PHÒNG GD& ĐT VĨNH TƯỜNG
TRƯỜNG THCS LÝ NHÂN
CHUYÊN ĐỀ PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM
MÔN: ĐỊA LÍ
Tác giả chuyên đề: Lê Thị Mai
Năm học 2019-2020
1
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU KÉM
MÔN ĐỊA LÍ 9
I. Đặt vấn đề
Nâng cao chất lượng dạy học là một chủ trương của ngành GD&ĐT,
là yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kì đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt bắt đầu từ năm học 2006 - 2007 toàn
ngành giáo dục thực hiện chỉ thị 33/2006 của bộ GD&ĐT về
“Chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và năm
2007-2008 về “Chống học sinh ngồi nhầm lớp”. Đặc biệt chủ đề của năm
học 2008-2009 là “Xây dựng trường học thân thiện - Học sinh tích cực”. Vì
vậy mà nâng cao chất lượng dạy học không chỉ là nâng cao chất lượng tỉ lệ
học sinh khá giỏi mà phải giảm tối đa tỉ lệ học sinh yếu kém, giúp các em
học sinh yếu kém, những học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong
học tập, có điều kiện tiếp tục học lên ở các lớp trên. Muốn vậy, người giáo viên không
chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tích cực của học
sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.
Việc phụ đạo học sinh yếu kém bộ môn là một trong những vấn đề rất
quan trọng, cấp bách, cần thiết và không thể thiếu trong mỗi môn học ở các cấp
học nói chung và ở cấp THCS nói riêng. Đối với bộ môn Địa lí rất cần phụ đạo
trong thực tế.
1.2. Khó khăn
- Đối tượng học sinh yếu có những khác biệt về cách nhận thức, đa phần là do
hoàn cảnh gia đình, kinh tế, lười học hoặc thiếu sự quan tâm của cha mẹ,... Những
điều này đã ảnh hưởng nhiều đến vấn đề học tập của học sinh, từ đó dẫn đến các em
chán nản việc học, hổng kiến thức.
- Đặc điểm của trường là ở nông thôn, điều kiện học tập của một số học sinh
còn khó khăn.
- Mặt khác, còn một bộ phận học sinh ỷ lại, lười suy nghĩ, không chuẩn bị bài ở
nhà, trong giờ học thì lơ là, không tập trung,...làm giảm khả năng tư duy của học sinh.
2. Nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém
- Để nâng cao chất lượng học sinh yêu kém không phải là chuyện một sớm một
chiều mà nó đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên.
- Phụ đạo học sinh yếu kém phải được giáo viên quan tâm nhất là trong tình
hình học tập hiện nay của học sinh, nhưng phụ đạo như thế nào, phương pháp ra sao
thì đó cũng là một vấn đề đòi hỏi giáo viên cần phải không ngừng tìm hiểu.
2.1. Về phía học sinh
Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân học
sinh yếu kém có thể kể đến là do:
- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, nhận thấy rằng các em học sinh
yếu đa số là những học sinh cá biệt, trong lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc
học, về nhà không xem lại bài, không chuẩn bị bài, không làm bài tập, đến giờ học thì
cắp sách đến trường. Còn một bộ phận nhỏ các em chưa xác định được mục đích của
việc học. Các em chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những
nội dung đã học để sau đó về nhà lấy ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó
nói lên điều gì. Chưa có phương pháp và động cơ học tập đúng đắn.
- Khả năng tư duy của học sinh: Môn Địa lí được xem là một môn học cần
nhiều yếu tố để học tốt như: cách tư duy, sự tỉ mỉ, cách tiếp cận của từng cá
nhân nên một số em với lối tư duy sơ sài, lười nhác nên không cảm nhận được
cái hay của môn học. Từ đó, một số em dần mất đi hứng thú học và dẫn đến tình
em. Từ đó các em cam chịu, dần dần chấp nhận với sự yếu kém của chính mình và
nhụt chí không tự vươn lên,...
2.3. Về phía phụ huynh
Còn một số phụ huynh học sinh:
- Thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em, phó mặc mọi việc cho nhà
trường và thầy cô.
- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm
khiến trẻ không chú tâm vào học tập.
- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào các em nên học
sinh lười học, xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, giả bệnh,...) cha mẹ cũng đồng
ý cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần
căn bản,...Từ đó dẫn đến tình trạng yếu kém.
- Bên cạnh đó còn không ít phụ huynh và học sinh còn coi đây là môn phụ nên
chưa quan tâm đến việc học của con em mình.
2.4. Về phía ban giám hiệu
- Trường THCS Lý Nhân đã cố gắng tạo mọi điều kiện từ trang thiết bị đến cơ
sở vật chất, chuyên môn nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho công tác giảng dạy
phụ đạo học sinh yếu kém đối với tất cả các bộ môn trong đó có môn Địa lý. Các loại
4
SGK, sách tham khảo và các loại sách khác nhằm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy
và học tập của học sinh.
- Phòng thư viện luôn có người trực mỗi ngày nhằm tạo điều kiện học và
tìm hiểu kiến thức tốt cho học sinh. Bên cạnh đó, nhà trường còn tạo điều kiện cho
học sinh nghèo mượn SGK và các sách khác để học tập. Tuy nhiên, phòng thư viện có
người trực nhưng lượt người tham gia đọc và tìm hiểu còn hạn chế, chưa tạo được
tính chủ động, lôi cuốn học sinh để tìm hiểu và nâng cao kiến thức hiểu biết của học
sinh.
- Bên cạnh đó còn có nhiều trang thiết bị như tranh ảnh bị rách nát, thiết bị trực
- Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề ra
nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù hợp.
- Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho
đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em
được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị trí đích thực
của mình trong tập thể.
- Ngoài ra, giáo viên tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biện pháp
giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao. Có thể tổ chức phụ đạo 1 buổi trong một
tuần. Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo có thể kết hợp với hình thức vui chơi nhằm lôi
cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề.
3.1.3. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh
- Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh tạo cho học sinh sự hứng
thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy,
giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và
tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. Từ đây, các em sẽ ham thích và say mê
khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức.
- Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh
gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò
chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên
trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học. Đồng thời, giáo
viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh. Do hiện nay, có một
số phụ huynh luôn gò ép việc học của con em mình, sự áp đặt và quá tải sẽ dẫn đến
chất lượng không cao. Bản thân giáo viên cần phân tích để các bậc phụ huynh thể
hiện sự quan tâm đúng mức. Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy cô sẽ tạo động
lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên.
3.1.4. Kèm cặp học sinh yếu kém
- Tổ chức cho học sinh khá, giỏi thường xuyên giúp đỡ các bạn yếu, kém về
cách học tập, về phương pháp vận dụng kiến thức.
- Tổ chức kèm cặp, phụ đạo cho các em. Trong các buổi này, giáo viên chủ yếu
kiểm tra việc lĩnh hội các kiến thức giảng dạy trên lớp, nếu thấy các em chưa chắc cần
5
6
7
8
9
10
11
12
13
Nguyễn Văn Mạnh
Nguyễn Trọng Sáng
Nguyễn Thanh Thủy
Nguyễn Thái Sơn
Nguyễn Thị Thanh Lan
Nguyễn T. Khánh Linh
Lê Thị Huệ
Nguyễn Trung Kiên
Nguyễn Thị Ngọc
Phạm Dương Hiệp
Dương Quốc Hưng
Hoàng Đức Khánh
Đinh Đại Phú
9B
9B
9B
9B
9B
9B
Làm ruộng
Làm ruộng
Làm ruộng
Làm ruộng
Làm ruộng
Làm ruộng
Làm ruộng
Làm ruộng
Làm ruộng
Mức khá
Mức khá
Mức tốt
Mức khá
Mức tốt
Mức tốt
Mức tốt
Mức khá
Mức khá
Mức tốt
Mức tốt
Mức tốt
Mức khá
Kháo
sát
chất
lượng
đầu
năm
sự khích lệ học tập của các em đó. Đồng thời, thúc đẩy được tính đoàn kết hỗ trợ giúp
nhau trong học tập.
- Giáo viên phải nắm được tâm lý học sinh yếu kém, vì kiến thức bị hổng
không theo kịp kiến thức của các bạn dẫn đến ngày càng chán nản, buông thả. Từ
nguyên nhân đó, giáo viên phải có một tâm lý nhẹ nhàng, phóng khoáng, không gò
bó, không áp đặt, mọi tình huống luôn gợi mở. Đồng thời, ưu tiên các bài tập dễ hoặc
câu hỏi dễ.
- Giáo viên tạo ra các nhóm học tập dạy kèm nhau ở nhà (phân bố các em ở nhà
gần nhau), đồng thời đưa ra thi đua ở các nhóm và tổng kết tuyên dương nhóm lớp đó
sau tiết học. Đây là một động lực mạnh thúc đẩy nhằm tạo được sự hòa nhã nhằm
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
b. Bước tiến hành dạy:
- Trước khi tiến hành giảng dạy bài mới giáo viên kiểm tra lại kiến thức cũ các
em yếu kém của các nhóm đã chuẩn bị ở nhà (kiến thức dặn dò ở tiết trước) để nhận
xét, so sánh và tuyên dương gây được hưng phấn khi bước vào tiết học mới.
- Xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức nền (những kiến thức cơ bản, có
nắm được những kiến thức này mới giải quyết được những câu hỏi và bài tập) trong
tiết dạy cần cung cấp, truyền đạt cho học sinh.
- Đối với học sinh yếu kém không nên mở rộng, chỉ dạy phần trọng tâm, cơ
bản, theo chuẩn kiến thức kĩ năng, hoặc làm bài tập nhiều lần và nâng dần mức độ của
bài tập sau khi các em đã nhuần nhuyễn dạng bài tập đó.
8
- Nhắc lại kiến thức kiến thức cơ bản, công thức cần nhớ ở cấp THCS mà các
em đã hổng, cho bài tập lý thuyết khắc sâu để học sinh nhớ lâu.
3.2.4. Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá học sinh
- Kiểm tra đánh giá học sinh theo nhiều khía cạnh, hình thức, nhiều phương
pháp khác nhau: Giáo viên kiểm tra học sinh, học sinh kiểm tra học sinh, đánh giá học
sinh trong cả quá trình học tập,...
động đông đảo trong các nghành công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, khoa học kĩ
thuật.
Ở đây, các từ gạch chân là kiến thức cơ bản, trọng tâm mà học sinh cần ghi nhớ để trả
lời các câu hỏi kiến thức có liên quan.
Câu 1: Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, có tất cả
A. 52 dân tộc
B. 53 dân tộc
C. 54 dân tộc
D. 55 dân tộc
Câu 2: Dân tộc kinh chiếm khoảng bao nhiêu % dân số?
A. 85%.
B. 86%.
C. 87%.
D. 88%.
Ví dụ: Bài 4: Lao động việc làm, chất lượng cuộc sống
I. Nguồn lao động và sử dụng lao động
1. Nguồn lao động
Nguồn lao động của nước ta dồi dào và tăng nhanh. Bình quân mỗi năm nước ta có
thêm hơn một triệu lao động.
Người lao động Việt Nam có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông, lâm, ngư
D. gần hai triệu lao động
Câu 3. Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế đang có sự chuyển dịch theo hướng
A. giảm tỉ trọng ngành nông-lâm-ngư nghiệp, tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ
tăng.
B. tăng tỉ trọng ngành nông-lâm-ngư nghiệp, tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ
giảm.
C. giảm tỉ trọng ngành nông-lâm-ngư nghiệp và công nghiệp, tỉ trọng ngành dịch vụ
tăng.
D. tăng tỉ trọng ngành nông-lâm-ngư nghiệp và công nghiệp, tỉ trọng ngành dịch vụ
tăng.
Tương tự đối với từng bài, tiết theo phân phối chương trình, cung cấp cho học sinh
kiến thức cơ bản, ngắn gọn để học sinh dễ dàng ghi nhớ
2. Dạng bài tính toán với bảng số liệu và các đối tượng địa lí
a. Với bảng số liệu
- Ví dụ: Bảng 10.1. Diện tích gieo trồng, phân theo nhóm cây (nghìn ha)
11
b. Các công thức, cách tính khác
1. Tính độ che phủ rừng (Đơn vị: %)
Ví dụ: Tính độ che phủ rừng nước ta năm 1943 biết diện tích rừng lúc đó là 142500
km2, diện tích cả nước là 331212 km2?
Cách làm: Áp dụng công thức ta có:
độ che phủ rừng= (142500 : 331212) x 100% = 43,0%
2. Tính tỉ trọng trong cơ cấu (Đơn vị: %)
12
Ví dụ: Tính bình quân lương thực có hạt theo đầu người ở Đồng bằng sông Hồng năm
2005 biết số dân ĐBSH lúc đó là 16137000 người, sản lượng lương thực có hạt là
5340 nghìn tấn
Cách làm: Đổi 5340 nghìn tấn = 5340000000 kg
Áp dụng công thức trên ta có:
Bình quân lương thục theo đầu người = 5340000000 : 16137000 = 336,5 kg/người
5. Tính thu nhập bình quân theo đầu người (Đơn vị: USD/người)
Ví dụ: Tính thu nhập bình quân theo đầu người của Hoa Kì năm 2005 biết GDP của
Hoa Kì lúc đó là 12445 tỉ USD và dân số là 296,5 triệu người?
Cách làm: Đổi 12445 tỉ USD = 12445000 triệu USD
Áp dụng công thức trên ta có:
Thu nhập bình quan đầu người = 12445000 : 296,5 = 41975,0 USD/người
6. Tính mật độ dân số.( Đơn vị: người/km2)
Ví dụ: Tính mật độ dân số nước ta năm 2006 biết số dân nước ta lúc đó là 84156000
người và diện tích cả nước là 331212 km2.
14
Cách làm: Áp dụng công thức trên ta có:
Mật độ dân số nước ta năm 2006 = 84156000 : 331212 = 254 người/km2
7. Tính tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên (đơn vị: %)
Tg = S – T
(Tg: Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên; S: tỉ suất sinh thô (‰); S: tỉ suất tử thô (‰))
Ví dụ: Năm 1999, nước ta có tỉ suất sinh thô là: 19,9, tỉ suất tử thô là 5,6. tÍnh tỉ lệ gia
tăng dân số tự nhiên nước ta?
1984
-108,3
1994
-98,4
2003
-496,5
2004
-617,1
3. Dạng bài tập nhận biết và vẽ các loại biểu đồ
a. Biểu đồ tròn.
Dấu hiệu nhận biết
- Sử dụng biểu đồ tròn khi đề yêu cầu vẽ biểu đồ mô tả cơ cấu, tỉ lệ các thành
phần trong một tổng thể.
- Đề ra cho nhiều thành phần để thể hiện trong 1 hoặc 2 mốc năm thì phải lựa
chọn biểu đồ tròn. Chọn biểu đồ tròn khi “ít năm, nhiều thành phần”
Các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ hình tròn
Bước 1: Xử lí số liệu (Nếu số liệu của đề bài cho là số liệu thô ví dụ như tỉ đồng, triệu
người thì ta phải đổi sang số liệu về dạng %)
Bước 2: Chia hình tròn thành những nan quạt theo đúng tỉ lệ và trật tự của các thành
phần có trong đề bài cho
Lưu ý: toàn bộ hình tròn là 360 độ, tương ứng với tỉ lệ 100%. Như vậy, tỉ lệ 1% ứng
với 3,6 độ trên hình tròn
Khi vẽ các nan quạt nên bắt đầu từ tia 12 giờ và lần lượt vẽ theo chiều thuận với chiều
quay của kim đồng hồ. Thứ tự các thành phần của các biểu đồ phải giống nhau để tiện
cho việc so sánh.
15,1
17,0
Cách nhận xét
* Khi chỉ có một vòng tròn:
Ta nhận định cơ cấu tổng quát lớn nhất là cái nào, nhì là, ba là… và cho biết tương
quan giữa các yếu tố (gấp mấy lần hoặc kém nhau bao nhiêu %). đặc biệt là yếu tố lớn
nhất so với tổng thể có vượt xa không?
* Khi có từ hai vòng tròn trở lên (giới hạn tối đa là ba hình tròn cho một bài)
- Nhận xét cái chung nhất (nhìn tổng thế): Tăng/ giảm như thế nào?
- Nhận xét tăng hay giảm trước, nếu có ba vòng trở lên thì thêm liên tục hay không
liên tục, tăng (giảm) bao nhiêu?
- Sau đó mới nhận xét về nhất, nhì, ba … của các yếu tố trong từng năm, nếu giống
nhau thì ta gom chung lại cho các năm một lần (không nhắc lại 2, 3 lần)
Ví dụ 2: Nhận xét biểu đồ đã vẽ ở ví dụ 1
17
Năm 2002 so với năm 1990:
- Tổng diện tích gieo trồng các nhóm cây tăng lên khá nhanh, từ 9040 nghìn ha lên
12831,6 nghìn ha, tăng 1,4 lần.
- Quy mô diện tích gieo trồng của các nhóm cây đều tăng, nhưng tốc độ khác nhau:
+ Diện tích gieo trồng cây lương thực tăng thêm 2065,1 nghìn ha, tăng hơn 1,3 lần
+ Diện tích gieo trồng cây công nghiệp tăng thêm 1492,6 nghìn ha, tăng hơn 2,2 lần.
+ Diện tích gieo trồng cây thực phẩm, cây ăn quả và các cây khác tăng 1276,2 nghìn
ha, tăng hơn 1,9 lần.
- Về tỉ trọng diện tích:
+ Tỉ trọng diện tích cây lương thực giảm khá nhanh từ 71,6% xuống 64,8%.
Bước 2: Vẽ ranh giới của miền. Lấy năm đầu tiên trên trục tung, phân chia khoảng
cách năm theo tỉ lệ tương ứng.
Bước 3: Hoàn thiện biểu đồ. Ghi số liệu vào đúng vị trí từng miền trong biểu đồ đã
vẽ.
Ví dụ 3: Vẽ biểu đồ thể hiện cơ cấu dân số của Nhật Bản theo độ tuổi giai đoạn
1950-2005
Nhóm tuổi
1950
1970
1997
2005
Dưới 15 tuổi
34,4
23,9
15,3
13,9
Từ 15-64 tuổi
59,6
- Tỉ lệ người từ 15-64 tuổi tăng nhanh từ 59,6% lên 66,9% -> tăng 7,3%
- Tỉ lệ người trên 65 tuổi tăng nhanh từ 6,0% lên 19,2% -> tăng 13,2%
-> Nhật Bản có cơ cấu dân số già
c. Biểu đồ hình cột
Dạng này sử dụng để chỉ sự khác biệt về số lượng, khối lượng của 1 hay 1 số đối
tượng địa lí hoặc sử dụng để thực hiện tương quan về độ lớn giữa các đại lượng.
Ngoài ra, biểu đồ cột chồng cũng thể hiện cơ cấu đối tượng (nhưng không thể hiện
được quy mô)
Ví dụ 5: Vẽ biểu đồ so sánh dân số, diện tích,...của 1 số tỉnh (vùng, nước) hoặc vẽ
biểu đồ so sánh sản lượng (lúa, ngô, điện, than,...) của 1 số địa phương qua 1 số
năm.
Dấu hiệu nhận biết
Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thể hiện sự phát triển, so sánh tương quan về độ lớn
các đại lượng của các thành phần (hoặc qua mốc thời gian).
Các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ hình cột
- Bước 1: Chọn tỉ lệ thích hợp
20
- Bước 2: Kẻ hệ trục vuông góc (trục đứng thể hiện đơn vị của các đại lượng, trục
ngang thể hiện các năm hoặc các đối tượng khác nhau)
Cách nhận xét
Trường hợp cột đơn (chỉ có một yếu tố)
Bước 1: Xem xét năm đầu và năm cuối của bảng số liệu để trả lời câu hỏi tăng hay
giảm? Và tăng giảm bao nhiêu? (lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu năm đầu hay
chia cho cũng được)
Bước 2: Xem số liệu ở khoảng trong để trả lời tiếp là tăng (hay giảm) liên tục hay
không liên tục? (lưu ý năm nào không liên tục)
Bước 3: Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào nhanh, giai đoạn nào chậm. Nếu
Bước 4: Hoàn thiện bản đồ (ghi số liệu vào bản đồ, nếu sử dụng kí hiệu thì cần có
bản chú giải cuối cùng ta ghi tên biểu đồ)
Lưu ý :
+ Nếu vẽ 2 hoặc nhiều đường biểu diễn có chung 1 đơn vị thì mỗi đường cần dùng 1
kí hiệu riêng biệt và có chú giải kèm theo
+ Nếu vẽ 2 đường biểu diễn có đơn vị khác nhau thì vẽ 2 trục đứng ở 2 bên biểu đồ,
mỗi trục thể hiện 1 đơn vị ( ví dụ: dạng biểu đồ cột đường kết hợp)
Ta thường lấy số liệu năm đầu tiên là ứng với 100%, số liệu của các năm tiếp theo là
tỉ lệ % so với năm đầu tiên. Sau đó ta sẽ vẽ đường biểu diễn
Ví dụ: Bài 2, SGK Địa lí 9, trang 38
Yêu cầu: Vẽ trên cùng hệ trục toạ độ bốn đường biểu diễn thể hiện chỉ số tăng
trưởng đàn gia súc, gia cầm qua các năm 1990, 1995, 2000 và 2002.
22
Các loại biểu đồ dạng đường:
• Loại có một hoặc nhiều đường vẽ theo giá trị tuyệt đối.
• Loại có một hoặc nhiều đường vẽ theo giá trị tương đối.
Cách nhận xét
Trường hợp thể hiện một đối tượng:
- So sánh số liệu năm đầu và năm cuối có trong bảng số liệu để trả lời câu hỏi: đối
tượng cần nghiên cứu tăng hay giảm? Nếu tăng (giảm) thì tăng (giảm) bao nhiêu?
(lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu năm đầu hay chia gấp bao nhiêu lần)
Trường hợp cột có hai đường trở lên
- Ta nhận xét từng đường một giống như trên theo đúng trình tự bảng số liệu cho:
đường a trước, rồi đến đường b, rồi đến c,d
- Sau đó, tiến hành so sánh, tìm mỗi liên hệ giữa các đường biểu diễn.
- Kết luận
4. Dạng bài dựa vào Atlat địa lí Việt Nam
D. Huế.
Đáp án: D (Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 15)
Một số bài tập dành, cho đối tượng học sinh yếu kém
I. Trắc nghiệm
Câu 1: Tỉnh nào sau đây không thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam?
A. Tây Ninh
B. An Giang
C. Long An
D. Đồng Nai
Câu 2: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 15, hãy cho biết tỷ lệ dân nông thôn ở
nước ta năm 2007? (đơn vị: %)
A. 71,9
B. 72,6
C. 75,8
D. 76,4
Câu 3: Các tỉnh nào sau đây thuộc Tây Bắc?
A. Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai.
B. Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên.
C. Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên.
D. Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La.
Câu 4: Cho bảng số liệu sau:
Tổng sản phẩm trong nước(Đơn vị triệu USD)
Năm
1998
Khu vực
Nông –lâm – ngư nghiệp
27,0
- Dịch vụ
44,5
48,0
Biểu đồ thích hợp nhất thể hiện cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Ấn Độ
từ năm 1995 đến năm 2001 là
A. biểu đồ cột.
B. biểu đồ tròn.
C. biểu đồ miền.
C. biểu đồ đường.
II. Tự luận
Câu 7: Nước ta có những điều kiện thuận lợi gì cho phát triển du lịch?
Câu 8: Ngành dịch vụ của ĐNB phát triển dựa trên những điều kiện thuận lợi gì?
Câu 9: Dựa vào bảng số liệu: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (theo giá thực tế)
phân theo khu vực kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2010
Khu vực kinh tế
1990
2000
2005
2010
Nông-lâm-ngư nghiệp
38,7
24,5
19,3
18,9
Công nghiệp- xây dựng
22,7
36,7
38,1
38,2
VII. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
25