TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI VÀ VẤN ĐỀ XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI - Pdf 63

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI VÀ VẤN ĐỀ XÂM
NHẬP THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI
I. Tổng quan về vấn đề xâm nhập thị trường nước ngoài
1. Khái niệm thị trường trong kinh tế học
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào
đó, với nghĩa này có thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường chứng khoán, thị trường
vốn, v.v... Ở một nghĩa hẹp khác, thị trường là một nơi nhất định mà tại đó diễn ra các hoạt
động mua bán hàng hóa và dịch vụ. Trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, đó
là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người
mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào. Thị trường
đảm nhiệm 03 chức năng chủ yếu, đó là:
- Thứ nhất, thừa nhận công dụng xã hội của hàng hóa (giá trị sử dụng xã hội) và lao
động đã chi phí để sản xuất ra nó, thông qua việc hàng hóa đó có bán được hay không, bán
với giá thế nào.
- Thứ hai, cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng thông qua
những biến động của nhu cầu xã hội về số lượng, chất lượng, chủng loại, cơ cấu của các
loại hàng hóa, giá cả, tình hình cung cầu về các loại hàng hóa.
- Thứ ba, kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng.
Trong kinh tế học, thị trường được chia thành ba loại căn cứ theo chức năng: thị
trường hàng hóa - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động, và thị
trường tiền tệ. Ngoài ra, thị trường còn có thể phân loại theo phạm vi quốc gia: thị trường
nội địa (thị trường trong nước) và thị trường nước ngoài.
- Thị trường nội địa (thị trường trong nước) là thị trường giới hạn trong phạm vi
một quốc gia.
- Thị trường nước ngoài là thị trường ở ngoài biên giới một quốc gia, đây là thị
trường rộng lớn và đa dạng với nhiều đặc điểm khác nhau, thậm chí có cả những đặc điểm
đối nghịch về văn hóa, tập quán, sở thích, phương thức vận hành, lưu thông…
2. Khái niệm xâm nhập thị trường nước ngoài
Mở rộng thị trường là kết quả của chiến lược xâm nhập thị trường thành công, trong
đó đi kèm với nó là tăng thị phần, lợi nhuận và sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ. Khái
niệm “mở rộng thị trường” ở đây không chỉ là phát triển, khai thác thị trường mới theo bề

đáng kể); thứ hai là có thể thực hiện được lợi thế chi phí và lợi thế vị trí. Bằng việc sản
xuất sản phẩm ở một địa điểm tập trung và sau đó xuất khẩu sang khác thị trường nước
ngoài khác, công ty có thể thực hiện được lợi thế quy mô đáng kể qua khối lượng bán cho
thị trường toàn cầu của mình. Hiệu quả của chiến lược xuất khẩu là nhằm làm cho sản
phẩm hàng hóa thích ứng và thỏa mãn được nhu cầu của các khách hàng và sự ưa thích của
thị trường, đồng thời làm cho chính sách giá cả, phân phối và truyền thông liên kết chặt
chẽ trong một chiến lược marketing tổng thể. Tuy nhiên, xuất khẩu cũng có một số nhược
điểm. Thứ nhất, các sản phẩm xuất khẩu được sản xuất từ cơ sở của các công ty ở chính
quốc có thể không phù hợp với nhu cầu và điều kiện thị trường địa phương. Thứ hai, chi
phí vận chuyển cao có thể làm cho việc xuất khẩu trở nên không kinh tế, đặc biệt trong
trường hợp các sản phẩm cồng kềnh. Các hàng rào thuế quan cũng có thể làm cho việc xuất
khẩu giảm hiệu quả kinh tế. Cuối cùng, những rủi ro bắt nguồn từ nguyên nhân ít kinh
nghiệm xuất khẩu, ít am hiểu thị trường của các công ty mới bắt đầu xuất khẩu.
3.2. Nhượng quyền thương hiệu
Nhượng quyền thương hiệu là cách thức mà một doanh nghiệp cho phép một doanh
nghiệp khác nào đó được sử dụng tài sản vô hình của mình như quy trình sản xuất, thương
hiệu, sáng chế, bí mật kinh doanh để thu về khoản phí sử dụng những tài sản vô hình đó.
Thông qua hình thức này, bên nhượng quyền thương hiệu có thể xâm nhập thị trường với ít
rủi ro trong khi bên nhận nhượng quyền nhận được những kỹ năng chuyên môn trong sản
xuất, một hàng hóa, dịch vụ hay một tên tuổi danh tiếng nào đó mà không cần phải bắt đầu
từ đầu. Nhượng quyền thương hiệu cũng có những hạn chế có thể xảy ra, ví dụ như doanh
nghiệp ít có khả năng kiểm soát hơn đối với bên nhận nhượng quyền khi bên nhận nhượng
quyền có thể tự xây dựng cơ sở vận hành riêng cho mình. Hơn nữa, nếu như bên nhận
nhượng quyền thương hiệu hoạt động thành công thì cũng có nghĩa là bên nhượng quyền
để mất đi lợi nhuận mình đáng có. Khi kết thúc hợp đồng nhượng quyền giữa hai bên, bên
nhượng quyền có thể sẽ nhận ra rằng mình đã tạo ra một đối thủ cạnh tranh.
3.3. Đầu tư trực tiếp
Đầu tư trực tiếp là hình thức sở hữu trực tiếp đối với nhà xưởng máy móc thiết bị
đầu tư tại một nước nào đó. Đầu tư trực tiếp liên quan đến việc chuyển giao tiền vốn, con
người và công nghệ. Đầu tư trực tiếp có thể được thực hiện qua hình thức mua lại một

về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị... Vì vậy, các nước này đều có
chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có lợi thế (những mục
tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong
nước, khu vực và trên thế giới). Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần
hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu
hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị
trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu
đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực
hạn chế, có khả năng sinh lời cao. Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các
nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn
toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Nguồn vốn viện trợ
ODA còn gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm. Cụ thể
là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá,
dịch vụ do nước viện trợ sản xuất. Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng
ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý
của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng nước viện trợ có thể tham gia
gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.
4. Nguyên nhân và quá trình hình thành xu hướng xâm nhập thị trường nước ngoài
4.1. Nguyên nhân xuất hiện xu hướng xâm nhập thị trường nước ngoài
4.1.1. Nâng cao lợi ích kinh tế đối với bản thân các doanh nghiệp
Xu hướng thâm nhập thị trường nước ngoài ra đời để thỏa mãn nhu cầu mở rộng thị
trường, nâng cao lợi nhuận trong lĩnh vực sản xuất và trao đổi, buôn bán hàng hóa, dịch vụ.
Khi thị trường nội địa đã được các doanh nghiệp khai thác triệt để và tận dụng tối đa mọi
ưu thế của thị trường về nguồn nhân lực, quy mô tiêu thụ, thị trường nội địa trở thành một
cơ sở vững chắc để các doanh nghiệp tìm hiểu và tận dụng thị trường lao động giá rẻ và thị
trường tiêu thụ đầy tiềm năng ở nước ngoài. Thị phần mở rộng tất yếu mang lại nguồn lợi
khổng lồ cho các doanh nghiệp về doanh thu, quảng bá hình ảnh và uy tín của doanh
nghiệp trên trường quốc tế, đồng thời còn tạo cho các nhà kinh doanh cơ hội cải thiện cơ
cấu sử dụng lao động, và giá thành sản phẩm. Cơ hội đầu tiên đối với các nhà kinh doanh
là tìm đến những thị trường có nguồn lao động rẻ, nguồn tài nguyên, nhiên liệu dồi dào,

vào” thỏa mãn “cơn khát” năng lượng, tài nguyên của nền công nghiệp nội địa.
4.1.3. Nâng cao vị thế chính trị của quốc gia trên trường quốc tế
Trong kỷ nguyên mới của toàn cầu hóa, mỗi quốc gia đều cần nhận thức được rõ
ràng vị thế của mình trên chính trường quốc tế. Mặt trái của toàn cầu hóa là sự phân biệt
giàu nghèo, sức ảnh hưởng mang tính kiểm soát của những thế lực lớn trong kinh tế thế
giới, và sự “lép vế” trong quan hệ ngoại giao, phân chia lợi ích kinh tế của các nước “tầm
vóc” kinh tế bé nhỏ hơn. Bởi thế, càng nâng cao sức ảnh hưởng trên thương trường, các
quốc gia càng có nhiều lợi thế để thúc đẩy tiếng nói của mình trên chính trường quốc tế,
đây là định hướng phát triển lâu dài mà quốc gia nào trên thế giới cũng khát khao hướng
đến. Xu hướng thâm nhập, mở rộng thị trường, đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt là
toàn cầu hóa kinh tế sâu rộng như hiện nay, trở thành một nhu cầu phát triển cực kỳ quan
trọng phục vụ cho mục đích chính trị của các nền kinh tế.
4.2. Quá trình hình thành và phát triển xu hướng xâm nhập và mở rộng thị trường
nước ngoài
Xâm nhập và mở rộng thị trường gắn liền với quá trình toàn cầu hóa kinh tế, những
mục tiêu toàn cầu hóa kinh tế đặt ra có thế nói phần lớn đã được thực hiện hiệu quả thông
qua chiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài
người, quá trình toàn cầu hóa kinh tế gắn liền với xâm nhập và mở rộng thị trường bắt
nguồn từ những giao lưu văn hóa, buôn bán, di dân; từ sự mở rộng các tôn giáo ra ngoài
biên giới các quốc gia, và cho đến nay là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia, các
ngân hàng, các tổ chức quốc tế, sự trao đổi công nghệ, sự phát triển gắn với hiện đại hoá.
Có thể nói, quá trình này là kết quả của sự quốc tế hoá sản xuất cao độ và phân công quốc
tế, nó xuất hiện và phát triển cùng với thị trường thế giới.
4.2.1. Giai đoạn 1
Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất phát triển thấp, giao thông kém phát
triển, quy mô sản xuất và trao đổi nhỏ bé, thị trường khép kín, không có thị trường mang ý
nghĩa hiện đại. Khi nền sản xuất tư bản phát triển, thị trường thế giới mở rộng, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã viết: “Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm
trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản
phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các

tác, cạnh tranh và cùng nhau phồn vinh của các quốc gia dân tộc. Và khái niệm toàn cầu
hoá hiện đại gắn liền với xâm nhập và mở rộng thị trường trở thành xu thế khách quan
đang diễn ra trong thời đại hiện nay. Lịch sử của quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh
tế rất lâu dài, và phải thấy rằng, cơ cấu của toàn cầu hoá bắt đầu từ sự hình thành nhà nước,
quốc gia dân tộc và tư nhân hoá - những cỗ xe đi đến hiện đại. Kết quả tất yếu là sự mở
rộng thị trường thế giới. Mở rộng thị trường thế giới gắn với việc phát triển lực lượng sản
xuất của chủ nghĩa tư bản và cả quan hệ sản xuất của chủ nghĩa tư bản. Sự hiện đại hoá lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của chủ nghĩa tư bản dẫn tới toàn cầu hoá. Nó đi trước
và quyết định quá trình toàn cầu hóa. Song, cho đến nay, toàn cầu hóa lại là một trong
những điều kiện để hiện đại hóa thế giới, bất chấp ý muốn của ai. Sự phát triển của phương
Tây thúc đẩy hiện đại hóa, toàn cầu hóa. Bởi vậy, việc hiện đại hóa của thế giới, trong đó
có các nước đang phát triển ở phương Đông không thể bỏ qua một thực tế là phải hiện đại
hóa theo những kinh nghiệm của phương Tây trên nền văn hóa của phương Đông. Các nền
kinh tế của các quốc gia gắn bó và tùy thuộc vào nhau, dần dần hình thành một thể thống
nhất, xóa dần đi những ngăn trở và khoảng cách về nhiều phương diện. Nền sản xuất và thị
trường tiêu thụ thế giới mang tính toàn cầu. Phân công lao động quốc tế đã đạt tới trình độ
rất cao, không chỉ giới hạn ở chuyên môn hoá sản phẩm mà đã là chuyên môn hóa các chi
tiết sản phẩm. Với phương châm kinh doanh lấy thế giới làm nhà máy của mình, lấy các
nước làm phân xưởng của mình, các nước có thể lợi dụng ưu thế kỹ thuật, tiền vốn, sức lao
động và thị trường của nước khác, từ đó thúc đẩy quốc tế hoá sản xuất phát triển nhanh
chóng, đồng thời khuyếch đại thị trường tiêu thụ sản phẩm trên toàn cầu. Các công ty
xuyên quốc gia phát triển chưa từng có trong lịch sử và đóng vai trò hết sức quan trọng, nó
thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá và khu vực hóa. Theo thống kê của Liên hợp quốc, năm 1996,
thế giới có 44.000 công ty xuyên quốc gia, trong đó 28.000 công ty con có tổng giá trị sản
xuất chiếm 40% GDP thế giới, chiếm 50% giá trị thương mại của thế giới. Tổng kim ngạch
tài sản năm 1996 của các công ty xuyên quốc gia này lên tới 3.200 tỷ USD. Hàng năm đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài của chúng chiếm 90% đầu tư trực tiếp của thế giới. Năm 1998,
các vụ sáp nhập đã lên đến 2.500 tỷ USD. Năm 1999, riêng 10 vụ sáp nhập các công ty lớn
trên thế giới đã lên tới 1.500 tỷ USD. Vụ sáp nhập 3 ngân hàng lớn ở Nhật Bản vào tháng
8/1999 với 1.200 tỷ USD, đã bằng tổng giá trị 7.700 vụ sáp nhập năm 1998. Năm 2000,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status