TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
------------
LÒ THỊ MAI HUẾ
PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH TỔNG HỢP
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. VŨ MINH TRAI
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thực tế tại Bảo hiểm xã hội TP Sơn La,
kết hợp vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, cùng với sự hướng dẫn tận tình của
PGS.TS Vũ Minh Trai cùng các Thầy Cô trong Khoa Quản trị Kinh doanh tổng hợp,
tôi đã hoàn thành luận văn “Phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn
thành phố Sơn La”.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập, nghiêm túc của cá
nhân tôi và các số liệu minh họa trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy
và được xử lý khách quan, trung thực.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẢO
HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY...................................6
1.1 Các đề tài về BHXH tự nguyện trong những năm gần đây............................6
1.1.1 An sinh xã hội cho khu vực phi chính thức và người lao động phi chính
thức ở Việt Nam – Kết quả rà soát tài liệu và cơ sở dữ liệu (Hanns Seidel
Foundation & ILSSA, 2012)..............................................................................6
1.1.2 Người lao động với Bảo hiểm xã hội tự nguyện, ThS Lưu Bích Ngọc, 2012.....7
1.1.3 Phân tích thực trạng triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn
Thành phố Hà Nội (Nguyễn Thị Huệ, luận văn thạc sĩ, 2013)...........................8
1.1.4 Đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự
nguyện, Thạc sỹ Lê Thị Quế, Viện Khoa học BHXH (2013).............................8
1.1.5 Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020, GIZ và
ILSSA, 2013......................................................................................................9
1.1.6 Thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc, Phạm Thị Lan Phương, Nguyễn Văn Song, Tạp chí khoa học
và phát triển 2014, tập 12, số 05 (2014)...........................................................10
1.2 Bài học và kết luận: lựa chọn đề tài nghiên cứu luận văn không trùng lặp
với các công trình đã công bố...............................................................................10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN VÀ
CÁC ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN.............12
2.1 .Khái niệm, bản chất của Bảo hiểm xã hội tự nguyện, quyền lợi và nghĩa vụ
của của các đối tượng lao động tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện...............12
2.1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của Bảo hiểm xã hội tự nguyện..................12
2.1.2. Các quy định pháp lý hiện hành của nhà nước về Bảo hiểm xã hội tự
nguyện.............................................................................................................. 22
2.1.3 Quyền lợi và nghĩa vụ của các đối tượng lao động tham gia bảo hiểm xã
hội tự nguyện...................................................................................................23
2.2 Quy trình triển khai phát triển đối tượng lao động tham gia BHXH tự
3.3 Đánh giá chung về kết quả, hạn chế và nguyên nhân triển khai BHXH tự
nguyện cho đối tượng lao động khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn thanh phố
Sơn La....................................................................................................................88
3.3.1 Kết quả đạt được.....................................................................................88
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân.........................................................................89
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA
BHXH TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA.......................93
4.1 Định hướng mục tiêu phát triển BHXH tự nguyện của BHXH thành phố
Sơn La trong giai đoạn 2015-2020........................................................................93
4.2 Các giải pháp phát triển BHXH tự nguyện cho lao động ở thành phố
Sơn La.................................................................................................................... 95
4.2.1. Đổi mới và tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp
luật về BHXH tự nguyện..................................................................................95
4.2.2. Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành để các cấp triển khai tốt hơn
chính sách BHXH tự nguyện............................................................................97
4.2.3. Tăng cường phối hợp giữa cơ quan BHXH các cấp với chính quyền địa
phương trên địa bàn thành phố.......................................................................100
4.3. Kiến nghị.......................................................................................................103
4.3.1. Đối với Nhà nước.................................................................................103
4.3.2. Đối với UBND thành phố Sơn La........................................................108
4.3.3 . Đối với các cấp, các ngành khác có liên quan....................................109
KẾT LUẬN..........................................................................................................110
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................112
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
BẢNG
Bảng 3.1:
Dân số bình quân và lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở TP
nay.....................................................................................................77
Bảng 3.9:
Số thu, chi BHXH tự nguyện trên địa bàn tỉnh Sơn La 2010 - 2014..78
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu số người tham gia BHXH tự nguyện theo địa bàn cư trú
(2010 – 2014)....................................................................................69
Biểu đồ 3.2: Nhu cầu tham gia BHXH của người lao động (%)............................70
Biểu đồ 3.3: Lý do không tham gia BHXH tự nguyện của người lao động............73
HÌNH
Hình 2.1:
Qui trình thu, cấp sổ BHXH tự nguyện (QĐ 1111/QĐ-BHXH).........31
Hình 2.2:
Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter...................................42
Hình 3.1:
So sánh BHXH tự nguyện và BHNT của công ty bảo hiểm Vietinavia...83
Hình 3.2:
Cơ chế hoạt động của Manulife – Điểm tựa hưu trí...........................84
tượng tham gia, quyền lợi và nghĩa vụ của người tham gia, cũng như các chế độ
2
BHXH tự nguyện. Đây là một nét mới trong chính sách BHXH của nhà nước, mở ra
cơ hội mới, hướng đi đúng đắn, tích cực mang tính nhân văn sâu sắc, giúp nhân dân
thuộc mọi tầng lớp đều được tự đóng góp theo khả năng để được hưởng các chế độ
dài hạn (hưu trí và tử tuất) như những người lao động làm việc trong khu vực chính
thức. Đồng thời, đây cũng là bước tiến mới trong chính sách an sinh xã hội, lần đầu
tiên tại Việt Nam, mở ra tầng thứ ba của mô hình sàn an sinh xã hội: 1/ Bảo đảm y
tế tối thiểu – 2/ Bảo hiểm xã hội và các hình thức an sinh khác có đóng góp của
người dân – 3/ Bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Nhận thức được tầm quan trọng, vai trò của công tác BHXH trong chính sách
an sinh xã hội cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, Bộ Chính trị
đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020.
Trong đó, đưa ra thực trạng: “Diện bao phủ bảo hiểm xã hội còn thấp, mới đạt
khoảng 20% lực lượng lao động, số người tham gia bảo hiểm y tế mới đạt khoảng
65% dân số” và nêu rõ mục tiêu: “Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia bảo
hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội tự nguyện; thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế
toàn dân. Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia
bảo hiểm xã hội, 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; trên 80%
dân số tham gia bảo hiểm y tế”. Ngày 23 tháng 7 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quyết định số 1215/QĐ-TTg, phê duyệt chiến lược phát triển ngành Bảo
hiểm xã hội Việt Nam đến năm 2020, trong đó một lần nữa khẳng định các mục tiêu
được giao trong NQ số 21 của Bộ Chính trị, cụ thể hóa các quan điểm, đặt ra mục
tiêu và các giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn.
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham
- Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết và thực tiễn làm căn cứ để nghiên cứu các
nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa
bàn thành phố Sơn La.
4
- Phân tích thực trạng triển khai BHXH tự nguyện cho lao động ngoài nhà
nước tại thành phố Sơn La, rút ra những thành quả đã đạt được cũng như tồn tại,
hạn chế trong quá trình thực hiện.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển BHXH tự nguyện tại thành phố
Sơn La đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho các đối tượng
người lao động thuộc khu vực ngoài nhà nước (không thuộc diện tham gia
BHXH bắt buộc).
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu phát triển đối tượng lao động tham gia Bảo
hiểm xã hội tự nguyện khu vực ngoài nhà nước (thuộc các cơ sở sản xuất kinh
doanh nông, lâm nghiệp, kinh doanh dịch vụ nhỏ trên địa bàn thành phố Sơn La).
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2010-2014. Đề xuất giải
pháp đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng đồng bộ hệ thống các
phương pháp nghiên cứu như:
- Nguồn dữ liệu sử dụng trong đề tài:
+ Dữ liệu sơ cấp: thu thập qua phỏng vấn 180 đối tượng qua phiếu điều tra nhu
cầu tham gia BHXH tự nguyện, sinh sống tại 6/12 xã, phường của Thành phố Sơn La.
+ Dữ liệu thứ cấp:
- Niên giám thống kê tỉnh Sơn La, Số liệu báo cáo của phòng Thống kê thành
phố Sơn La (năm 2010 đến 2014);
Foundation & ILSSA, 2012)
Đây là kết quả sự hợp tác giữa Hanns Seidel Foundation (HSF) với Viện Khoa
học Lao động và Xã hội (ILSSA). Mục đích của nghiên cứu này là rà soát pháp luật,
chính sách và chương trình, đồng thời rà soát tài liệu và các bộ dữ liệu với mong
muốn xây dựng một hệ thống an sinh xã hội toàn dân – theo các nguyên tắc phổ cập
toàn dân, chia sẻ, công bằng, bền vững, phát huy trách nhiệm cá nhân và ưu tiên cho
người nghèo, đồng thời giới thiệu về quan điểm và kinh nghiệm quốc tế về an sinh
xã hội, khu vực phi chính thức và việc làm phi chính thức, từ góc nhìn quốc tế sẽ
làm nổi bật những vấn đề như mức độ phổ biến của khu vực phi chính thức và việc
làm phi chính thức tại Việt Nam và triển vọng trong tương lai.
Kết quả của báo cáo cho thấy, khu vực phi chính thức và an sinh xã hội cho
người lao động khu vực phi chính thức đã và đang là chủ đề thu hút sự quan tâm
của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, còn thiếu những nghiên
cứu và tài liệu liên quan đến việc làm phi chính thức. Với quan điểm tăng cường an
sinh xã hội cho người lao động khu vực phi chính thức đã có nhiều khuyến nghị
được xây dựng liên quan đến chính sách thị trường lao động chủ động. Việc rà soát
các tài liệu nghiên cứu gần đây cho thấy thị trường lao động chủ động đã được coi
là một trong các lĩnh vực chính sách quan trọng nhằm hướng tới an sinh xã hội cho
người lao động khu vực phi chính thức. Ngoài ra, chính sách bảo hiểm xã hội (bao
gồm cả bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyên) cũng là chủ đề
được nêu trong nghiều khuyến nghị chính sách. Tuy nhiên vẫn còn thiếu những
7
nghiên cứu và hiểu biết liên quan đến các chính sách trợ cấp cho người lao động ở
khu vực phi chính thức.
Các giải pháp về an sinh xã hội còn bao gồm việc thực hiện các mô hình tài
chính vi mô ở một qui mô hớn hơn và phát triển các loại bảo hiểm thích hợp. Có
nhiều khuyến nghị về việc cần đánh giá, điều chỉnh và cải thiện các chế độ bảo
người lao động, duy trì và phát triển tốt quĩ BHXH tự nguyện.
- Xây dựng niềm tin của người lao động vào BHXH tự nguyện, tăng cường
tuyên truyền, truyền thông, cung cấp thông tin về BHXH tự nguyện để nâng cao
nhận thức cho người lao động.
1.1.3 Phân tích thực trạng triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa
bàn Thành phố Hà Nội (Nguyễn Thị Huệ, luận văn thạc sĩ, 2013)
Trong luận văn thạc sĩ của mình, tác giả đã đi sâu phân tích, làm rõ thêm cơ sở
lý luận về BHXH tự nguyện; đánh giá được thực trạng việc triển khai BHXH tự
nguyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, đánh giá nhu cầu, điều kiện, khả năng và
phân tích được nguyên nhân cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia
BHXH tự nguyện của người lao động thuộc khu vực phi chính thức trên địa bàn
thành phố; dự báo khả năng, định hướng phát triển BHXH đến năm 2020 và đưa ra
một số giải pháp để phát triển BHXH tự nguyện trong tương lai. Tuy nhiên, luận
văn nêu trên cũng còn những hạn chế nhất định. Về mặt lý luận, tác giả chưa làm rõ
được đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ở “khu vực phi chính thức” là những đối
tượng nào, thuật ngữ “lao động ở khu vực phi chính thức” đã bao hàm đầy đủ ý
nghĩa về đối tượng tham gia BHXH tự nguyện hay chưa. Trên thực tế, theo một
định nghĩa dựa trên sự đồng thuận chung của ILO và cơ quan thông kê của Liên hợp
quốc, khu vực phi chính thức không bao gồm lao động làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp, tức là đã bỏ sót đối tượng tham gia BHXH tự nguyện. Về mặt nghiên cứu
thực trạng, tác giả mới chỉ dựa trên những số liệu sẵn có để đưa ra các nhận định
chủ quan, chứ chưa có sự điều tra, thống kê số liệu sơ cấp, do đó chưa đưa ra được
những phán đoán khách quan để giải quyết vấn đề.
1.1.4 Đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự
nguyện, Thạc sỹ Lê Thị Quế, Viện Khoa học BHXH (2013)
Với mục tiêu phân tích thực trạng về chính sách BHXH tự nguyện và đánh giá
việc thực hiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam, cũng như phán ánh thực
9
10
nâng cao. Việt Nam chủ trương phát triển hệ thống an sinh xã hội đa tầng, toàn diện
với các chính sách, chương trình phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục mọi rủi ro
cho người dân, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống an toàn,
bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân.
1.1.6 Thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Phạm Thị Lan Phương, Nguyễn Văn Song, Tạp chí khoa
học và phát triển 2014, tập 12, số 05 (2014)
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
của người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc
đẩy sự tham gia của họ. Nghiên cứu tiến hành điều tra 200 người lao động ở 4
huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả điều tra cho thấy: số lượng
người tham gia BHXH tự nguyện có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chiếm tỷ lệ rất
nhỏ trong tổng số người thuộc đối tượng tham gia BHXH, sự gia tăng đối tượng
tham gia có sự khác nhau khi xem xét trên các phương diện: độ tuổi, mức lựa chọn
đóng phí, ngành nghề và địa bàn cư trú… mặc dù nhu cầu tham gia BHXH tự
nguyện của người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc rất lớn (khoảng 80%), song
số người tham gia BHXH tự nguyện chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,3%) trong tổng số đối
tượng thuộc diện tham gia. Có nhiều nguyên nhân làm cho bộ phận lớn người lao
động chưa tham gia BHXH tự nguyện và lý do chủ yếu là việc làm của họ không ổn
định, thu nhập thấp (82%). Giải pháp của tác giả để giải quyết vấn đề trên là: Nâng
cao nhận thức của người lao động về sự cần thiết của BHXH tự nguyện; Đổi mới
mạnh mẽ công tác dịc vụ của cơ quan BHXH; Cần có chính sách hỗ trợ cho những
đối tượng chính sách.
1.2 Bài học và kết luận: lựa chọn đề tài nghiên cứu luận văn không trùng
lặp với các công trình đã công bố
Những công trình nghiên cứu trước đây đã hệ thống hóa các kiến thức chung
động trực tiếp đến đời sống của bất kì người nào từ khi sinh ra đến lúc chết đi. Theo
tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “ASXH là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho
các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để
đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy
giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức
lao động hoặc tử vong. Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn
nhân có trẻ em”.Vậy ASXH ra đời như một tất yếu khách quan của mọi xã hội, xuất
phát từ nhu cầu được bảo vệ khỏi những rủi ro trong cuộc đời của mỗi người: ốm
đau, bệnh tật, thiên tai, tuổi già, mất sức lao động… Năm 2009, Liên hợp quốc phát
triển sáng kiến “Sàn an sinh xã hội” với mục đích đảm bảo cho mọi người dân có
mức thu nhập tối thiểu và tiếp cận được các dịch vụ thiết yếu, đảm bảo quyền cơ
bản của con người, gồm: (1) chăm sóc sức khỏe cơ bản; (2) thu nhập tối thiểu cho
người trong tuổi lao động nhưng không có khả năng tạo thu nhập vĩnh viễn (người
khuyết tật) hoặc người thu nhập thấp hơn mức đủ sống (người nghèo); (3) thu nhập
tối thiểu đối với người trên tuổi lao động (người cao tuổi); và dưới tuổi lao động
(trẻ em); (4) chăm sóc y tế cơ bản; (5) nước sinh hoạt hợp vệ sinh; (6) nhà ở; (7)
giáo dục; (8) Các dịch vụ khác tùy theo ưu tiên của từng quốc gia(1) .
13
Tại công ước số 102 ngày 28 tháng 6 năm 1952 của ILO về Quy phạm tối
thiểu về an toàn xã hội đã quy định 9 bộ phận của ASXH gồm:
1.
Chăm sóc y tế
2.
Trợ cấp ốm đau
Cứu trợ xã hội và Bảo hiểm xã hội đã thực hiện được hầu hết các loại trợ cấp nêu
trên. Trong đó, Bảo hiểm xã hội (BHXH) bao hàm 5 loại trợ cấp: Bảo hiểm y tế, các
chế độ: ốm đau – thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, trở
thành trụ cột của hệ thống ASXH.
Từ giữa thế kỉ 19 ở các nước châu Âu, khi nền công nghiệp ra đời và kinh tế
hàng hóa bắt đầu phát triển, các mối quan hệ thuê mướn lao động trở nên phổ biến,
xuất hiện giới chủ và người làm công. Mâu thuẫn giữa thợ và chủ - do người làm
thuê thường gặp phải những rủi ro về sức khỏe, thu nhập… nảy sinh và ngày càng
gay gắt, khiến Nhà nước phải đứng ra thành lập một quỹ chung với sự đóng góp
hàng tháng của cả hai bên theo một tỉ lệ được tính toán kĩ lưỡng, dựa trên thu nhập
của người lao động cũng như quỹ lương của xã hội, và một phần hỗ trợ từ ngân sách
nhà nước để đảm bảo thu nhập tối thiểu cho người lao động trước những biến cố bất
thường. Sự ra đời của quỹ chung này đã đáp ứng được những yêu cầu của người lao
động về sự ổn định thu nhập, của giới chủ về sự ổn định trong sản xuất, đồng thời
việc hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia với qui mô ngày
càng lớn, giúp giải quyết các rủi ro phát sinh cho người lao động cũng mang lại cho
nhà nước những lợi ích to lớn về ổn định, công bằng xã hội. Như vậy, Bảo hiểm xã
14
hội ra đời như một tất yếu khách quan, do sự cần thiết của các bên tham gia và đáp
ứng được các nhu cầu đặt ra với nó. Hệ thống BHXH ngày cảng lớn mạnh theo sự
phát triển của xã hội. Khái niệm về BHXH được thống nhất như sau:
“Bảo hiểm xã hội là tổng thể các mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa Nhà
nước, người lao động và người sử dụng lao động. Là sự đảm bảo thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến
cố, rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao độnghoặc mất việc làm, bằng cách
hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người
sử dụng lao đông, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo
hai là BHXH tự nguyện mở cho bất cứ người lao động nào tự nguyện tham gia. Mặc
dù mang tính chất tự nguyện nhưng chính sách BHXH tự nguyện vẫn là chính sách
do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia. Nhà nước
quy định mức đóng góp để hình thành Quỹ BHXH tự nguyện đủ lớn để chi trả cho
người tham gia BHXH tự nguyện và xây dựng các chế độ mà người tham gia
BHXH được hưởng (bao gồm điều kiện hưởng, mức hưởng) để bảo đảm bù đắp rủi
ro cho người tham gia BHXH tự nguyện. Dưới góc độ tiếp cận đó, có thể đưa ra
khái niệm về BHXH tự nguyện như sau:
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành để
đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ
gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách
hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự nguyện đóng góp một
phần thu nhập của người lao động, người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo an toàn
đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Theo Luật BHXH số 71 (2006), Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo
hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và
phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội. Tuy
nhiên, Luật BHXH số 58 (2014) đã sửa lại định nghĩa về BHXH tự nguyện như sau:
“Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà
người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập
của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia
được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất”,
16
Loại hình BHXH tự nguyện chỉ có thể được hình thành và thực hiện trên các
cơ sở sau:
Một là, có nhiều người lao động tham gia và có thể cả người sử dụng lao động
tự nguyện tham gia với điều kiện: có nhu cầu thực sự về BHXH; có khả năng tài
cho cả lao động nam và nữ. Mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH
được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính mức bình quân thu
nhập tháng đóng BHXH tại thời điểm nghỉ hưu.
- Trong thời gian được hưởng lương hưu hàng tháng, người hưởng lương
hưu cũng được hưởng BHYT do quỹ BHXH tự nguyện chi trả.
- Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện khi đến tuổi về hưu mà không đủ
20 năm đóng BHXH tự nguyện và không muốn tiếp tục đóng thì được nhận
trợ cấp một lần. Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng
BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng
BHXH.
- Lương hưu được điều chỉnh như người hưởng lương hưu của người đã
tham gia BHXH bắt buộc.
* Những điểm khác nhau:
- Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là những người lao động không
thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, chủ yếu là lao động thuộc khu vực
ngoài nhà nước bao gồm những người lao động sản xuất nông ,lâm nghiệp,
thủy sản, kinh doanh dich vụ nhỏ, người tự tạo việc làm, tức là những người
không có quan hệ lao động giữa chủ sử dụng lao động và người lao động.
- BHXH tự nguyện chỉ có 2 chế độ dài hạn là chế độ hưu trí và chế độ tử
tuất, không có các chế độ ngắn hạn.
- Người lao động tham gia BHXH bắt buộc nếu đủ 45 tuổi đối với nữ, 50
tuổi đối với nam, đã có đủ 20 năm đóng BHXH, không đủ sức khỏe để tiếp
tục làm việc có thể đề nghị giám định khả năng lao động. Nếu người đó bị suy
giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, có thể đề nghị cơ quan BHXH giải
quyết nghỉ hưu trước tuổi. Người tham gia BHXH tự nguyện phải chờ đến khi
hết tuổi lao động mới được giải quyết chế độ hưu trí.
18