BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN KIÊN
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC
TRẺ DƯỚI 5 TUỔI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI CÁC PHÒNG TIÊM CHỦNG DỊCH VỤ
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2020
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC DỰ PHÒNG
HÀ NỘI – 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN KIÊN
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC
TRẺ DƯỚI 5 TUỔI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI CÁC PHÒNG TIÊM CHỦNG DỊCH VỤ
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2020
Chuyên ngành : Y học dự phòng
Tiêm chủng mở rộng
UNICEF
United Nations Children's Fund (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc)
WHO
World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................3
1.1. Một số khái niệm.....................................................................................3
1.2. Sự hài lòng của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi về dịch vụ tiêm chủng.....10
1.3. Tổng quan về các yếu tố liên quan đến sự hài lòng khách hàng...........12
1.4. Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.................................17
1.5. Tổng quan về địa điểm nghiên cứu.......................................................21
KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU...................................................22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............23
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.........................................................23
2.2. Đối tượng nghiên cứu............................................................................24
2.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................24
2.4. Biến số, chỉ số, kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin.........................26
2.5. Thu thập số liệu.....................................................................................28
2.6. Sai số cách khắc phục và hạn chế nghiên cứu.......................................28
2.7. Xử lý và phân tích số liệu.....................................................................29
2.8. Đạo đức nghiên cứu..............................................................................30
Bảng 3.16:
Bảng 3.17:
Thông tin chung của trẻ...............................................................31
Thông tin chung của người chăm sóc trẻ....................................31
Số lần NCST đưa trẻ tới phòng tiêm phòng tiêm chủng dịch vụ.....33
Lí do NCST biết đến địa chỉ phòng tiêm dịch vụ........................33
Hài lòng về khả năng tiếp cận.....................................................33
Hài lòng về sự Minh bạch thông tin và thủ tục khám sàng lọc........34
Hài lòng về cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ khách hàng......35
Hài lòng về thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên
y tế...............................................................................................36
Hài lòng về kết quả cung cấp dịch vụ.........................................36
Khả năng NCST giới thiệu cho người khác đến với phòng tiêm.....37
NCST đánh giá về mức giá dịch vụ tại phòng tiêm....................37
Mối liên quan giữa sự hài lòng về khả năng tiếp cận và một số
yếu tố...........................................................................................38
Mối liên quan giữa sự hài lòng về minh bạch thông tin và một số
yếu tố...........................................................................................39
Mối liên quan giữa sự hài lòng về cơ sở vật chất và một số yếu tố....40
Mối liên quan giữa sự hài lòng về năng lực chuyên môn, thái độ
ứng xử của NVYT và một số yếu tố............................................41
Mối liên quan giữa sự hài lòng về kết quả cung cấp dịch vụ và
một số yếu tố...............................................................................42
Mối liên quan giữa sự hài lòng chung về dịch vụ tiêm chủng và
một số yếu tố...............................................................................43
DANH MỤC HÌNH
trường hợp phản ứng thông thường và 23 trường hợp tai biến nặng sau tiêm
chủng [5]. Trong năm 2018-2019 Bộ Y tế quyết định sử dụng thay thế một số
loại vắc xin mới trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Những e ngại của
phụ huynh về việc sử dụng vắc xin mới, những phản ứng sau tiêm có thể gặp
phải, việc thổi phồng của dư luận về các trường hợp phản ứng nặng có liên
quan đến tiêm chủng làm ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin của người dân
với các điểm tiêm chủng mở rộng. Từ đó, các bậc phụ huynh tìm đến các cơ
sở tiêm chủng ngoài tiêm chủng mở rộng (sau đây gọi tắt là dịch vụ) dẫn tới
các cơ sở này luôn trong tình trạng quá tải. Vậy câu hỏi đặt ra là các cơ sở
2
tiêm chủng dịch vụ này đã đáp ứng được với nhu cầu của người dân và người
dân có thực sự hài lòng với dịch vụ mà các cơ sở tiêm chủng dịch vụ này cung
cấp không?
Sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ tiêm chủng là một yếu tố
quan trọng quyết định sự phát triển của một cơ sở tiêm chủng, đặc biệt là đối
với những cơ sở tiêm chủng dịch vụ. Do đó việc nâng cao sự hài lòng, niềm
tin của người dân đối với các cơ sở tiêm chủng là hết sức quan trọng. Thành
phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay có 3 phòng tiêm dịch vụ là phòng tiêm
chủng của Trung tâm kiểm soát bệnh tật, phòng tiêm chủng của TTYT thành
phố Vĩnh Yên và phòng tiêm chủng dịch vụ An Phúc. Sự hài lòng của người
dân về các phòng tiêm dịch vụ này có điều gì khác biệt và liệu yếu tố nào ảnh
hưởng đến sự hài lòng của người dân ở đây không? Kết quả nghiên cứu cung
cấp những bằng chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ tiêm
chủng người dân nơi đây. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“Đánh giá sự hài lòng của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi và các yếu tố liên
quan tại các phòng tiêm chủng dịch vụ thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
năm 2020” với 2 mục tiêu sau:
mức độ cao trong thời gian dài và cho dù lượng kháng thể giảm xuống nhưng
do cơ chế trí nhớ miễn dịch nên đa số trường hợp vẫn có khả năng kích thích
cơ thể đáp ứng nhanh khi tiếp xúc lại với mầm bệnh [9].
Tiêm chủng đã góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa và kiểm soát
được ít nhất 10 bệnh chính sau đây ở nhiều khu vực trên thế giới: đậu mùa,
uốn ván, sốt vàng, các bệnh gây ra bởi Haemophilus influenza type B (Hib),
bại liệt, sởi, quai bị và rubella [10]. Tác động của việc tiêm chủng đối với sức
4
khỏe con người trên toàn thế giới là vô cùng to lớn mà chưa có một phương
thức hay một kháng sinh nào có thể làm giảm tỷ lệ chết cho cộng đồng như
vắc xin [11].
1.1.3. Vai trò của tiêm chủng.
Năm 1796, nhà khoa học Jenner phát minh ra vắc xin là một thành tựu
Y học vĩ đại của nhân loại. Vắc xin là loại vũ khí siêu hạng, sắc bén nhất, hữu
hiệu nhất để chủ động phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Đây là
một can thiệp y tế công cộng quan trọng nhất, đồng thời là một trong những
chiến lược y tế hiệu quả, giúp giảm cả tỷ lệ bệnh tật và tử vong do các bệnh
truyền nhiễm [12].
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 30 bệnh truyền nhiễm có vắc xin
phòng bệnh và khoảng 190 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa vắc xin vào sử
dụng phổ cập cho người dân và tiêm chủng thực sự có vai trò rất lớn đối với
toàn xã hội [12].
Một số thành tựu quan trọng của vắc xin và tiêm chủng trên thế giới và
Việt Nam: [8].
* Trên thế giới:
Bệnh Đậu mùa, đã từng giết chết 2 triệu người mỗi năm cho tới cuối
những năm 1960, đã bị quét sạch vào năm 1979, sau những chiến dịch tiêm
mục từ hàng trăm đến hàng nghìn lần so với thời kỳ trước tiêm chủng.
Vắc xin và tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất để làm
giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễm của nhân loại:
Khoảng 85% - 95% người được tiêm chủng sẽ sinh ra miễn dịch đặc hiệu bảo
vệ cơ thể không bị mắc bệnh. Người được tiêm chủng không bị mắc bệnh và
không bị tử vong hay di chứng do bệnh dịch gây ra. Nhờ có vắc xin, ước tính
mỗi năm có hơn hai triệu người trên toàn thế giới tránh được tử vong [13]. Vắc
xin và tiêm chủng góp phần quan trọng để đạt được mục tiêu thiên niên kỷ của
Liên hợp quốc về giảm tỷ lệ tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi trên toàn thế giới.
6
1.1.4. Hình thức tổ chức tiêm chủng
- Tiêm chủng mở rộng
Nhận biết tác dụng của vắc xin, kể từ năm 1974, Tổ chức Y tế thế giới
(WHO) đã xác định nhu cầu can thiệp sức khỏe cộng đồng và khởi xướng
Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) nhằm phòng ngừa uốn ván cho
phụ nữ mang thai các bệnh truyền nhiễm cho trẻ em như: lao, viêm phổi, bạch
hầu, ho gà, sởi và uốn ván [14]. Năm 1981, tại Việt Nam, Chương trình
TCMR bắt đầu được Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của WHO và Quỹ Nhi
đồng Liên hợp quốc (UNICEF), cung cấp 6 loại vắc xin hoàn toàn miễn phí
cho trẻ em dưới 1 tuổi [15].
Hiện nay Chương trình TCMR đã và đang tiếp tục triển khai tại Việt
Nam với các vắc xin, cụ thể [16]:
+ Vắc xin BCG: phòng bệnh lao và cần được tiêm càng sớm càng tốt
sau khi trẻ được sinh ra.
+ Vắc xin viêm gan B liều sơ sinh: sử dụng để phòng lây nhiễm bệnh
viêm gan B từ mẹ sang con cần tiêm càng sớm càng tốt cho trẻ trong vòng 24
giờ đầu sau sinh.
được tiêm thay thế cho sởi đơn khi trẻ đủ 18 tháng tuổi.
+ Vắc xin tiêm nhắc lại, phòng bệnh bạch hầu, ho gà và uốn ván
(DPT): được tiêm khi trẻ đủ 18 tháng.
+ Vắc xin viêm não Nhật Bản: trẻ cần được tiêm đủ 3 mũi để phòng
bệnh viêm não Nhật Bản của Việt Nam.
Mũi thứ 1: khi trẻ được 1 tuổi.
Mũi thứ 2: cách mũi thứ nhất từ 1 đến 2 tuần.
Mũi thứ 3: cách mũi thứ hai 1 năm.
8
+ Vắc xin phòng tả: Uống phòng cho trẻ trong độ tuổi từ 2-5 tại các
vùng có nguy cơ xảy ra dịch, uống 2 liều.
+ Vắc xin thương hàn: Tiêm ngừa cho trẻ từ 3-10 tuổi, đặc biệt ở các
vùng có nguy cơ dịch bùng phát.
+ Vắc xin uốn ván: được chỉ định tiêm cho Phụ nữ có thai.
- Tiêm chủng lưu động:
Là một hình thức chỉ được áp dụng thực hiện đối với vắc xin trong
Chương trình TCMR khi tổ chức chiến dịch tiêm chủng hoặc tiêm chủng
thường xuyên tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Hình thức
này giúp cho việc tiếp cận vắc xin tới những vùng khó khăn và đạt được độ
bao phủ mong muốn của Chương trình TCMR. Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo
yêu cầu của một điểm tiêm chủng lưu động theo đúng Nghị định 104/NĐ-CP
ban hành ngày 01/6/2017 về Qui định Hoạt động tiêm chủng.
- Tiêm chủng dịch vụ:
Vắc xin được cung cấp trong chương trình TCMR là những vắc xin
phòng những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, cần thiết và được triển khai miễn
phí trên phạm vi toàn quốc. Vì vậy vắc xin trong chương trình TCMR chưa
đầy đủ và đa dạng như các vắc xin trên thị trường, để đáp ứng nhu cầu này,
vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Dịch vụ xã hội cơ bản là hệ thống
cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được
xã hội thừa nhận [18].
1.1.6. Dịch vụ Y tế
Dịch vụ y tế là một loại hình dịch vụ đặc biệt, tác động mang tính xã hội
vì bệnh tật có thể xảy ra với bất kỳ ai và buộc họ phải sử dụng dịch vụ khám
chữa bệnh không tương đồng với điều kiện kinh tế. Các cơ sở y tế nói chung
là nơi cung cấp dịch vụ đặc biệt này cho xã hội nhưng cũng đồng thời là một
tổ chức cần phải hoạt động có hiệu quả [18].
10
Hiện nay chất lượng dịch vụ ngày càng được xác định là có vai trò then
chốt trong việc so sánh giữa cơ sở y tế (CSYT) này với CSYT khác và để tạo
dựng được những lợi thế cạnh tranh. Những khách hàng khi phải trả chi phí
cao cho các dịch vụ y tế thì ngày càng có những đòi hỏi, yêu cầu cao hơn về
chất lượng dịch vụ cung cấp từ phía cán bộ y tế, cơ sở y tế. Do đó việc nâng
cao chất lượng các dịch vụ y tế được các nhà quản lý ngày càng quan tâm, tuy
nhiên làm thế nào để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao và phong phú như
hiện nay của người sử dụng dịch vụ là hoàn toàn không dễ. Trong các cơ sở y
tế chất lượng dịch vụ CSSK của khách hàng quyết định sự tồn tại của cơ sở
đó. Người dân sẽ không đến với các cơ sở y tế khi họ không hài lòng bởi các
dịch vụ y tế kém chất lượng.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ y tế nhưng có
thể hiểu chất lượng một dịch vụ y tế tốt là:
+ Có hiệu quả, khoa học, việc chăm sóc sức khỏe phải thực hiện theo
các tiêu chuẩn đã quy định
+ Phù hợp với khách hàng
+ An toàn không gây biến chứng
rõ ràng chức năng của sự hài lòng khách hàng và đặc tính tự nhiên của khái
niệm này dựa trên “nhận thức của khách hàng” [20].
Mục tiêu đo lường sự hài lòng nhằm để biết được ý kiến của khách
hàng, xác định xem khách hàng đón nhận hay không đón nhận tích cực dịch
vụ cụ thể, để biết được mong đợi của khách hàng về dịch vụ, chất lượng dịch vụ.
1.2.2. Sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ
Một trong những xu hướng quan trọng trong sự phát triển của y tế hiện
đại là sự tham gia của khách hàng trong việc quản lý, chăm sóc và điều trị của
họ, điều này được thực hiện trong chiến lược y tế hiện tại ở Ailen và một số
nước khác. Tài liệu hướng dẫn đo lường sự hài lòng khách hàng của Hiệp hội
chất lượng và an toàn trong CSSK Ailen nhằm đáp ứng những cam kết cụ thể
12
trong chiến lược y tế Quốc Gia của Ailen là: Chất lượng và công bằng. Tài
liệu này cũng cung cấp cho các nhà cung cấp dịch vụ những hướng dẫn hữu
ích và giải thích cụ thể về sự đo lường mức độ hài lòng của khách hàng [21].
Donabedian (1988) cho rằng mục đích của chăm sóc sức khỏe không chỉ
nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe mà còn đáp ứng được nhu cầu và sự mong
đợi của người bệnh trong quá trình chăm sóc để làm hài lòng họ. Tác giả cũng
nhận định giao tiếp đóng vai trò như một cỗ xe chở các thông tin của bệnh
nhân để giúp chẩn đoán, để lựa chọn cách điều trị mà nhờ đó sự chăm sóc kỹ
thuật được thành công [22]. Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá sự hài lòng của
bệnh nhân bao gồm: cơ sở vật chất của dịch vụ, sự giúp đỡ của các nhân viên
hỗ trợ, các nguồn thông tin, năng lực của đội ngũ nhân viên, giá dịch vụ, sự
phù hợp của dịch vụ so với nhu cầu của họ, tính sẵn có của dịch vụ, thời gian
chờ đợi, hiệu quả của dịch vụ [23]. Khi quan tâm đến phạm vi chăm sóc, giá,
mạng lưới chăm sóc thì đo lường mức độ hài lòng của bệnh nhân được xem là
những đo lường quá trình; khi quan tâm đến chuyên môn giúp giải quyết vấn
chủ yếu liên quan đến nhận thức về quản lý chất lượng dịch vụ và những công
việc liên quan đến phân phối dịch vụ cho khách hàng, dẫn đến chất lượng
dịch vụ thấp hơn mong đợi. Phương pháp này là một trong những công cụ đầu
tiên được tạo ra để đánh giá và cải thiện chất lượng dịch vụ nên phổ biến từ
rất sớm. [24]
14
Trong mô hình thang đo của SERVQUAL 5 khoảng cách được đề cập
đến là:
- Khoảng cách về kiến thức: Khoảng cách này là kết quả từ sự khác biệt
giữa những gì khách hàng mong đợi và những gì quản lý nhận thấy. Điểm cơ
bản của sự khác biệt này là do người quản lý không hiểu biết hết những đặc
điểm tạo nên chất lượng của dịch vụ cũng như cách thức chuyển giao tới khách
hàng để thoả mãn nhu cầu của họ.
- Khoảng cách về tiêu chuẩn: Khoảng cách này xuất hiện khi doanh
nghiệp gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của
khách hàng thành những đặc tính chất lượng của dịch vụ.
- Khoảng cách về hoạt động: Khoảng cách này là kết quả từ sự không
phù hợp giữa các tiêu chí cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của quản lý và các
dịch vụ thực tế được phân phối bởi các nhân viên cấp dưới.
- Khoảng cách về truyền đạt: Khoảng cách này là kết quả của sự khác
biệt giữa những gì doanh nghiệp hứa hẹn trong các chương trình PR,
marketing, tuyên truyền với chất lượng dịch vụ thực sự mà người tiêu dùng
được hưởng.
- Khoảng cách giữa nhu cầu và cảm nhận: Khoảng cách này đề cập đến
những khác biệt xảy ra khi một dịch vụ khách hàng đang sử dụng đáp ứng hay
không đáp ứng được nhu cầu của họ.
Parasuraman và cộng sự khẳng định rằng SERVQUAL là một dụng cụ
đến sự hài lòng. SERVPERF là một sửa đổi của SERVQUAL và do đó sử
dụng các danh mục tương tự để đánh giá chất lượng dịch vụ (mô hình
RATER).
1.3.4 Bộ Y tế Việt Nam
Do chưa có thang đo nào chuyên biệt về hài lòng về tiêm chủng dịch vụ
nên trong nghiên cứu chúng tôi dựa trên bộ câu hỏi và thang đo hài lòng
người bệnh ngoại trú nằm trong bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của
Bộ Y tế (Quyết định số 3869/QĐ-BYT ngày 28/8/2019) với 33 biến quan sát
dùng để đo lường [39]: Về cơ bản, bộ công cụ này chính là phát triển dựa trên
lý thuyết cơ bản của thang đo SERVPERF trong trường hợp cụ thể với dịch
vụ cụ thể là dịch vụ y tế ngoại trú.
- Tiêu chí “Khả năng tiếp cận” được đo bằng 5 biến quan sát.
- Tiêu chí “Sự minh bạch thông tin và thủ tục khám bệnh, điều trị” bao
gồm 10 biến quan sát.
- Tiêu chí “Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh” được đo
bởi 8 biến quan sát
- Tiêu chí “Thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên y
tế” được đo lường bởi 4 biến quan sát
- Tiêu chí “Kết quả cung cấp dịch vụ” được đo lường bởi 5 biến quan sát.
- Xác định “Nhu cầu quay lại sử dụng dịch vụ” cho những lần tiếp theo:
1 biến quan sát
17
1.3.8. Phân chia mức độ hài lòng
Về việc phân chia mức độ hài lòng mô tả theo thang đo Likert. Thang
đo Likert với câu hỏi đóng một mệnh đề và 5 lựa chọn. Thang đo Likert được phát
triển từ thang đo khoảng bởi nhà tâm lý học người Mỹ Rensis Likert vào năm
1932. Mục tích của thang đo dùng để đo lường “Attitude” – Thái độ, quan điểm.
hướng vào khách hàng của tổ chức với sự hài lòng của khách hàng cũng như
chất lượng dịch vụ y tế, tuy nhiên yếu tố này lại không ảnh hưởng tới yếu tố
giá trị dịch vụ bởi vì nó chịu sự tác động của yếu tố giá cả là một trong những
yếu tố của giá trị dịch vụ [29].
Laith Alrubaiee và Feras Alkaa'ida (2011) đã sử dụng thang đo
SERVQUAL để đo lường các nhân tố của chất lượng 9 dịch vụ y tế ảnh hưởng
tới sự hài lòng của người bệnh bao gồm: sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự cảm
thông, độ tin cậy và tính hữu hình. Đặc biệt, trong nghiên cứu này tác giả đã
chỉ ra mối quan hệ giữa sự hài lòng của người bệnh với sự tin tưởng của người
bệnh đối với bệnh viện, bên cạnh đó tác giả cũng đã làm rõ sự tác động khác
biệt của một số yếu tố như giới tính, độ tuổi, trình độ giáo dục, tình trạng hôn
nhân tới sự hài lòng cũng như sự tin tưởng của người bệnh, cụ thể là bệnh nhân
nam giới và người trẻ tuổi có xu hướng hài lòng cao hơn đối tượng khác [30].
Nghiên cứu về sự hài lòng của bà mẹ về tiêm chủng tại trung tâm chăm
sóc sức khỏe ban đầu tại Ai Cập cho thấy 57,3% bà mẹ đánh giá các dịch vụ
tiêm chủng ở trẻ em tốt và 40,6% bà mẹ cho rằng dịch vụ này không công
bằng, trong khi 2,1% đánh giá là không phù hợp. Kết quả cho thấy 95,2% bà
mẹ hài lòng với dịch vụ tiêm chủng ở các cơ sở chăm sóc sức khoẻ ban đầu,
và có 4,8% cho biết họ không hài lòng. Sự hài lòng về thái độ của nhân viên
chiếm 66,7%, sự hài lòng về nơi chờ đợi là 62,9%, sự hài lòng về thời gian
chờ đợi 61,5%, sự hài lòng về thông tin là 61%, sự hài lòng về chi phí là
50,5%. Nghiên cứu này cũng cho thấy không có sự liên quan có ý nghĩa thống
19
kê giữa sự hài lòng của bà mẹ với dịch vụ tiêm chủng ở trẻ em và điểm kiến
thức; p > 0,05 [31].
Mỗi nghiên cứu lại được các tác giả dựa trên những mô hình đánh giá và
các bộ công cụ khác nhau, phạm vi nghiên cứu cách tiếp cận các vấn đề liên