1
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty cổ
phần thép Việt - Ý giai đoạn 2004 – 2007
1. Tổng quan về công ty cổ phần thép Việt – Ý.
1.1. Thông tin chung về công ty và những mốc phát triển quan trọng.
- Tên Công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP VIỆT Ý
- Tên tiếng Anh : Viet Nam - Italy Steel Joint Stock Company
- Tên viết tắt tiếng Anh: VISCO
- Trụ sở chính: Khu Công nghiệp Phố Nối A, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ,
tỉnh Hưng Yên
- Điện thoại : 0321-942.427
- Fax : 0321-942.226
- Tài khoản : 46610000003420 tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Phố Nối,
tỉnh Hưng Yên
Hồ sơ pháp lý của công ty bao gồm:
- Quyết định số 1748/QĐ-BXD do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ký ngày
26/12/2003 về việc chuyển đổi (cổ phần hoá) doanh nghiệp Nhà nước thuộc
Công ty cổ phần Sông Đà 12 - Tổng Công ty Sông Đà thành Công ty cổ phần.
- Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh số 0503000036 do Sở Kế hoạch và
Đầu tư tỉnh Hưng Yên cấp ngày 20/02/2004, đăng ký thay đổi lần thứ sáu
ngày 29/08/2006.
Trong quá trình hoạt động, Công ty đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư
tỉnh Hải Hưng cấp bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 06 lần, lần
lượt như sau:
Lần 1 (29/06/2004): Tăng vốn điều lệ từ 30 tỷ đồng lên 75 tỷ đồng;
Đăng ký văn phòng đại diện Công ty cổ phần Thép Việt Ý tại Hà Nội;
SV: Vò Thuý Quúnh Líp: KÕ ho¹ch 46A
1
2
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
sản lượng thép tiêu thụ toàn miền Bắc và chiếm hơn 5% sản lượng thép tiêu
thụ toàn quốc. Cũng trong năm này, VISCO đã thành lập chi nhánh tại Sơn
La và mở văn phòng đại diện tại Hà Nội.
Năm 2005: Năm 2005 là năm VISCO tiếp tục khẳng định vị thế của mình
trên thị trường. Thị phần sản lượng thép tiêu thụ toàn miền Bắc của VISCO
năm 2005 tiếp tục tăng trưởng và đạt khoảng 10%. Năm 2005 cũng là năm
VISCO thực hiện mở rộng sản xuất kinh doanh và chuyên môn hóa hoạt
động:
- Thực hiện sáp nhập bộ phận Xuất nhập khẩu với bộ phận Vật tư để thành lập
phòng Hợp tác Quốc tế với chức năng tham mưu các vấn đề liên quan đến
việc nhập, mua và bán phôi thép, xăng dầu, các vật tư thiết bị phụ tùng nhập
khẩu; quản lý kho…
- Thành lập bộ phận quan hệ cộng đồng (PR) chuyên làm công tác xây dựng và
quảng bá thương hiệu, quan hệ khách hàng, xây dựng văn hóa doanh nghiệp;
- Thành lập xuởng sản xuất phụ chế biến phế liệu để sản xuất ra các sản phẩm
dân dụng như sản phẩm đúc, thép vuông, góc, đinh, lưỡi thép, dây buộc…
nhằm tận dụng tối đa hiệu quả sử dụng nguyên liệu đầu vào và đồng thời tăng
doanh thu cho Công ty;
- Thành lập ban quản lý dự án sản xuất phôi thép để thực hiện dự án đầu tư
công trình nhà máy sản xuất phôi tại Hải Phòng với công suất 400.000
tấn/năm.
Năm 2006. Năm 2006, VISCO tiếp tục phát triển và khẳng định vị thế
của mình trên thị trường thép trong tình hình thị trường thép và phôi thép trên
Thế giới có nhiều biến động lớn
SV: Vò Thuý Quúnh Líp: KÕ ho¹ch 46A
3
4
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
- Thành lập phòng Quản lý dự án nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự
án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất phôi thép tại Hải Phòng.
Trong đó, bao gồm các bộ phận:
Hội sở chính của công ty được đặt tại khu công nghiệp Phố Nối A, xã
Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Hội sở chính là trung tâm điều
hành toàn bộ hoạt động của Công ty. Tại Hội sở chính có các phòng ban như
sau:
- Phòng Tổ chức hành chính.
- Phòng kế hoạch đầu tư.
- Phòng thiết bị - công nghệ phát triển.
- Phòng tài chính kế toán.
- Phòng kinh doanh.
- Phòng hợp tác quốc tế.
1.3. Cơ cấu quản lý:
Công ty được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Bộ máy hoạt
động của Công ty được hoạt động theo mô hình công ty cổ phần theo sơ đồ
sau: (Xem sơ đồ trang sau)
Các cấp quản lý trong công ty bao gồm:
Đại hội đồng cổ đông của công ty. Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất
của Công ty, bao gồm tất cả các cổ đông có quyền bỏ phiếu hoặc người được
cổ đông uỷ quyền.
SV: Vò Thuý Quúnh Líp: KÕ ho¹ch 46A
HỘI SỞ CÔNG TY
CÁC CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN BQL DỰ ÁN SẢN
XUẤT PHÔI
5
6
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Hội đồng quản trị. Số thành viên của Hội đồng quản trị (HĐQT) gồm 05
thành viên với nhiệm kỳ tối đa 05 năm. Hội đồng quản trị là cơ quan có đầy
đủ quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh Công ty trừ những
thẩm quyền thuộc về Đại hội đồng cổ đông.
giảm lượng vảy oxit sắt tạo ra trong quá trình nung.
- Block cán tinh cụm 10 giá cán bố trí thẳng đứng và nằm ngang xen
kẽ, được dẫn động trung tâm bởi các mô tơ điện một chiều, được bố trí từng
cặp theo chều vuông góc giúp đạt được trạng thái cán không xoắn, có tốc độ
cán và lực cán cao giúp làm tăng độ chính xác của sản phẩm về đường kính
và bề mặt thép cán.
- Hệ thống Quenching giúp đạt tốt các giá trị giãn dài và độ bền kéo
làm tối ưu hoá độ bền uốn, đạt độ thuần nhất của cơ lý tính. Giới hạn chảy cao
có thể đạt được trực tiếp trên dây chuyền cán mà không cần thêm chi phí đối
với các thành phần hợp kim. Thép vằn đã qua xử lý Quenching sẽ dễ dàng để
hàn và không tạo ra các vết nứt trong suốt quá trình hàn. Khả năng chịu áp lực
cao của lớp bề mặt đã xử lý bằng nhiệt kết hợp với trạng thái áp lực cao trong
lớp Mactenic cho phép sử dụng thép thanh đối với các kết cấu thép cần chịu
tải nặng.
- Tổ hợp máy công cụ CNC, phục vụ chế tạo trục cán và bánh cán đảm
bảo độ chính xác về hình học, chất lượng bề mặt và tính mỹ quan cao nhất
cho sản phẩm.
SV: Vò Thuý Quúnh Líp: KÕ ho¹ch 46A
8
9
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
- Hệ thống đóng bó tự động giúp tăng năng suất và cải thiện điều kiện
lao động của công nhân khu vực thành phẩm.
- Hệ thống đếm thanh và cân sản phẩm trên dây chuyền cung cấp thông
tin kịp thời cho phép điều chỉnh ổn định dung sai về đơn trọng trong miền tiêu
chuẩn cho phép.
Bên cạnh những máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất thép với những tính
năng vượt trội như trên, công ty cổ phần thép Việt - Ý còn có một đội vận chuyển và
xếp dỡ thép của riêng mình. Với khối lượng vận chuyển khoảng 8.500 tấn thép và
27000 tấn phôi trong năm 2007, các phương tiện vận tải này đã từng bước phát huy tác
Năm 2004,Với mức vốn điều lệ ban đầu mới thành lập chỉ là 30 tỷ
đồng (sau đó được tăng lên 75 tỷ đồng), cộng với yếu tố là một doanh nghiệp
mới được thành lập nên quan hệ tín dụng của công ty cổ phần thép Việt - Ý
với các ngân hàng thương mại chưa được thực sự thiết lập. Với đặc điểm như
vậy, trong năm 2004, công ty đã không có đủ vốn lưu động để chủ động trong
hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong việc nhập khẩu phôi thép vào
những thời điểm thích hợp. Công ty thường phải nhập khẩu phôi qua ủy thác,
thậm chí phải vay phôi. Đây một trong những nguyên nhân làm cho chi phí
thành phẩm của công ty năm 2004 cao.
Nhưng kể từ năm 2005, công ty đã có kế hoạch và chủ động được nguồn
vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của mình. Ngoài sự
hỗ trợ của Tổng công ty Sông Đà, công ty cổ phần thép Việt - Ý luôn giữ vững
và tạo uy tín đối với các tổ chức tín dụng. Biểu hiện qua hạn mức vay của một số
ngân hàng dành cho công ty liên tục gia tăng theo các năm.
Bảng 3: Hạn mức vay của các Ngân hàng danh cho công ty qua các năm.
TT Ngân hàng
Hạn mức vay (tỷ đồng)
2005 2006 2007
1 CN Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương 200 250 270
SV: Vò Thuý Quúnh Líp: KÕ ho¹ch 46A
10
11
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
2 CN Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Hưng Yên 210 240 290
3 CN Ngân hàng Nông nghiệp Nam Hà Nội 130 150 160
4 CN Ngân hàng Techcombank Hưng Yên 120 150 180
Tổng cộng: 660 790 900
Nguồn: Phòng tài chính - Kế toán.
Nhìn vào bảng trên ta thấy hạn mức vay của các Ngân hàng dành cho công ty
cổ phần thép Việt - Ý hàng năm đều tăng. Chứng tỏ, uy tín của công ty với các tổ chức
- Chủ động về trong thời điểm và khối lượng phôi nhập.
SV: Vò Thuý Quúnh Líp: KÕ ho¹ch 46A
11
12
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
- Khách hàng nợ quá nhiều hay nợ quá lâu.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng…
3. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần thép Việt - Ý giai
đoạn 2004 – 2007.
3.1. Kết quả kinh doanh.
Trước hết xin đề cập tới kết quả sản xuất kinh doanh đã đạt được của
công ty cổ phần thép Việt - Ý trong giai đoạn 2004 -2007. Qua đó có thể thấy
được toàn cảnh về quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ số liệu ở bảng trên cho ta thấy, tổng doanh thu tăng đều qua các năm.
Năm 2005 so với năm 2004 tổng doanh thu tăng 217495 triệu đồng, tương
ứng với 24,2%. Theo xu hướng tích cực này, năm 2006 và năm 2007 tổng
doanh thu vẫn tăng nhưng tăng chậm hơn so với năm 2005. Năm 2006, tổng
doanh thu tăng 151619 triệu đồng tương ứng 13,58%. Đến năm 2007 tỷ lệ
tăng này tuy không bằng năm 2005 nhưng đã khá hơn năm 2006 một chút,
tổng doanh thu tăng 201033 tương ứng 15,86%. Sở dĩ tỷ lệ tăng doanh thu
của hai năm gần đây giảm xuống là do trong hai năm này thị trường phôi
thép, thép trên Thế giới biến động rất phức tạp gây ảnh hưởng trực tiếp đến
việc sản xuất kinh doanh của công ty: Giá phôi tăng lên liên tục và khó dự
báo khiến nguồn cung cấp phôi bị hạn chế. Bên cạnh đó, thép Việt – Ý đang
phải cạnh tranh khốc liệt với các nhà sản xuất đã có dây chuyền sản xuất phôi
trong nước (giá thấp hơn khoảng 30 – 50 USD một tấn so với phôi thép nhập
khẩu) như TISCO, Hoà Phát và các nhà sản xuất khác đã hết khấu hao như
Việt – Úc, VPS…
Doanh thu tăng đều và tăng nhiều hơn so với giá trị của tổng sản lượng là
rất tốt. Nó sẽ tốt hơn nếu lợi nhuận phát sinh có tốc độ tăng bằng tốc độ tăng
xây dựng... thì cũng không tránh khỏi tình trạng đầu cơ làm tăng giá thép của
các nhà sản xuất.
Lý do là vì trong hai năm này, thị trường thép xây dựng trở nên khan
hiếm do giá phôi nhấp khẩu cao. Một số doanh nghiệp lợi dụng tình hình đó
đã đầu cơ tích trữ thép làm cho thị trường đã khan hiếm nay lại càng khan
SV: Vò Thuý Quúnh Líp: KÕ ho¹ch 46A
13
14
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
hiếm hơn. Chính vì thế mà trong 2 năm này, có một số nhà sản xuất mua
nguyên liệu với giá cao mà vẫn có lãi.
Như thế thì sản xuất kinh doanh chưa chắc đã đạt hiệu quả cao mặc dù
doanh thu và lợi nhuận đều tăng cao.
3.2. Hiệu quả kinh doanh.
3.2.1. Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu.
Qua số liệu ở bảng trên, ta thấy tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu năm
2005 giảm so với năm 2004 là 0,75% , từ 1,33% xuống còn 0,58%. Năm
2006, tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu bắt đầu tăng và tăng so với năm 2005
là 0,52% ( tăng từ 0,58% lên 1,1%). Năm 2007, chỉ tiêu này vẫn tiếp tục tăng
nhưng không cao như năm 2007, chỉ tăng 0,16%.
Năm 2005, tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu giảm xuống và còn ở mức
thấp nhất trong 4 năm có thể là do các nguyên nhân như:
Nguyên nhân chủ yếu là do trong năm 2005, không những giá nguyên
vật liệu chủ yếu cho sản xuất thép ( phôi thép) tăng cao mà còn do trong năm
này giá dầu FO một trong những nguyên liệu phục vụ sản xuất đột ngột tăng
mạnh. Thêm vào đó là tình hình khủng hoảng điện năng vào cuối tháng 5 và
đầu tháng 6 làm công ty phải ngưng sản xuất 1 tháng. Tất cả những tác động
trên làm cho chi phí sản xuất kinh doanh của công ty tăng lên do đó làm cho
tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu giảm xuống.
Trước tình hình như vậy, công ty đã triển khai áp dụng đồng loạt các