1
MỤC LỤC
MỞ
ĐẦU........................................................................................................1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ...............................................................................
.........................................................................................................................
9
1.1. Một số khái
niệm............................................................................
.........................................................................................................................
9
1.2. Nội dung, đặc điểm của hoạt động quản lý cán bộ, công
chức cấp xã..........................................................................................
.........................................................................................................................
17
1.3. Sự cần thiết phải quản lý cán bộ, công chức cấp
xã.......................
Chương 2: QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN
PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN
NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.....................................................
.........................................................................................................................
41
2.1. Một số nét khái quát về đặc điểm và những yếu tố tác động đến
quản lý cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.......
.........................................................................................................................
41
2.2. Thực trạng về quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện
Phúc Thọ, thành phố Hà Nội thời gian qua.....................................................
.........................................................................................................................
3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Tổng hợp kết quả tuyển dụng công chức cấp xã từ năm
2010 - 2014.............................................................................................................
50
Bảng 2.2. Tổng hợp kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã từ năm 2010 - Quý I/2015 tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện
Phúc Thọ.................................................................................................................
55
Biểu đồ 2.1. So sánh sử dụng cán bộ, công chức cấp xã là nữ, trẻ năm
2010 và 2014...........................................................................................................
52
Biểu đồ 2.2. Kết quả công tác quy hoạch ủy viên ban chấp hành, ban
thường vụ đảng ủy xã, thị trấn năm 2014 (nhiệm kỳ 2015 - 2020).........................
53
Biểu đồ 2.3. So sánh trình độ cán bộ, công chức cấp xã năm 2010
và 2014....................................................................................................................
56
Biểu đồ 2.4. So sánh kết quả đánh giá, phân loại cán bộ, công chức
cấp xã......................................................................................................................
57
Biểu đồ 2.5. Số lượng cán bộ, công chức cấp xã năm 2014.
.................................................................................................................................
63
4
năm qua, huyện đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện. Để có được
những thành tựu trên là nhờ có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, công
chức ở cấp xã. Họ thực sự là lực lượng nòng cốt trong các phong trào ở cơ sở,
thúc đẩy các hoạt động ở cơ sở phát triển. Tuy vậy, trước yêu cầu nhiệm vụ
6
cách mạng mới, công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã trên địa
bàn huyện đã bộc lộ những bất cập, hạn chế như: Công tác quản lý còn thiếu
sự phối hợp, gắn kết giữa các đơn vị; việc quản lý ở một số nơi còn buông
lỏng, thực hiện chưa đồng bộ, chồng chéo …Vì vậy, công tác quản lý đội ngũ
cán bộ, công chức ở cấp xã đang được đặt ra bức thiết nhằm đáp ứng yêu cầu
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn
huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội hiện nay.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của vấn đề trên và để góp phần cùng
với Đảng bộ, chính quyền địa phương nâng cao hiệu quả công tác quản lý đội
ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã trên địa bàn huyện Phúc Thọ đáp ứng yêu cầu
tình hình mới, tác giả chọn đề tài: “Quản lý cán bộ, công chức ở cấp xã trên
địa bàn huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội hiện nay” để làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã đáp ứng yêu cầu của quá
trình đổi mới đất nước là vấn đề quan trọng, luôn nhận được sự quan tâm của
Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu. Đặc biệt, khi Trung ương Đảng ban
hành Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này cụ thể như:
- Các đề tài khoa học, sách:
Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên): “Luận cứ khoa
Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (đồng chủ biên): “Phát triển nguồn
nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012. Cuốn sách đã trình bày
một số khái niệm cơ bản về nhân lực, nguồn nhân lực, phân tích đặc điểm của
nguồn nhân lực Việt Nam, những vấn đề cơ bản để phát triển nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong đó
các tác giả có đề cập đến vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao mà Luận
8
văn có sự kế thừa và phát triển thêm để làm sáng tỏ vai trò của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã hiện nay.
- Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ:
Trần Duy Hưng: “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống
chính trị cấp huyện ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn
thạc sĩ Lịch sử, 2002. Tác giả đưa ra những cơ sở lý luận, thực tiễn của việc
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp huyện; phân tích
thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm của quá trình xây dựng đội
ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp huyện ở thành phố Hà Nội
trong thời gian qua; đưa ra phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp huyện ở thành phố
Hà Nội hiện nay trong đó có những giải pháp được luận văn sử dụng và phát
triển cho phù hợp.
Dương Hương Sơn: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004. Tác giả làm rõ cơ sở lý luận
của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã;
từ đó đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã ở tỉnh Quảng Trị trong những năm qua; đưa ra các quan điểm, giải
xã thuộc các huyện ngoại thành ở Hà Nội (Từ thực tiễn huyện Đông Anh),
luận văn đã phân tích đánh giá tình hình, tìm ra những nguyên nhân của
những tồn tại, bất cập trong các khâu của quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ,
công chức nói chung, cán bộ, công chức trẻ cấp xã nói riêng và đề xuất những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ này trong quản lý Nhà
nước. Đây là đề tài có góc độ nghiên cứu tương đối gần so với luận văn, có
nhiều nội dung có liên quan. Là cơ sở để triển khai luận văn, nhất là phần cơ
sở lý luận và thực tiễn.
Đỗ Thị Diệp: “Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt các xã ở tỉnh Sơn
La hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2012. Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề
10
lý luận và thực tiễn của chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay;
khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt các xã ở tỉnh
Sơn La; nêu ra các phương hướng và giải pháp chủ yếu để nâng cao chất
lượng đội ngũ ngũ cán bộ chủ chốt các xã ở tỉnh Sơn La giai đoạn hiện nay.
Đặc biệt, những vấn đề đặt ra trong đề tài có liên quan mật thiết đối với
hướng nghiên cứu của luận văn.
- Các bài viết trên báo, tạp chí: Vũ Huy Từ: “Một số giải pháp tăng
cường năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5/2002;
Trần Văn Phòng: “Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị
hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2003; Mai Đức Ngọc: “Vai trò của
cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Báo chí và
Tuyên truyền, số 1/2004; Lê Hương: “Đảng bộ thành phố Hà Nội: Đột phá
mới trong công tác cán bộ”, Báo Hà Nội mới, 2013. Dưới các góc độ
nghiên cứu, các bài viết trên đã đề cập đến nhiều nội dung trong công tác
cán bộ, nhất là có nhiều bài viết đã đề cập đến đội ngũ cán bộ, công chức
những bài học kinh nghiệm về quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã
trên địa bàn huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội hiện nay;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã trên địa bàn huyện Phúc Thọ,
thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý đội ngũ cán bộ,
công chức ở cấp xã trên địa bàn huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Phúc Thọ, thành
phố Hà Nội.
- Về thời gian: Từ năm 2010 đến nay (từ khi bắt đầu nhiệm kỳ Đại hội
đại biểu Đảng bộ huyện Phúc Thọ lần thứ XIX trở lại đây).
12
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về cán bộ, công chức, công tác cán bộ.
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích - tổng
hợp, khái quát hóa, lôgic - lịch sử, thống kê, so sánh, khảo sát thực tế…
6. Những đóng góp mới và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Những đóng góp mới
- Làm rõ các quan niệm, phân tích tính tất yếu phải nâng cao chất lượng
công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã; làm rõ các yếu tố tác
động đến hoạt động quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã.
thường được dùng phổ biến hơn ở các nước tư bản chủ nghĩa, nhất là trong
giai đoạn hiện nay.
Đối với nước ta, thuật ngữ cán bộ được du nhập và sử dụng khá sớm từ
trong kháng chiến chống Pháp và cho đến nay thuật ngữ cán bộ tiếp tục được
sử dụng khá phổ biến, đặc biệt trong các quan hệ công tác xã hội. Tuy vậy,
hiện nay ở nước ta, thuật ngữ cán bộ vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau,
chưa thống nhất.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin xuất bản
năm 1998, cán bộ được hiểu theo hai nghĩa:
1. Người làm việc trong cơ quan nhà nước.
2. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường không
giữ chức vụ trong các cơ quan tổ chức nhà nước [12, tr.249].
Với nghĩa thứ nhất, cán bộ không chỉ bao gồm những người làm công
tác có nghiệp vụ chuyên môn trong các cơ quan Nhà nước mà trong cả hệ
thống chính trị. Bộ phận nghiệp vụ chuyên môn trên đây thường được hình
14
thành thông qua con đường đào tạo, bồi dưỡng từ nhà trường, có trình độ.
Đây là bộ phận đông đảo và ổn định nhất.
Với nghĩa thứ hai, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, tổ
chức của cả hệ thống chính trị. Đây chính là đội ngũ lãnh đạo, quản lý; những
người có chức vụ để phân biệt với người thường, người không có chức vụ; bộ
phận này được hình thành thông qua con đường bầu cử dân chủ hoặc thông
qua đề bạt, bổ nhiệm.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi “cán bộ là công bộc của nhân
dân”, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: Cán bộ là những người
đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và
thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho
chỉ tất cả những người công tác ở các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị,
trong lực lượng vũ trang, trong biên chế, kể cả những người giữ chức vụ lẫn
những người làm chuyên môn, nghiệp vụ không giữ chức vụ.
- Khái niệm công chức.
Trên thế giới, lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ cho thấy, bất cứ
một quốc gia nào, dù là nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa hay là nước đi
theo con đường xã hội chủ nghĩa muốn tổ chức và quản lý tốt xã hội thì Chính
phủ đều phải coi trọng việc xây dựng và quản lý tốt đội ngũ công chức có đủ
phẩm chất và năng lực, đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội và thời đại.
Công chức là thuật ngữ được dùng phổ biến trên thế giới. Mỗi quốc gia có các
điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, do đó mỗi nước đều xây dựng những khái niệm
riêng về công chức cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nước mình.
Đối với nước ta, ngay từ thời kỳ đầu thành lập nước, khái niệm công chức
đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng, hoàn thiện. Nhưng trong mỗi
giai đoạn lịch sử khác nhau để phù hợp với quan niệm về hoạt động công vụ, chế
độ chính trị, văn hóa và lịch sử phát triển đất nước thì nước ta cũng có các khái
niệm về công chức tương ứng. Do đó, quan niệm, phạm vi công chức có lịch sử
phát triển phong phú.
16
Nhìn chung, thuật ngữ công chức ở nước ta qua các giai đoạn đều đã có
sự kế thừa và phát triển phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử cụ thể, từ
đó, làm cho khái niệm công chức ngày càng hoàn thiện.
Những năm mới giành chính quyền, Sắc lệnh 76/SL, ngày 20/5/1950 do
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký về “Quy chế công chức” được xem là văn bản pháp
luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm công chức. Quy chế xác định
rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về tổ chức, quản trị và sử
dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó công chức là những công
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương
được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định
của pháp luật [27].
Nghị định số 06/2010/NĐ-CP của Chính phủ xác định rõ công chức theo
các tiêu chí sau: Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc
được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công
lập.
Tóm lại, dù phạm vi của khái niệm công chức rộng hay hẹp, thì tầm quan
trọng của đội ngũ công chức đối với sự phát triển đất nước nói chung và của nền
công vụ nói riêng là không thể phủ nhận. Ở nước ta do lịch sử hình thành đội
ngũ công chức có đặc điểm khác so với các nước trên thế giới; toàn bộ những
người làm việc ở các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị nước ta là một
khối thống nhất do Đảng lãnh đạo, vì vậy, mặc dù phạm vi khái niệm công chức
có thể mở rộng hơn so với các nước trên thế giới nhưng nhìn chung khái niệm
công chức vẫn thể hiện được sự thống nhất với quan niệm chung của các nước
trên thế giới.
- Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã.
Trong giai đoạn hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về cán bộ, công
chức cấp xã, tuy nhiên có thể khái quát lại thành hai quan điểm nổi bật sau: Theo
18
nghĩa rộng, cán bộ, công chức cấp xã bao gồm cả các đối tượng: Cán bộ chuyên
trách cấp xã, công chức cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách cấp
xã. Theo nghĩa hẹp, cán bộ, công chức cấp xã là thuật ngữ để chỉ những người
làm việc cho các cơ quan quản lý Nhà nước ở cấp xã bao gồm cán bộ cấp xã và
của mỗi cán bộ, công chức cấp xã là khác nhau nhưng đều có mục đích chung là
đảm bảo cho hệ thống chính trị cơ sở đạt hiệu quả. Thực tế cho thấy, đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã rất đông đảo về số lượng, đa dạng về chất lượng, phức tạp
về đặc điểm, tính chất. Do đó, việc xác định đúng đắn các đối tượng cán bộ,
công chức cấp xã có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định các chủ trương,
giải pháp xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu
của thời kỳ mới.
Tóm lại, khái niệm cán bộ, công chức cấp xã là một khái niệm có tính tập
hợp. Để có quan niệm chính xác về cán bộ, công chức cấp xã, trước hết phải tiếp
cận nó như một bộ phận cấu thành của hệ thống cán bộ, công chức Nhà nước.
Từ đó mới có cơ sở để nhận thức đúng đắn về cán bộ, công chức cấp xã. Trong
luận văn, để đảm bảo theo đúng mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn,
tác giả tiếp cận theo nghĩa hẹp của khái niệm cán bộ, công chức cấp xã, tức là
cán bộ, công chức cấp xã để chỉ những người làm việc cho các cơ quan quản lý
Nhà nước ở cấp xã bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã.
1.1.2. Khái niệm quản lý cán bộ, công chức cấp xã
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý, do đó, cũng có nhiều cách
định nghĩa khác nhau về quản lý. Tiêu biểu nhất phải kể đến các quan niệm của
các tác giả nghiên cứu về khoa học quản lý nổi tiếng của phương Tây như:
F.W.Tailor (Mỹ) cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác
làm sau đó biết rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt và rẻ nhất” [48,
tr.34]. H.Fayol (Pháp) định nghĩa: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
huy, phối hợp và kiểm tra” [48, tr.59]. M.Folett (Mỹ) cho rằng, quản lý là nghệ
thuật khiến công việc được làm bởi người khác.
20
Theo giáo trình Khoa học quản lý của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới
bộ, công chức cấp xã.
Thứ ba, đối tượng của công tác quản lý cán bộ, công chức cấp xã là toàn
thể đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã; cá nhân người cán bộ, công chức vừa là
chủ thể nhưng đồng thời vừa là đối tượng của công tác quản lý cán bộ, công
chức cấp xã. Trong mối quan hệ này theo phân cấp quản lý họ là chủ thể quản lý
đối với đối tượng thuộc quyền nhưng trong mối quan hệ với cấp trên họ là đối
tượng của công tác quản lý.
Thứ tư, nội dung của hoạt động quản lý rất phong phú, đa dạng, bao gồm
nhiều khâu có liên quan mật thiết với nhau như: Tuyển chọn, sử dụng cán bộ,
công chức cấp xã; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã; nhận
xét, đánh giá cán bộ, công chức cấp xã; thực hiện chế độ, chính sách; kiểm tra,
giám sát, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức cấp xã. Những khâu trong
quản lý cán bộ, công chức cấp xã gắn bó chặt chẽ với nhau, khâu này làm tiền
đề, điều kiện cho khâu khác.
Thứ năm, mục tiêu quản lý cán bộ, công chức cấp xã nhằm bảo đảm cho
các quy định về cán bộ, công chức, công vụ của Nhà nước được thực hiện thống
nhất trong mọi cơ quan công sở; tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, phát huy khả năng của đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã; làm cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã không ngừng lớn mạnh đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước; hạn chế sự
tùy tiện trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động cán bộ, công chức cấp
xã, tạo mọi điều kiện để cán bộ, công chức cấp xã hết lòng phục vụ Tổ quốc,
nhân dân.
1.2. Nội dung, đặc điểm của hoạt động quản lý cán
bộ, công chức cấp xã
1.2.1. Nội dung quản lý cán bộ, công chức cấp xã
22
23
dẫn của Bộ Nội vụ, xây dựng các văn bản pháp quy về cán bộ, công chức
như xây dựng quy chế tuyển dụng, điều động, miễn nhiệm; xây dựng nội
dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, hướng
dẫn việc tổ chức thực hiện các quy định về cán bộ, công chức cấp xã, thanh
tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định đối với cán bộ, công chức cấp xã,
chỉ đạo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ, công chức, thống
kê số lượng cán bộ, công chức cấp xã.
Nội dung quản lý cán bộ, công chức cấp xã của ủy ban nhân dân cấp
huyện gồm: Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; tổ
chức thi tuyển, xét duyệt, tuyển dụng, điều động bổ nhiệm, miễn nhiệm, cho
thôi việc công chức cấp xã, quản lý công chức và hồ sơ công chức; tổ chức
thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, tổ chức bồi dưỡng
cán bộ, công chức, thanh kiểm tra việc thực hiện các quy định về cán bộ, công
chức, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ, công chức, thống kê đánh
giá số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn cấp huyện.
Nội dung quản lý cán bộ, công chức cấp xã của ủy ban nhân dân cấp
xã gồm: Trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thực hiện các
quy định của pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã, thực hiện kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen
thưởng cán bộ, công chức, đề nghị cơ quan có thẩm quyền của cấp huyện kỷ
luật và xử lý vi phạm đối với cán bộ, công chức, thống kê đánh giá chất
lượng cán bộ, công chức cấp xã.
Như vậy, tiếp cận dưới góc độ này nội dung quản lý cán bộ, công chức
cấp xã bao gồm một hệ thống các quy phạm pháp luật, bao quát toàn bộ các
công việc, cách thức, biện pháp quản lý cán bộ, công chức cấp xã từ Trung
ương đến cơ sở, là căn cứ pháp lý để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền thực hiện nội dung quản lý cán bộ, công chức cấp xã theo sự phân cấp
quản lý.
Chủ thể tuyển chọn cán bộ, công chức cấp xã chính là các cấp ủy đảng,
cơ quan nhà nước có thẩm quyền (trong đó có cả sự tham gia của nhân dân);
25
tuyển chọn cán bộ, công chức cấp xã thực chất là việc Đảng, Nhà nước tìm
kiếm, lựa chọn những con người vừa có đức, vừa có tài để sử dụng hoặc
chuẩn bị sử dụng cho công việc và tổ chức nhất định nhằm phục vụ thực hiện
các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Tuyển chọn cán bộ, công chức cấp xã là hoạt
động có tính nghiệp vụ chuyên sâu của công tác cán bộ, công chức cấp xã đòi
hỏi người tham gia hoạt động này phải có tâm và có tài. Mặt khác, tuyển chọn
cán bộ, công chức cấp xã phải vì nhiệm vụ của tổ chức, vì công việc chứ
không phải vì cá nhân cán bộ, công chức cấp xã mà đặt ra tổ chức, đặt ra công
việc.
Trong tuyển chọn cán bộ, công chức cấp xã phải bảo đảm chế độ dân
chủ, công khai, chọn đúng người có đủ điều kiện và tiêu chuẩn theo từng chức
danh đã được Đảng và Nhà nước quy định. Xây dựng và thực hiện quy trình
tuyển chọn một cách chặt chẽ, thống nhất.
Tuyển chọn cán bộ, công chức cấp xã hiện nay được thực hiện thông
qua hai hình thức cơ bản là: Bầu cử cán bộ chuyên trách và tuyển dụng công
chức cấp xã:
Bầu cử cán bộ chuyên trách cấp xã vào cơ quan lãnh đạo của Đảng ở cơ
sở được thực hiện theo Điều lệ Đảng, cụ thể hơn là Quy chế bầu cử trong
Đảng; việc bầu cử cán bộ chuyên trách cấp xã của hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân xã được thực hiện theo Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân; việc bầu cử cán bộ chuyên trách cấp xã trong các tổ chức chính
trị - xã hội thực hiện theo điều lệ của các tổ chức chính trị - xã hội.
Tuyển dụng công chức cấp xã là quá trình bổ sung những người đủ tiêu
chuẩn, điều kiện vào đội ngũ công chức Nhà nước. Đây là một quá trình