƣớng
hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi,
bài viết trên các tạp chí chuyên ngành.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng các phƣơng pháp phân tích luật viết nhƣ: diễn dịch, quy
nạp để phân tích các quy định của pháp luật. Ngoài ra, còn sử dụng các phƣơng
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê toán học, báo cáo tổng kết của TAND
các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh để phân tích và luận giải các vấn đề tƣơng
ứng đƣợc nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện về mặt lý luận đối với
tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cụ thể:
6
- Đƣa ra khái niệm về tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi.
- Phân tích khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam
quy định về tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi từ năm 1945 đến nay. So sánh với quy
định của luật hình sự một số nƣớc trên thế giới quy định về tội phạm này.
- Nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý, khung hình phạt của tội mua bán ngƣời
dƣới 16 tuổi.
- Phân tích thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn từ
năm 2015 đến năm 2018, chỉ ra những hạn chế, vƣớng mắc và nguyên nhân của
những tồn tại, hạn chế đó.
- Đề xuất hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định của BLHS Việt Nam đối với tội mua bán ngƣời dƣới 16
tuổi và các tội phạm có liên quan.
6.2. Ý nghia thực tiễn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án các
cấp trong việc định tội danh, giải quyết vụ án hình sự đƣợc khách quan, có căn cứ
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm đến
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [41, Điều 8].
Với định nghĩa này, tội phạm đƣợc các nhà làm luật đề cập đến có bốn đặc
điểm (dấu hiệu) cơ bản: Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do ngƣời có năng lực
TNHS hoặc pháp nhân thƣơng mại thực hiện, có lỗi và trái với PLHS.
Khái niệm "buôn bán ngƣời" đƣợc quy định trong nhiều văn bản pháp luật
quốc tế, trong đó có Nghị định thƣ về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị việc buôn
bán ngƣời, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em (Nghị định thƣ Palermo). Văn kiện này đƣợc
Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2000 và có hiệu lực
ngày 25 tháng 12 năm 2003. Theo quy định của Nghị định thƣ này, khái niệm buôn
bán ngƣời (trong đó có phụ nữ, trẻ em) đƣợc quy định nhƣ sau:
8
a) Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận
ngƣời nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe dọa dùng bạo lực hay cách
thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế
dễ bị tổn thƣơng hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt
đƣợc sự đồng ý của một ngƣời kiểm soát đối với ngƣời khác vì mục đích
bóc lột. Hành vi bóc lột ở đây ít nhất là bao gồm bóc lột vì mục đích mại
dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay
dịch vụ cƣỡng bức nô lệ hay những hình thức tƣơng tự nhƣ nô lệ, khổ sai
hay lấy các bộ phận cơ thể.
b) Việc một nạn nhân của nạn buôn bán ngƣời chấp nhận sự bóc lột
có chủ ý đƣợc nêu tại điểm (a) trên đây sẽ không đƣợc tính đến nếu bất
vì mục đích bóc lột [26, 28].
Về khái niệm của tội mua bán ngƣời, tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi, Nghị
quyết 02/2019/NQ-HĐTP do Hội đồng thẩm phán TANDTC ban hành hƣớng dẫn
nhƣ sau:
Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn
khác thực hiện một trong các hành vi sau đây:
- Chuyển giao ngƣời để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
- Chuyển giao ngƣời để ngƣời khác bóc lột tình dục, cƣỡng bức lao
động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp ngƣời khác để thực hiện hành
vi chuyển giao ngƣời;
- Tiếp nhận ngƣời để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
- Tiếp nhận ngƣời để bóc lột tình dục, cƣỡng bức lao động, lấy bộ
phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác [16, Điều 2].
Đối với tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi (trƣớc đây gọi là mua bán trẻ em)
đƣợc quy định, hƣớng dẫn cụ thể qua các lần pháp điển hóa bộ luật hình sự. Thông
tƣ liên tịch 01/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP, tại Điều 4, quy
định về các thuật ngữ đƣợc hiểu nhƣ sau:
1. “Mua bán trẻ em” là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật
chất khác để trao đổi trẻ em (ngƣời dƣới 16 tuổi) nhƣ một loại hàng hóa;
cụ thể là một trong các hành vi sau đây:
10
a) Bán trẻ em cho ngƣời khác, không phụ thuộc vào mục đích của
ngƣời mua;
b) Mua trẻ em để bán lại cho ngƣời khác, không phân biệt bán lại
cho ai và mục đích của ngƣời mua sau này nhƣ thế nào;
c) Dùng trẻ em làm phƣơng tiện để trao đổi, thanh toán;
ngƣời là môi giới hôn nhân với ngƣời nƣớc ngoài trái phép, đƣa ngƣời đi lao động
nƣớc ngoài trái phép, môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật.
Một điểm tƣơng đồng quan trọng giữa pháp luật hình sự Việt nam và quốc tế
là khi đối tƣợng bị xâm hại là trẻ em thì không cần tính đến việc tội phạm có sử
dụng hay không sử dụng các phƣơng thức, thủ đoạn nhƣ đe dọa dùng vũ lực hay các
hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị
thƣơng tổn hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt đƣợc sự đồng ý
của một ngƣời kiểm soát đối với những ngƣời khác. Điều đó có nghĩa là, trong
trƣờng hợp trẻ em hoàn toàn đồng tình với hành vi mua bán ngƣời của tội phạm thì
vẫn bị coi là mua bán trẻ em nếu có hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao...
trẻ em nhằm mục đích bóc lột.
Một điểm tƣơng đồng quan trọng khác là về mục đích (yếu tố để bóc lột): một
trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt tội buôn bán ngƣời dƣới 16 tuổi với
các tội phạm khác chính là yếu tố "bóc lột" nạn nhân. Theo Nghị định thƣ Palermo
thì mục đích "để bóc lột" là một trong những yếu tố bắt buộc cấu thành tội buôn bán
ngƣời, buôn bán ngƣời dƣới 16 tuổi. Đây cũng chính là một trong những dấu hiệu
chính để phân biệt tội buôn bán ngƣời, buôn bán ngƣời dƣới 16 tuổi với tội đƣa
ngƣời trái phép qua biên giới và phân biệt với các loại tội phạm khác. Chẳng hạn
cùng là một hành vi đƣa ngƣời sang bên kia biên giới để thu lợi nhuận nhƣng sẽ cấu
thành tội buôn bán ngƣời khi có dấu hiệu chứng minh là nhằm mục đích bóc lột nạn
nhân và sẽ chỉ là tội đƣa ngƣời trái phép qua biên giới nếu không chứng minh đƣợc
mục đích này. Pháp luật hình sự Việt Nam cụ thể là BLHS năm 2015 cũng đã quy
định mục đích "để bóc lột" là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm này.
So với trƣớc đây, khi BLHS năm 1999 chƣa quy định mục đích “để bóc lột” là
yếu tố cấu thành tội phạm mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi đã dẫn đến sự khác biệt nhất
định khi xác định tội danh mua bán ngƣời, mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi theo pháp
luật Việt Nam và buôn bán ngƣời, buôn bán trẻ em theo pháp luật quốc tế trong một
12
13
1.1.2. Sự cần thiết của việc quy định tội mua bán ngƣời dƣới 16 tuổi trong Luật
hình sự Việt Nam.
Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về độ tuổi nhất định
trong giai đoạn đầu của sự phát triển con ngƣời. Sự phát triển mạnh mẽ của quá
trình công nghiệp hóa ở châu Âu thế kỷ XVI, XVII và XVIII đã kéo theo tình trạng
bóc lột sức lao động trẻ em một cách phổ biến, khắp nơi trên thế giới, rất nhiều
thảm kịch về trẻ em đã diễn ra. Thêm vào đó cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I
(1914 -1918) đã đẩy hàng triệu trẻ em vào hoàn cảnh khốn khổ. Năm 1919, một tổ
chức cứu trợ trẻ em đã đƣợc thành lập ở Anh và Thụy Điển. Tổ chức lao động quốc
tế (ILO) đã ban hành một số công ƣớc nhằm bảo vệ trẻ em trong các lĩnh vực lao
động, việc làm và bảo trợ xã hội. Năm 1923, ngƣời sáng lập ra Quỹ cứu trợ trẻ em ở
nƣớc Anh – bà Eglantuyne Jebb, khởi thảo hiến chƣơng trẻ em. Đây đƣợc coi là
mốc quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em. Năm 1924, tuyên ngôn Giơnevơ về
quyền trẻ em đƣợc Hội Quốc Liên thông qua, năm 1948 Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc thông qua tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời. Năm 1959 Đại hội đồng
Liên Hợp Quốc thông qua tuyên ngôn (thứ 2) về quyền trẻ em gồm 10 điểm. Tuyên
ngôn khẳng định “Loài ngƣời có trách nhiệm trao cho trẻ em điều tốt nhất”. Điều 24
Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 nêu rõ “Các trẻ em
… phải đƣợc gia đình, xã 5 hội và quốc gia bảo hộ”. Điều 10 Công ƣớc quốc tế về
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 quy định “Thanh thiếu niên phải
đƣợc bảo vệ chống mọi hình thức bóc lột về kinh tế và xã hội”. Một số văn kiện
khác nhƣ Tuyên ngôn về việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong các trƣờng hợp khẩn
cấp hoặc xung đột vũ trang năm 1974. Công ƣớc về xóa bỏ tất cả các hình thức
phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979. Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hiệp
Quốc về việc áp dụng pháp luật với ngƣời chƣa thành niên năm 1985 cũng quy
định nội dung tƣơng tự…
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” là câu nói bao hàm đầy đủ ý nghĩa về
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có một đạo luật chuyên ngành điều chỉnh
các quan hệ xã hội cơ bản liên quan đến trẻ em - Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em năm 2004, Luật trẻ em năm 2016. Luật Trẻ em có các quy định nghiêm cấm
các hành vi nhƣ cha mẹ bỏ rơi con, ngƣời giám hộ bỏ rơi trẻ em đƣợc mình giám
hộ; dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang, lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi; cản
15
trở việc học tập của trẻ em; áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh
dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật …
Luật HNGĐ năm 2014 xác định các nguyên tắc cơ bản: nhà nƣớc, xã hội và
gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, không thừa nhận sự phân biệt đối xử
giữa các con, con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài
giá thú. Luật HNGĐ nghiêm cấm mọi hành vi ngƣợc đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ,
con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình. Quyền và lợi ích của
trẻ em còn đƣợc thể hiện trong các quy định của chế định con nuôi trên nguyên tắc
khuyến khích việc nhận trẻ em có hoàn cảnh khó khăn làm con nuôi, nghiêm cấm
lợi dụng việc nuôi con nuôi để thực hiện những hành vi vi phạm đạo đức và pháp
luật.
Bộ Luật Dân sự Việt Nam xác định chế định về năng lực chủ thể pháp luật dân
sự của ngƣời chƣa thành niên, chế định giám hộ; chế định thừa kế với việc bảo vệ
quyền lợi cho trẻ em là con nuôi... Ngƣời chƣa thành niên bình đẳng so với các cá
nhân khác trong năng lực pháp luật dân sự.
Là thành viên chính thức của ILO, Việt Nam đã tham gia phê chuẩn nhiều
Công ƣớc của tổ chức này về lao động trẻ em. Bộ luật lao động đã giành một
chƣơng riêng - chƣơng XI về lao động ngƣời chƣa thành niên và một số lao động
khác. Bộ luật Lao động đã quy định những điều cấm và những nghĩa vụ ràng buộc
đối với ngƣời sử dụng lao động trong việc sử dụng lao động trẻ em, trong việc bảo
vệ lao động nữ trong thời kỳ thai nghén, nuôi con nhỏ, chỉ đƣợc sử dụng trẻ em vào
16 tuổi; Điều 124. Tội giết hoặc vứt con mới đẻ; Điều 127. Tội làm chết ngƣời
trong khi thi hành công vụ, khoản 2, điểm b, đối với ngƣời dƣới 16 tuổi, phụ nữ mà
biết là có thai; Điều 130. Tội bức tử, khoản 2, điểm b, đối với ngƣời dƣới 16 tuổi,
phụ nữ mà biết là có thai; Điều 133. Tội đe dọa giết ngƣời, khoản 2, điểm d, đối với
ngƣời dƣới 16 tuổi; Điều 134. Tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe ngƣời khác, khoản 1, điểm c, đối với ngƣời dƣới 16 tuổi, ngƣời già yếu,…;
Điều 140. Tội hành hạ ngƣời khác, khoản 2, điểm a, đối với ngƣời dƣới 16 tuổi, phụ
nữ mà biết là có thai,…; Điều 142. Tội hiếp dâm ngƣời dƣới 16 tuổi; Điều 144. Tội
cƣỡng dâm ngƣời từ đủ 13 đến dƣới 16 tuổi; Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện
hành vi quan hệ tình dục khác với ngƣời từ đủ 13 đến dƣới 16 tuổi; Điều 146. Tội
17