MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIẺN NÔNG THÔN CHI NHÁNH
NAM HÀ NỘI
2.1 Phương hướng hoạt động của Chi nhánh Nam Hà Nội những năm tới:
2.1.2 Các mục tiêu cần đạt được:
Căn cứ vào kết quả đạt được trong năm 2005 và tình hình thực tiễn, những xu
hướng triển vọng trong năm tới, kế hoạch hoạt động kinh doanh của chi nhánh dự kiến
năm 2006 với những mục tiêu như sau:
- Tổng nguồn vốn tăng 15% : đạt 9.450 tỷ đồng.
- Tổng dư nợ địa phương tăng 10% : đạt 2.020 tỷ
- Nợ xấu (Từ nhóm 3 đến nhóm 5) : 2% /trên tổng dư nợ địa phương
- Tỷ lệ cho vay trung dài hạn : 50% trên tổng dư nợ.
- Tỷ lệ tiền gửi dân cư giữ mức 30%/ tổng nguồn vốn.
- Quỹ thu nhập: 135 tỷ
- Thu dịch vụ:>10%
- Từng bước cải thiện cơ cấu nguồn vốn theo hướng ổn định và hiệu quả.
- Không để xảy ra bất cứ trường hợp vi phạm quy chế điều hành kế hoạch, quản lý
hạn mức dư nợ, quy chế quản lý lãi suất....
2.1.2 Một số giải pháp chủ yếu:
* Huy động vốn
- Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn, nhất là các nguồn vốn ổn định, hiệu quả. Đa
dạng hoá các hình thức huy động vốn.
- Tăng cường công tác tiếp thị, đổi mới phong cách giao dịch, xây dựng văn hoá
doanh nghiệp tạo môi trường kinh doanh tốt.
- Tiếp tục tiếp cận và phát triển dịch vụ quản lý giải ngân các dự án nước ngoài.
- Củng cố, nâng cấp mạng lưới giao dịch.
* Công tác tín dụng
- Xây dựng chính sách đối với khách hàng về lãi suất, phí, hạn mức tín dụng.
- Duy trì và phát triển mối quan hệ với các khách hàng lớn hoạt động kinh doanh có
hiệu quả, gắn đầu tư tín dụng với việc phát triển các dịch vụ Ngân hàng như: tiền gửi thanh
+ Thực hiện việc thẩm định DA một cách nhanh nhạy, có chất lượng nhằm đáp ứng
kịp thời nhiệm vụ kinh doanh của chi nhánh.
+ Tất cả các DA sản xuất kinh doanh trong quá trình thẩm định phải được kiểm tra
thực tế tại DN và nơi thực hiện DA.
+ Mở rộng tín dụng trên cơ sở an toàn và hiệu quả, đặc biệt là mở rộng thêm khách
hàng, nhất là các Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Kinh tế hộ gia đình Kế hoạch tín dụng vẫn
được giao trên cơ sở đăng ký và tuỳ thuộc vào khả năng quản lý nợ của từng đơn vị.
+ Kiên quyết không cho vay đối với những đơn vị làm ăn kém hiệu quả, DA sản
xuất kinh doanh không rõ ràng, có nợ nần dây dưa đối với ngân hàng.
- Tăng cường việc kiểm soát trước khi cho vay, thông qua việc thẩm định cho
vay từ bộ phận tín dụng trước khi trình lãnh đạo phê duyệt. Thường xuyên kiểm tra, theo
dõi diễn biến của khoản nợ đã thẩm định cho vay để giúp lãnh đạo trong công tác điều
hành kịp thời.
- Nâng cao trình độ kỹ năng, phương pháp thẩm định cho đội ngũ cán bộ làm
công tác thẩm định . Xây dựng làm tốt công tác kiểm tra chuyên đề thẩm đinh.
2.2 Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện công tác thẩm định dự án sản xuất kinh
doanh của DNNVV:
Việc xây dựng các giải pháp cụ thể đối với công tác thẩm định dự án SXKD của các
DNNVV không những phải dựa trên những định hướng đối với hoạt động này mà cần phải
dựa trên tình hình thực tế tại NH để có cái nhìn tổng quan về điểm mạnh (S), điểm yếu
(W), cơ hội (O) và nguy cơ (T) mà NH sẽ phải đối mặt. Sau đây là phân tích mô hình
SWOT trong công tác thẩm định dự án của các DNNVV tại NH:
Điểm mạnh:
- NH có trụ sở đặt tại Quận Thanh Xuân,
nằm trên đường Giải Phóng, đây là khu vực có
nhiều cơ sở kinh tế lớn và đang trong quá trình đô
thị hóa
- Đội ngũ cán bộ tín dụng trẻ có trình độ đều
tốt nghiệp đại học trở lên, ham học hỏi và dễ tiếp
thu các kỹ thuật mới trong công tác thẩm định
tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV thuộc mọi
thành phần kinh tế phát triển. Sự phát triển và gia
tăng về số lượng DNNVV hiện nay là cơ hội mở
rộng thị phần cho vay của NH đối với các khách
Thách thức:
- Các NH cạnh tranh trên địa bàn đang
đưa ra những chiến lược mới với những ưu đãi hấp dẫn
để thu hút nhóm khách hàng là DNNVV
- Các DNNVV hoạt động trong nhiều
lĩnh vực của nền kinh tế, do đó CBTD sẽ gặp nhiều khó
hàng tiềm năng này.
- Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu sẽ giúp cho quá trình phân loại các DN
làm ăn kém hiệu quả và các DN làm ăn hiệu quả.
Chỉ những DN có tiềm năng thực tế mới tồn tại
và phát triển. Quá trình trên giúp NH lựa chọn
được những DN tốt, chất lượng công tác thẩm
định được đảm bảo hơn.
khăn trong thẩm định các DA thuộc ngành mới hoặc
không thuộc chuyên môn của CBTD.
- DA của các DNNVV thường sơ sài
và thiếu căn cứ khoa học do những yếu kém khả năng
điều hành quản lý, khả năng lập DA, do đó cũng ảnh
hưởng tới chất lượng thẩm định
- Nền kinh tế nước ta đang chịu tác
động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hoạt
động của các DNNVV sẽ có nhiều biến động, tiềm ẩn
những rủi ro lớn, do đó công tác thẩm định sẽ gặp
nhiều khó khăn trong việc dự báo rủi ro thị trường của
DA.
năng quan sát nhạy bén của mỗi CBTD. Vì vậy, mỗi CBTD sẽ có những “nghệ thuật” khai
thác thông tin khác nhau dựa trên kinh nghiệm tích lũy của bản thâm.
Thứ ba, từ CIC: đây là nơi lưu giữ thông tin cơ bản, cần thiết về DN, tình hình công
nợ, mức độ tín nhiệm tín dụng… còn các thông tin mang tính chuyên môn cao, và không
có sẵn như thông tin về kỹ thuật, máy móc… trong trường hợp cần thiết, NH có thể tiến
hành mua từ các cơ quan, công ty chuyên cung cấp thông tin.
Để có thể thu thập được những thông tin chính xác và hữu ích từ CIC thì ngoài việc
NH phải có thiết bị nối mạng trực tiếp với trung tâm CIC thì NHNo Nam Hà Nội nói riêng
và các NH khác nói chung cần phải chấp hành đúng các quy định về việc cung cấp thông
tin cho CIC, có thái độ tích cực hợp tác với nhau để trao đổi thông tin về khách hàng
Thứ tư, CBTD cũng phải tìm hiểu các nguồn thông tin khác từ các phương tiện
thông tin đại chúng như: báo chí, các tập san chuyên ngành và đặc biệt thông tin trên trang
Web nhằm điều tra kỹ lưỡng các thông tin về thị trường sản phẩm, kênh phân phối, thị
trường yếu tố đầu vào, đầu ra, khả năng tiêu thụ sản phẩm; tham khảo các thông tin về chủ
trương, chính sách của Nhà nước, định hướng ưu tiên phát triển của ngành, địa phương mà
DN đang hoạt động.
Thứ năm, bản thân trong nội bộ NH: cần tiếp tục sử dụng hiệu quả hệ thống IPCAS
lưu trữ thông tin về khách hàng để phục vụ hữu ích cho công tác thẩm định. Ngoài ra NH
có thể lập một phòng ban riêng, được trang bị đầy đủ thiết bị và phương tiện để chuyên thu
thập, nghiên cứu, phân tích và dự báo thông tin. Các cán bộ làm việc tại phòng có nhiệm
vụ chuyên thu thập các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, sau đó thực hiện xử lý và lưu
giữ chúng. Những thông tin mà CBTD thu thập được trong quá trình thẩm định DN và
phương án sản xuất kinh doanh sẽ được lưu giữ lại đây. Như vậy thông tin về DN vay vốn
không những đầy đủ cập nhật, mà còn được lưu giữ một cách khoa học hợp lý, tạo thuận
lợi cho CBTD trong việc tìm kiếm.
2.2.2 Về hoàn thiện công tác tổ chức thẩm định
Hoàn thiện công tác tổ chức thẩm định dự án sản xuất kinh doanh của DNNVV là
yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định trực tiếp tới sự thành công hay thất bại của quá trình
thẩm định. Do vậy, NH cần sớm có các giải pháp khắc phục những tồn tại trong khâu tổ
chức thẩm định để tạo thuận lợi cho công việc của CBTD, từ đó nâng cao chất lượng tín
hưởng rất lớn đến công tác thẩm định dự án của DNNVV nói chung và thẩm định khách
hàng nói chung. Kinh nghiệm nhiều NH cho thấy, họ đã triển khai thực hiện giải pháp này
và tỏ ra rất hiệu quả. Do vậy để giảm bớt khối lượng công việc cho CBTD cũng như nâng
cao chất lượng công tác thẩm định, NHNo Nam Hà Nội cần lựa chọn phương án tối ưu để
triển khai thực hiện theo giải pháp này.
2.2.3 Hoàn thiện nội dung thẩm định
* Đối với nội dung thẩm định khách hàng vay vốn
Việc đánh giá các thông tin về khách hàng vay vốn là một việc không đơn giản, bởi
không phải lúc nào tình hình tài chính của các doanh nghiệp cũng được công khai. Do vậy
trước mắt ngân hàng cần yêu cầu các báo cáo tài chính của doanh nghiệp nộp lên phải được
kiểm toán. Bên cạnh đó ngân hàng cũng nên tăng cường thiết lập mối quan hệ với các cơ
quan chức năng nhằm có những đánh gía đầy đủ hơn về doanh nghiệp. Để đưa ra những
kết luận chính xác hơn về tình hình của doanh nghiệp, ngân hàng cũng nên áp dụng các
phương pháp khác nhau trong phân tích tài chính doanh nghiệp như: phương pháp phân
tích tỷ lệ, phương pháp đối chiếu logic… vì thực tế hiện naysố lượng các chỉ tiêu dùng để
đánh giá chưa nhiều
* Đối với nội thẩm định phương diện kỹ thuật
Cán bộ thẩm định cần quan tâm hơn đến phân tích khía cạnh kỹ thuật của dự án.
Thực chất họ rất khó có thể làm tốt được điều này, bởi lẽ ngân hàng hiện nay chưa có
nhiều cán bộ có chuyên môn cả về nghiệp vụ lẫn kỹ thuật, đa số họ đều tốt nghiệp từ các
trường khối kinh tế, trình độ nhận biết cũng như khả năng thu thập thông tin là có hạn. Các
chỉ tiêu của Chính phủ, của Bộ ngành liên quan chưa đầy đủ, chưa phù hợp với tình hình
hiện tại của nền kinh tế, còn ngân hàng cũng chưa có một hệ thống chỉ tiêu về kinh tê- kỹ
thuật chuẩn phục vụ cho công tác thẩm định dự án. Do đó để trợ giúp cho cán bộ thẩm định
đánh giá kỹ thuật, ngân hàng cần sớm nghiên cứu ban hành những chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản
phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể (như các tiêu chuẩn về công nghệ, máy móc,
thiết bị được sử dụng,…) làm cơ sở để cán bộ thẩm định tham chiếu.Trong trường hợp
những dự án quá phức tạp, ngân hàng nên thuê các chuyên gia có chuyên môn phù hợp
thẩm định nội dung kỹ thuật nhằm rút ngắn thời gian thẩm định
* Đối với nội dung phân tích thị trường