PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
SẢN XUẤT
4.1. Phân tích tình hình sản xuất hiện tại của công ty.
4.1.1. Phân tích tình hình sản xuất về mặt khối lượng sản phẩm.
4.1.1.1. Phân tích các chỉ tiêu giá trị sản xuất.
a. Đánh giá chung sự biến động giá trị sản xuất giữa thực tế và kế hoạch.
Bảng 4.1. Giá trị sản xuất thực tế qua 3 năm của công ty.
ĐVT : 1.000 đồng
Chỉ tiêu 2004 2005 2006
Chênh lệch
(2005/2004)
Chênh lệch
(2006/2005)
Giá trị
Tỷ lệ
Giá trị
Tỷ lệ
%
1.Giá trị thành phẩm 1.279.527.416 1.383.737.943 1.262.981.824 122.210.526 46,73 -120.756.118 -31,47
2.Giá trị sản phẩm phụ, phế
phẩm, phế liệu thu hồi.
1.802.221 2.329.655 1.061.534 527.434 29,27 -1.268.121 -54,43
3.Giá trị bán thành phẩm,
sản phẩm dở dang
8.012.546 8.918.327 9.858.253 905.780 11,30 939.926 10,54
4.Giá trị sản xuất (1+2+3) 271.342.184 394.985.926 273.901.613 123.643.741 45,57 -121.084.313 -30,66
Nguồn: Thuyết minh báo cáo tài chính và bảng cân đối kế toán của công ty Cafatex
Nhìn chung giá trị sản xuất năm 2006 giảm rất mạnh so với năm 2005, trong khi
giá trị sản xuất năm 2005 so với năm 2004 tăng rất nhiều, năm 2005 tăng về số tuyệt
đối là 123.643.741, về số tương đối là 45,57%, tăng gần 50%, chứng tỏ công ty làm ăn
1.376.528 1.061.534 -314.993 -22,88
3.Chênh lệch số dư đầu kỳ và cuối kỳ
của bán thành phẩm, sản phẩm dở dang
11.409.351 9.858.253 -1.551.097 -13,59
4.Giá trị sản xuất (1+2+3 ) 401.906.793 273.901.613 -128.005.180 -31,85
Nguồn: Thuyết minh báo cáo tài chính của công ty Cafatex.
Giá trị thành phẩm.
Bảng 4.3: Giá trị thành phẩm thực tế và kế hoạch năm 2006
ĐVT: 1.000 đồng
Năm
Chỉ tiêu
2004 2005 2006
Sản lượng (kg) 12.696.450 10.941.740 7.154.238
Thành phẩm 1.279.527.416 1.383.737.943 1.262.981.824
Giá thành đơn vị 100,77 126,46 176,53
Nguồn: báo cáo sản xuất tiêu thụ năm 2006 của công ty Cafatex.
Xét sự thay đổi về sản lượng, giả sử giá thành đơn vị không thay đổi thì giá trị
thành phẩm năm sau giảm hơn năm trước như vậy sản lượng giảm làm cho giá trị sản
xuất giảm. Sản lượng giảm do các nguyên nhân:
- Khuynh hướng thị trường thay đổi, người ta thích sử dụng sản phẩm từ tôm thẻ chân
trắng, còn trước đây thì thích sử dụng tôm sú, và sản phẩm từ tôm sú cũng là sản phẩm
chủ lực của công ty, do thị trường thay đổi, nên công ty mất hợp đồng từ những khách
hàng cũ của công ty đặc biệt là các khách hàng ở Nhật. Do mất khách hàng, chưa
chuyển dổi sản phẩm kịp thời, nguồn nguyên liệu để sản xuất hạn hẹp, vì tôm thẻ chân
trắng khó sản xuất được ở đồng bằng sông cửu long là vùng chuyên cung cấp nguyên
liệu là tôm sú cho công ty. Bên cạnh đó, một số nước là thị trường chủ yếu của công ty
như: Nhật, EU, Mỹ... chuyển sang thích ăn cá hơn thay vì ăn tôm nhiều như trước đây,
vì vậy sản phẩm chủ lực của công ty không còn được ưa chuộng trên thị trường, và
công ty cũng có kế hoạch chuyển đổi sản phẩm của mình cho phù hợp với thị trường, vì
những lý do đó mà sản lượng của công ty liên tục giảm. Năm 2006 sản lượng giảm
định như trước nên giá trị thành phẩm cũng vì vậy mà giảm rất mạnh. Khi đưa nhà máy
mới vào sử dụng thì công suất không như mong muốn, do công nhân chưa quen với
công nghệ mới, chuyển đổi công việc, trước đây chủ yếu chế biến tôm, nên tay nghề
công nhân chưa cao. Từ những nguyên nhân trên đã làm cho giá trị thành phẩm của
công ty giảm mạnh trong năm 2006.
Giá trị sản phẩm phụ, thứ phẩm, phế phẩm, phế liệu thu hồi.
Bảng 4.4. Giá trị Giá trị sản phẩm phụ, thứ phẩm, phế phẩm, phế liệu thu hồi
năm 2004 - 2005 - 2006
ĐVT: 1.000 đồng.
Chỉ tiêu 2004 2005 2006
Giá trị sản phẩm phụ 1.175.461 1.458.912 645.723
Giá trị phế phẩm 5.423.16 748.236 284.351
Giá trị phế liệu thu hồi 84.443 122.506 131.459
Nguồn: Thuyết minh báo cáo tài chính qua 3 năm
Giá trị sản phẩm phụ, thứ phẩm, phế phẩm, phế liệu thu hồi năm 2004 so năm 2005
tăng do công ty hợp đồng trước với khách hàng với giá cao, đồng thời sản lượng năm
2005 tăng đáng kể so năm 2004 (29.27%), bên cạnh đó chất lượng sản phẩm chưa tốt
nên tỷ lệ phế phẩm lớn. Năm 2006 tỷ lệ này giảm do công ty bị chiếm hợp đồng, phải
bán cho khách hàng mới với giá thấp hơn nhiều so năm 2005, năm 2006 công ty đã
nhập máy móc thiết bị mới nên tỷ lệ phế phẩm giảm đáng kể.
Chênh lệch cuối kỳ và đầu kỳ của bán thành phẩm, sản phẩm đang chế tạo năm
2005 tăng so năm 2004 là11.3%, bằng giá trị là 905.780.902 đồng, năm 2006 so năm
2005 tiếp tục tăng, cụ thể về giá trị tuyệt đối là 939.926.084, về số tương đối là 10.54%,
tỷ lệ này tăng do những tháng đầu năm công ty có lượng đơn đặt hàng lớn, để đảm bảo
sản xuất và giao hàng đúng thời hạn. Vào đầu năm tỷ lệ lao động nghỉ việc ngày càng
tăng qua các năm do nền kinh tế thay đổi, việc làm càng nhiều, mức lương phong
phú…. Vì vậy công ty luôn có lượng bán thành phẩm lớn và ngày càng tăng qua các
năm. Mặt khác, công ty luôn có hợp đồng với lựơng xuất khẩu lớn vào những tháng đầu
năm. Vào những tháng cuối năm là tháng thu họach thủy sản của nông dân, vì vậy
những tháng cuối năm nguồn nguyên liệu rất lớn, để đảm bảo nguyên liệu không bị
1.034.107.029 100,00
Nguồn: Báo cáo tình hình thu mua, chế biến tiêu thụ của công ty năm 2006.
Giá trị của từng loại sản phẩm xác định bởi các yếu tố: nguyên vật liệu cấu thành,
giá trị của lao động quá khứ dịch chuyển vào sản phẩm giá trị của hao phí lao động
sống sản xuất sản phẩm.
Q
1.079.605.928.480
1.120.039.348.978 T
9.541,74
9.541,74
Như vậy kết cấu mặt hàng ảnh hưởng đến giá trị sản xuất vì Q khác 0.
T
Tỷ lệ sản phẩm tôm chiếm gần 75% tổng sản lượng trong khi đó nhu cầu thị trường
hiện nay thích sử dụng các sản phẩm cá hơn, vì vậy mặc dù tỷ lệ sản phẩm tôm gấp hơn
5 lần sản phẩm cá tuy nhiên về giá trị chỉ gấp 3 lần, như vậy cho thấy về kết cấu mặt
hàng của công ty chưa hợp lý, cho nên kết cấu mặt hàng của công ty trong năm 2006
ảnh hưởng rất lớn đến gí trị sản xuất. Trong năm 2006 công ty đã chuyển đổi dần cơ
cấu sản phẩm từ chủ yếu là sản xuất tôm xuất khẩu sang sản xuất cá tra cá ba sa là chủ
yếu, cho phù hợp với tình hình hiện tại của công ty thủy sản và với nhu cầu của khách
hàng khó tính ngòai nước.
- 4.237.531,15
Rõ ràng qua tính toán cụ thể từ kết quả thực tế tỷ lệ từng loại mặt hàng của công ty,
ta thấy kết cấu mặt hàng đã ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị sản xuất
Chi phí bảo hiểm 15.512 12.270 11.524 -3.241 9,90 -746 6,0
Bảo vệ môi trường 926.925 941.927 927.258 15.002 1,62 -14.668 1,5
quảng cáo 352.137 573.380 431.480 221.242 32,83 -141.899 24,7
Tổng 1.294.575 1.527.578 1.370.264 233.003 18,00 -157.314 10,3
Nguồn: thuyết minh báo cáo tài chính của công ty qua ba năm của công ty Cafatex.
Q
T
Do chi phí nguyên vật chất ảnh hưởng đến chi phí sản xuất là không thể điều
khiển được, nó thay đổi hàng năm và phụ thuộc vào thị trường, vì vậy ở đây chỉ đi phân
tích chi phí dịch vụ thuộc chi phí trung gian ảnh hưởng đến chi phí sản xuất.
Dựa vào bảng số liệu ta thấy chi phi dịch vụ năm 2005 so năm 2004 tăng 18% là do chi
phí bảo vệ môi trường và chi phí quảng cáo tăng, mà đặc biệt là chi phí quảng cáo tăng
32.83% , tăng hơn 200 triệu đồng so với nảm 2004, chi phí quảng cáo năm 2005 tăng
nhiều như vậy là do công ty thực hiện chiến lược mở rộng thị trường sang một số nước
EU, nên chi phí quảng cáo tăng rất lớn, và nhờ tăng cường quảng cáo, quảng bá sản
phẩm, tìm thị trường mới nên năm 2005 công ty có kim ngạch xuất khẩu là 1034.17 tỷ
đồng tăng 10.05% so với năm 2004. Thị trường EU là thị trường tìm năng nên việc mở
rộng thị trường sang EU là cần thiết vì người EU nhu cầu thủy sản rất lớn, họ có thu
nhập cao nên hang thủy sản rất dễ tiêu thụ tại thị trường này, bên cạnh đó khi đã xâm
nhập được thị trường của một vài nước thì sẽ có nhiều thuận lợi khi mở rộng thị trường
sang các nước còn lại của khối EU. Tuy nhiên vào năm 2006 khuynh hướng trường tại
một số nước xuất khẩu thủy sản truyền thống của Cafatex không còn ưa chuộng tôm,
họ chuyển ssang thích ăn cá tra và cá ba sa, trong khi đó công ty chưa chuyển đổi kịp
thời vì vậy không còn quảng cáo như trước nữa, mà tậo trung vào nghiên cứu, xây dựng
nhà máy chế biến cá, và cũng vì lý do này nên kim ngạch xuất khẩu của công ty năm
2006 giảm 20% so năm 2005. Vì vậy chi phí dịch vụ năm 2006 giảm 10.3% so năm
2005. Mặc dù chi phí dịch vụ giảm nhưng giá trị sản xuất cũng giảm, nên ảnh hưởng
giảm của nó là ảnh hưởng tiêu cực.
So sánh giữa chỉ tiêu giá trị sản xuất và chi phí dich vụ:
định
64.301.802 71.870.047 80.872.845 7.568.245 11,77 -8.800.975 99,19
Lợi nhuận và các
khoản khác
7.766.331 4.570.952 5.396.865 -3.195.378 -41,14 -1.825.912 99,13
Tổng 75.058.844 79.618.514 89.745.795 4.559.669 6,07 -9.666.177 99,18
Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty Cafatex.