SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG CÔNG TY BẢO HIỂM
TƯƠNG HỖ Ở VIỆT NAM
i. VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT
NAM
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động từ
tháng 01 năm 1965 và đó phỏt triển khụng ngừng theo sự phỏt triển chung của
nền kinh tế. Cú thể chia thành hai giai đoạn chủ yếu:
- Từ 1965-1992 là thời kỳ bảo hiểm độc quyền duy nhất chỉ có một công ty
bảo hiểm - đó là công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Đây cũng là thời kỳ
thử nghiệm nên nghiệp vụ chưa nhiều, phí bảo hiểm chưa phản ánh đầy đủ xác
suất rủi ro...
- T ừ 1993 trở lại đây - Sau khi có chỉ thị 100/CP của Chính phủ về kinh
doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm ra đời với nhiều hỡnh thức khỏc
nhau: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm ngành, doanh nghiệp cổ
phần bảo hiểm, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam sôi động với nhiều công ty thuộc các thành
phần kinh tế tham gia; sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty đó xuất hiện; số
nghiệp vụ tăng lên không ngừng và sản phẩm bảo hiểm rất đa dạng (sản phẩm
bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ...).
Để điều chỉnh hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngày 9 tháng
7 năm 1999, Chính phủ ban hành quyết định số 23/1999/QĐ-BTCCBCP cho
phép thành lập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam. Và ngày 22 tháng 12 năm 2000,
Chủ tịch nước đó cụng bố “Luật kinh doanh bảo hiểm” được Quốc hội nước
Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000. Đây là cơ
sở pháp lý để hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam ổn định và phát triển
đúng hướng, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Sau gần 10 năm mở cửa thị trường, đến nay đó cú 26 doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt kinh doanh bảo hiểm bao gồm: 5 doanh
nghiệp Nhà nước, 7 công ty cổ phần, 6 doanh nghiệp liên doanh và 8 doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Bảng 3: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp
Tỷ
đồng
3.815 4.764 6.575 7.636 10.390 12.400
Tốc độ tăng trưởng % 45,40 24,85 50,52 16,14 48,35 19,34
Tỷ trọng/tổng phí % 36,72 38,41 63,28 61,59 100 100
DNNN 76%
DN cổ phần
16%
DN có vốn đầu
tư nước ngoài
8%
Tỷ trọng phí/GDP % 0,63 0,67 1,09 1,07 1,72 1,74
Tính đến hết năm 2004, TTBHVN là một trong những thị trường có tốc
độ tăng trưởng nhanh và ổn định nhất trong khu vực và trên thế giới, với tốc độ
tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 1993-2004 đạt khoảng
29%/ năm. Trong một thập kỷ qua, tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP
đã tăng từ 0,37% (1993) lên đến 2,0 % năm 2004. Mục tiêu đặt ra là đến năm
2010, tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP của thị trường bảo hiểm Việt
Nam sẽ đạt 4,2%.
Trong năm 2004, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt 13.044
tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2003. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ
đạt 8.210 tỷ đồng, tăng 26% doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 4.834 tỷ
đồng, tăng 22 %.
Khối DNNN tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu về thị phần doanh thu phí
bảo hiểm phi nhân thọ (76%), trong đó Bảo Việt chiếm 40%, Bảo Minh: 24%,
PVIC: 12%. Về cơ cấu doanh thu theo nghiệp vụ, bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn
con người chiếm tỷ trọng cao nhất: 22,33%; tiếp đến là bảo hiểm xe cơ giới:
20%...
Hình 4: Thị phần doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ theo khối doanh nghiệp
Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, thứ tự xếp hạng các doanh
dân sự. Đáng chú ý là trong thời gian gần đây, trên thị trường đã xuất hiện nhiều
sản phẩm mới và khá độc đáo trên cơ sở kết hợp giữa các yếu tố tiết kiệm - đầu
tư - bảo vệ, được công luận đánh giá cao như sản phẩm bảo hiểm tai nạn cá
nhân cho người sử dụng thẻ ATM, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm của người
chăn nuôi và sản xuất thức ăn gia cầm v..v.. Đây là một hướng đi mới thể hiện
sự nhanh nhạy năm bắt cơ hội kinh doanh cũng như sự đóng góp của các DNBH
đối với cộng đồng…
Theo kế hoạch, năm 2005 tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt
8,5%. Năm 2005 cũng là năm Việt Nam phấn đấu gia nhập WTO. Kinh tế tăng
trưởng sẽ tạo nhiều cơ hội để thị trường bảo hiểm phát triển, đồng thời việc hội
nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức rất lớn cho ngành bảo hiểm để
có thể thực hiện được chỉ tiêu tổng doanh thu ngành bảo hiểm đạt 2.5%/GDP
vào năm 2005. Đạt được chỉ tiêu chủ yếu nói trên có ý nghĩa to lớn trong việc
thực hiện cỏc mục tiờu phỏt triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn hiệu
quả, đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư, bảo đảm cho
các tổ chức cá nhân được thụ hưởng sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế;
thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế -
xó hội; nõng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp kinh
doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh, hội nhập quốc tế.
ii. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG CÔNG TY BẢO HIỂM
TƯƠNG HỖ Ở VIỆT NAM
2.1. Sự cần thiết phải xõy dựng mụ hỡnh tổ chức BHTH ở Việt Nam:
Sau 10 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, tăng cường hội
nhập quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài kết hợp với việc phát huy các
nguồn nội lực, thị trường bảo hiểm Việt Nam đó cú những bước phát triển vượt
bậc cả về chất và lượng, đánh dấu bước chuyển căn bản từ một thị trường độc
quyền nhà nước sang một thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bảo hiểm. Tính đến thời điểm này, thị
trường bảo hiểm Việt Nam là một trong những thị trường bảo hiểm có tốc độ
tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng
đây là thời điểm chín muồi để tiếp tục nghiên cứu sâu thêm và vận dụng vào thực
tiễn xây dựng cơ chế chính sách nhằm đưa hoạt động của bảo hiểm tương hỗ vào
thực tế. Theo Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm
2003-2010 đó được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong thời gian tới sẽ
Chính phủ sẽ: “Thành lập tổ chức BHTH trong các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ
sản. Do người tham gia bảo hiểm cũng chính là người sở hữu tổ chức, nên việc
thành lập tổ chức này sẽ gắn kết quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và tổ
chức bảo hiểm tương hỗ. Hoạt động của tổ chức BHTH sẽ bảo đảm cao nhất
quyền lợi của nông dân, ngư dân và diêm dân tham gia bảo hiểm”.
Ngoài ra, việc nghiên cứu về tổ chức bảo hiểm tương hỗ nhằm tạo ra một
loại hỡnh doanh nghiệp bảo hiểm mới cú thể cung cấp cỏc sản phẩm đặc thù,
nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xó hội của đất nước. Trong thời gian
qua, một số tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, ngành hàng…
đó cú kế hoạch nghiờn cứu, triển khai thành lập thớ điểm mô hỡnh BHTH để bảo
hiểm cho những rủi ro đặc biệt, gắn liền với tính chất hoạt động đặc thù của
những chủ thể này mà các doanh nghiệp bảo hiểm hiện đang hoạt động trên thị
trường chưa có khả năng đáp ứng. Trong số này, đáng chú ý có thể kể đến Đề án
thành lập tổ chức BHTH của Hội Nông dân Việt Nam, đề án thành lập các quỹ
bảo lónh xuất khẩu đối với một số mặt hàng, hoạt động bảo hiểm hưu trí tự
nguyện thực hiện tại một số địa phương ở tỉnh Nghệ An v.v.
2.2. Những khó khăn, thuận lợi trong việc xây dựng các tổ chức BHTH
hiện nay ở Việt Nam:
Bảo hiểm là một lĩnh vực dịch vụ tài chính đặc thù, trong khi đó, bảo
hiểm tương hỗ là một vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam cả về mặt lý luận và thực
tiễn. Cú thể khẳng định rằng, cho đến nay chưa có một công trỡnh nghiờn cứu
nào nghiờn cứu về vấn đề này. Do vậy, việc điều tra, nắm bắt nhu cầu và tỡnh
hỡnh triển khai thực hiện cỏc nghiệp vụ cú thể ỏp dụng đối với tổ chức bảo
hiểm tương hỗ (như bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm đối với hoạt động đánh
bắt cá,…), thông qua đó sẽ xây dựng mô hỡnh tổ chức bảo hiểm tương hỗ phù
hợp cho Việt Nam chắc chắn sẽ gặp không ít khó khăn. Như vậy, đề tài sẽ tạo ra
Theo đánh giá sơ bộ của Bộ Thuỷ sản, hiện nay trên phạm vi cả nước,
trong lĩnh vực đánh bắt cá:
- Số lượng ngư dân rất lớn;
- Mức độ tham gia bảo hiểm ở các công ty hiện tại thấp, mức phí cao,
trong khi các ngư dân phần lớn là người nghèo;
- Cả nước có khoảng 83.000 con tàu, và số lượng tàu thuyền được bảo
hiểm rất thấp.
- Có khoảng gần 500.000 người trực tiếp ngồi trên tàu ra biển.
Qua nghiên cứu về bảo hiểm tương hỗ, bản chất và cỏc hỡnh thức triển
khai ỏp dụng, cú thể thấy rằng, đây là một lĩnh vực rất phù hợp để áp dụng triển
khai thí điểm thành lập và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ. Trên cơ sở
đó, sẽ xem xét, đánh giá, rút kinh nghiệm trước khi mở rộng sang các lĩnh vực
khác có độ phức tạp và yêu cầu tài chính lớn hơn
III. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ XÂY
DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM TƯƠNG HỖ
3.1. Kinh nghiệm của Mỹ về tổ chức hoạt động và quản lý cỏc Tổ chức
Bảo hiểm Tương hỗ:
Các công ty bảo hiểm tương hỗ đó hỡnh thành và phỏt triển phố biến khỏ
lõuMỹ. Cụng ty bảo hiểm tương hỗ đầu tiên ở Mỹ được thành lập tại thành phố
Philadenphia (bang Pennsylvania) năm 1784 để kinh doanh bảo hiểm cháy. Khi
mới thành lập, các công ty bảo hiểm tương hỗ có nguồn gốc từ các hợp tác xó
và được tổ chức trên cơ sở các cộng đồng dân cư địa phương.
Cho đến trước khi cuộc công nghiệp hoá và thành thị hoá nông thôn diễn ra
mạnh mẽ trong nửa đầu thế kỷ 19, nhu cầu của công chúng đối với bảo hiểm
nhân thọ ở Mỹ cũn thấp. Cụng ty bảo hiểm nhõn thọ tương hỗ đầu tiên - Công
ty bảo hiểm nhân thọ tương hỗ New York bắt đầu hoạt động năm 1842 và sau
đó là một số công ty khác trong đó đáng chú ý là cụng ty bảo hiểm New York
Life được thành lập năm 1845.
Trong giai đoạn này, hỡnh thức bảo hiểm tương hỗ tỏ ra thụng dụng và
cạnh tranh với hỡnh thức cụng ty cổ phần trong việc cung cấp nguồn vốn dựa
lên đối với các sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới và các nông cụ cơ giới hoá, sự tồn
tại của nhiều tổ chức hiệp hội đó tạo ra một mụi trường lý tưởng để thành lập
các công ty bảo hiểm tương hỗ. Bằng việc bán bảo hiểm trực tiếp cho thành
viên của các hiệp hội này - những chủ trang trại, thành viên câu lạc bộ ô tô, các
sĩ quan quân đội, các công ty bảo hiểm có thể chào một mức giá thấp hơn mức
giá mà các đại lý bảo hiểm chào bỏn. Điều đó khiến cho các sản phẩm bảo hiểm
của những công ty này trở nên hấp dẫn với thành viên các hiệp hội, nhóm, đoàn
thể. Những công ty sử dụng phương pháp phân phối bảo hiểm bằng cách bán
bảo hiểm trực tiếp cho người được bảo hiểm thay vỡ bỏn bảo hiểm thụng qua
đại lý bảo hiểm được gọi là các công ty khác thác bảo hiểm trực tiếp. Do mục
tiêu hoạt động của những công ty này là cung cấp sản phẩm bảo hiểm với giá
thành hạ, phần lớn các công ty khai thác bảo hiểm trực tiếp này được tổ chức
dưới hỡnh thức cụng ty bảo hiểm tương hỗ.
Trong số các công ty khai thác bảo hiểm trực tiếp hàng đầu hiện nay, State
Farm là một ví dụ điển hỡnh. Cụng ty này là một trong số những công ty đi đầu
trong việc đáp ứng nhu cầu bảo hiểm xe cơ giới của các chủ trang trại. Trong
những năm đầu thế kỷ 20, hơn 25% dân số nước Mỹ sống dựa vào nông nghiệp.
Năm 1922, State Farm đó ký hợp đồng với hiệp hội nông dân của các bang để
bảo hiểm cho xe cơ giới thuộc sở hữu của các hội viên với mức phí bảo hiểm
thấp hơn nhờ việc phân phối trực tiếp ít tốn kém hơn so với phân phối thông qua
các đại lý độc lập và do số lượng và giá trị tổn thất ở nông thôn thấp hơn so với
thành thị. Xuất phát từ những lý do này, State Farm đó trở thành cụng ty bảo
hiểm phi nhõn thọ lớn nhất ở Mỹ với trờn 16.800 đại lý hoạt động trên toàn
nước Mỹ. Năm 1997 số phí bảo hiểm thuần mà công ty khai thác đó lờn đến
34,8 tỷ đô la Mỹ.
Từ giữa những năm 1920 đến năm 1960, các công ty bảo hiểm phi nhân
thọ tương hỗ đó tăng thị phần của mỡnh trong khi cỏc cụng ty bảo hiểm cổ phần
lại bị giảm thị phần. Tớnh đến cuối những năm 1960, các công ty bảo hiểm
tương hỗ chiếm khoảng 30% tổng số phí bảo hiểm của toàn thị trường. Kể từ đó
trở đó, thị phần bảo hiểm Mỹ được chia theo tỷ lệ 30/70 giữa các công ty bảo
Dưới 100 triệu đô la Mỹ 645 9.357 3.357 3.911 287
Tổng số
885 1.392.159 96.849 238.122 13.281
Toàn thị trường bảo hiểm
992 2.327.985 146.608 379.737 17.420
Nguồn:
OneSource.
So sánh các tỷ số tài chính cơ bản cho thấy các công ty bảo hiểm tương hỗ
hoàn lại nhiều phí bảo hiểm hơn cho những người tham gia bảo hiểm dưới hỡnh
thức bảo tức, chiếm 7,8% so với 2,9% của toàn thị trường. Kết quả là, lợi nhuận
kinh doanh và số tiền thu về từ việc kinh doanh những tài sản thuộc quyền quản
lý của cỏc cụng ty bảo hiểm tương hỗ nhỏ hơn so với công ty bảo hiểm cổ phần.
Lợi nhuận trên tài sản (bằng thu nhập sau thuế/tổng tài sản) của các công ty bảo
hiểm tương hỗ là 0,5% so với 1% của các công ty bảo hiểm cổ phần hay chỉ
bằng 1/2. Bởi vậy, lợi nhuận của các công ty bảo hiểm tương hỗ trên vốn chỉ
bằng 8,6% so với 14,6% của các công ty bảo hiểm cổ phần.
Đáng chú ý là chênh lệch về tỷ suất sinh lời giữa công ty bảo hiểm tương
hỗ và công ty bảo hiểm cổ phần chủ yếu là do sự khác nhau về tỷ suất sinh lời
tính trên tài sản. Lý do là vỡ đũn bẩy (tức là hệ số nợ trên vốn tự có) không khác
nhau đáng kể giữa công ty bảo hiểm tương hỗ và công ty bảo hiểm cổ phần (đặc
biệt là đối với các công ty lớn nhất). Vốn hoá không phải là một vấn đề đối với
các công ty bảo hiểm tương hỗ, bởi vỡ quy mụ vốn của cỏc cụng ty bảo hiểm
tương hỗ không thấp hơn so với các công ty bảo hiểm cổ phần.
Bảng 6: Một số chỉ tiêu về bảo hiểm nhân thọ Mỹ năm 1996.
(đơn vị tính:
triệu đô la Mỹ)
Chỉ tiêu
Tỷ
suất
sinh
(bảo
tức)/
phí
bảo
hiểm
(%)
Tài sản
trong
các tài
khoản
riêng
(%)
Các công ty bảo
hiểm tương hỗ
25 công ty lớn nhất 8,9 5,0 0,4 20,1 2,8 3,2 8,4 25,2
Nhiều hơn 1 tỷ đô
la Mỹ
8,9 5,1 0,5 19,6 2,8 3,2 8,1 24,6
Từ 100 triệu đến 1
tỷ đô la Mỹ
3,7 14,6 0,5 6,9 1,1 3,3 1,8 1,9
Dưới 100 triệu đô
la Mỹ
3,1 23,1 0,7 4,3 2,2 1,4 2,6 0,1
Tông số 8,6 5,3 0,5 19,0 2,7 3,2 7,8 24,3
Các công ty bảo
hiểm cổ phần
25 công ty lớn nhất 16,5 5,3 0,9 18,8 5,6 2,9 4,4 28,1
Nhiều hơn 1 tỷ đô
la Mỹ
qui định rừ số phớ tối đa mà mỗi thành viên sẽ phải nộp.
Theo qui định của Luật bảo hiểm, công ty BHTH thông thường chỉ được
kinh doanh bảo hiểm nhân thọ nếu phí đóng góp là cố định. Cũng giống như các
công ty bảo hiểm cổ phần, các công ty bảo hiểm tương hỗ không bị hạn chế về
phạm vi hoạt động và được phép hoạt động nhờ hệ thống đại lý và cỏc nhà mụi
giới.
b) Công ty bảo hiểm tương hỗ bất thường: Đây là dạng đặc biệt của công
ty BHTH, gồm 2 loại:
Công ty tương hỗ bảo hiểm:
Đây là các hội tương hỗ. Để được phép hoạt động, hội tương hỗ phải có ít
nhất 300 thành viên và không cần có vốn thành lập ban đầu. Các khoản phí bảo
hiểm đóng góp luôn biến đổi, vỡ thế, cỏc cụng ty loại này khụng được phép
kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Điều lệ của công ty phải nêu rừ sự hạn chế về
địa bàn hoạt động và nghiệp vụ bảo hiểm. Khác với công ty BHTH thông
thường ở trên, công ty này không được hoạt động thông qua hệ thống môi giới
và đại lý (không được trả hoa hồng cho môi giới, đại lý); hội đồng quản trị và