TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TỶ GIÁ VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO
TỶ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
Chương này đưa ra cái nhìn tổng quát về rủi ro tỷ giá và quản lý rủi ro tỷ giá.
Những lý thuyết được đưa ra ở trên là nền móng cho việc nghiên cứu thực tế phòng ngừa
rủi ro tỷ giá của đơn vị thực tập. Đồng thời đưa ra những ý kiến phù hợp cho vấn đề quản
lý rủi ro tỷ giá của doanh nghiệp hiệu quả hơn.
1.1 Rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu
1.1.1 Rủi ro
Cho đến nay vẫn chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro, những trường phái
khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa
này rất đa dạng phong phú nhưng tóm lại có thể chia thành hai trường phái chính.
Theo trường phái truyền thống, rủi ro là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát,
nguy hiểm. Nó được xem là điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản
hay sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi ro còn được hiểu là những
bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác
động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Tóm lại, theo quan điểm này
thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm,
khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.
Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang
tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho
con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên
cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu
cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.
Có nhiều cách để phân loại rủi ro. Tuy nhiên, nhìn chung, rủi ro được phân làm 8
dạng như sau:
Rủi ro do môi trường thiên nhiên.
Rủi ro do môi trường văn hóa.
Rủi ro do môi trường xã hội.
Rủi ro do môi trường chính trị.
Rủi ro do môi trường luật pháp.
Rủi ro do môi trường kinh tế.
đựng rủi ro tỷ giá.
- Nếu đến hạn thanh toán, USD tiếp tục lên giá so với VND thì bên cạnh lợi nhuận
do hoạt động xuất khẩu đem lại, công ty kiếm thêm được khoản lợi nhuận tăng thêm do
USD lên giá (khi tỷ giá USD/ VND lớn hơn 16.850).
- Ngược lại, nếu đến hạn thanh toán, USD xuống giá so với VND thì doanh thu kỳ
vọng bằng VND của hợp đồng xuất khẩu trên giảm đi. Sự sụt giảm này làm cho lợi nhuận
kỳ vọng từ hợp đồng xuất khẩu giảm đi, nghiêm trọng hơn có thể khiến cho hợp đồng trở
nên lỗ nếu như sự sụt giá USD quá mạnh. Chẳng hạn, vào ngày thanh toán nếu USD/VND
= 16.500 thì cứ mỗi USD xuất khẩu công ty tổn thất 350VND do USD xuống giá. Toàn bộ
hợp đồng trị giá 200.000USD, công ty bị thiệt hại 350x200.000 = 70.000.000 VND. Do
đó, sự thiệt hại có thể lớn hơn khi tỷ giá giảm mạnh hơn.
1.1.4 Rủi ro tỷ giá đối với hoạt động nhập khẩu
Trong hoạt động NK, vì lý do thiếu hụt vốn và nhiều lý do khác khiến DN thường
xuyên NK hàng trả chậm trong một khoảng thời gian nhất định. Ở thời điểm ký kết hợp
đồng, tỷ giá ngoại tệ so với VND đã biết. Nhưng đến thời điểm thanh toán, tỷ giá như thế
nào DN chưa biết. Đơn giản là vì điều này chưa xảy ra. Chính sự chưa biết rõ tỷ giá này
tiềm ẩn rủi ro tỷ giá. Ví dụ dưới đây minh họa cách nhận dạng rủi ro tỷ giá khi DN ký kết
một hợp đồng NK.
Ví dụ :
Giả sử ngày 04/08 công ty Cholonimex đang thương lượng ký kết hợp đồng NK trị
giá 200.000USD. Hợp đồng sẽ đến hạn thanh toán 6 tháng sau kể từ ngày ký hợp đồng. Ở
thời điểm thương lượng hợp đồng, tỷ giá USD/VND = 16.850 trong khi tỷ giá ở thời điểm
thanh toán chưa biết. Sự không chắc chắn của tỷ giá USD/VND vào thời điểm thanh toán
khiến cho hợp đồng NK của Cholonimex chứa đựng rủi ro tỷ giá.
- Nếu đến hạn thanh toán, USD xuống giá so với VND thì bên cạnh lợi nhuận do
hoạt động NK đem lại, công ty còn kiếm thêm được khoản lợi nhuận tăng thêm do USD
xuống giá so với VND làm cho chi phí NK giảm tương đối.
- Ngược lại, nếu đến hạn thanh toán USD lên giá so với VND thì chi phí NK kỳ
vọng bằng VND của hợp đồng NK trên tăng lên. Sự gia tăng chi phí này làm cho lợi
nhuận kỳ vọng từ hợp đồng NK giảm đi thậm chí khiến cho hợp đồng có thể trở nên lỗ
- Nhận cổ tức đầu tư bằng ngoại tệ.
Tổn thất các khoản phải trả ngoại tệ là tổn thất phát sinh khi giá trị qui ra nội tệ
chi ra tăng lên do ngoại tệ lên giá so với nội tệ. Có thể phát sinh từ những hoạt động sau
đây:
- Hoạt động nhập khẩu phải chi trả bằng ngoại tệ
- Trả nợ vay ngoại tệ
- Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp ra nước ngoài bằng ngoại tệ
- Trả lãi vay bằng ngoại tệ
- Trả cổ tức đầu tư bằng ngoại tệ.
Tổn thất giao dịch ngoại hối lớn hay nhỏ tùy thuộc vào hai biến:
(1): Giá trị tài sản tính bằng ngoại tệ.
(2): Mức độ thay đổi tỷ giá.
Do đó, nếu gọi:
∆V là tổn thất ngoại hối
∆S là mức độ thay đổi tỷ giá, ∆S = S
t
– S
0
, trong đó S
t
, S
0
lần lượt là tỷ giá ở thời
điểm t và thời điểm gốc.
V là giá trị tài sản tính bằng ngoại tệ.
Thì ta có hàm tổn thất giao dịch ngoại hối như sau: ∆V = V. ∆S. Đây là hàm bậc nhất có
dạng y = ax trong đó V chính là hệ số góc, dùng để đo lường mức độ tổn tất giao dịch
ngoại hối.
• Tổn thất kinh tế
Tổn thất kinh tế là tổn thất phát sinh do sự thay đổi của tỷ giá làm ảnh hưởng đến
0
, trong đó S
t
, S
0
lần lượt là tỷ giá ở thời
điểm t và thời điểm gốc.
Tổn thất kinh tế khó xác định và ước lượng hơn tổn thất giao dịch, do nó phụ thuộc
vào cả hai biến cùng thay đổi là CF
t
và ∆S
t
.
• Tổn thất chuyển đổi