PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT
TRIỂN THƯƠNG MẠI CỦA NƯỚC CHDCND LÀO
2.1 Đặc điểm và yêu cầu phát triển thương mại của nước CHDCND Lào
2.1.1 Vị trí và vai trò tiềm năng của nước CHDCND Lào
Nước CHDCND Lào là một nước nằm trên bản đảo Đông Dương có diện tích
236.800 Km² gồm có 17 tỉnh và môt thủ đô, CHDCND Lào có biên giới giáp
cùng 5 nước: Việt Nam, Cam pu chi, Thái lan, Myan ma và Trung Quốc. Dân
số của Lào là khoảng 6 triệu người, gồm có 3 dân tộc lớn: Lào, Lào Xung,
Lào Thâng.
Đất nước Lào có tiềm năng thế mạnh về đất đai, khoáng sản, động thực vật
rừng phong phú và đa dạng, là những tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Lào là nước có lợi thế về thuỷ điện vì nước Lào có nhiều sông và nhiều nui,
đó là điều kiện thuật lợi cho việc xây dựng nhà máy thuỷ điện. Hiện nay Lào
sản xuất điện với tổng công suất là 690 MW, và đang xây dựng nhiều nhà
máy thuỷ điện chẳng hạn như: Năm Thơn II, Năm Ngơm II, Năm Ngơm III
và các nhà máy thuỷ điện nhỏ khác. Đến năm 2010 ước tính việc sản xuất
điện của Lào sẽ đạt 14 – 15 tỉ Kwh, tổng mức sản xuất điện lên tới 2700MW.
Việc sản xuất điện chủ yếu là để bán cho các nước xung quanh như: Trung
Quốc, Việt Nam, Cam pu chia và Thái lan. Lào sẽ cố gắng phấn đấu khai thác
lợi thế về sản xuất điện, làm cho Lào trở thành ắc quy của Đông Nam Á.
Ngành thuỷ điện sẽ là ngành chủ yếu góp phần thay đổi cục diện kinh tế xã
hội trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Bảng 1: Một số dự án xây dựng nhà máy thuỷ điện tại CHDCND Lào.
1
Sông
Công suất
(MW)
Lượng sản xuất
(triêu Kwh)
Năm hoàn thành
2
Đối với Việt Nam, Lào đã có quan hệ truyền thống từ lâu đời về nhiều lĩnh
vực, chẳng hạn như: quan hệ chính trị, quốc phòng, giáo dục, quan hệ kinh tế,
thương mại và các lĩnh vực khác. Có thể nói là quan hệ giữa Việt Nam và Lào
là quan hệ đặc biệt mà chưa từng có các quốc gia nào có trên thế giới này. Hồ
Chủ tịch đã nói về quan hệ đặc biệt và sâu sắc giữa Việt nam và Lào rằng:
“ Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua
Việt – Lào hai nước chúng ta tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”
2.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của CHDCND Lào.
Trong thời gian qua nền kinh tế của Lào đã trải qua nhiều khó khăn bị ảnh
hưởng từ bên trong và bên ngoài đến nền kinh tế - tài chính của nước
CHDCND Lào, tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho kinh tế của Lào. Bộ
công nghiệp và thương mại cũng đã đóng góp vào quá trình khống chế và
chống lạm phát trong nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sản xuất hàng hoá,
quản lý hàng hoá, thúc đẩy xuất khẩu và các hoạt động khác đạt được kết
quả như sau:
Một: Trong những năm qua nền kinh tế của Lào vẫn giữ được mức tăng
trưởng , và mức tăng trưởng kinh tế có xu hướng tăng lên.
Trong 5 năm qua GDP tăng bình quân 6,2%/năm giảm 0,8% so với kế
hoạch. Cho dù mức tăng trưởng chưa đạt được theo kế hoạch đề ra, nhưng
với mức tăng trưởng như thế cũng là mức tăng trương rất đáng kể do nhân
dân cả nước cùng nhau phấn đấu, nếu so với mức tăng trưởng của các
nước khác thi mức tăng trưởng của CHDCND Lào cũng đang ở mức
cao:Cam-pu-chia 5,5%, In-đô-nê-sia 4,2%, Malaysia 4,3%, philippil 4,2%,
Singapo 3,8%, Thái lan 4%, Hông Kông 2,8%, Hàn Quốc 4,8%, Việt Nam
7,5%.
Tổng quát kết quả việc tổ chức thực hiện chiến lược phát triển thương mại
so với kế hoạch.
3
- Mức tăng lên bình quân của GDP là 6,24%/năm, kế hoạch đặt ra là 7-
Pha Bang; Viêng Chăn; Xa La Văn và Chăm Pa Xắc, đậu nành đạt 11.100
tấn tăng gấp 2 lần, phần lớn trồng ở các tỉnh: Luang Pha Băng; Hua Phăn;
Bo Keo; Chăm Pa Xắc, đậu xanh đạt 3.700 tấn tăng 3 lần, trồng nhiều ở
tỉnh: Luang Pha Băng; Viêng Chăn; Chăm pa xắc, thuốc lá đạt 28.100 tấn,
trồng nhiều ở: Bo Li Khăm Xay; Khăm Muân; Xa Văn Na Khệt, mía đạt
196.100 tấn trồng nhiều ở : Thủ đo Viêng Chăn; Luang Nam Tha; Phông
Xa Li; Bo Li Khăm Xay, các loại rau đạt được 744.450 tấn tăng thêm
17%, vừng đạt 8.710 tấn tăng 2,6 lần. Ngoài ra việc trồng cây công nghiệp
để xuất khẩu, cây ăn quả cũng đang được phát triển mạnh chẳng hạn như:
cây cao su; trầm hương; chuối; khoai tây; gừng…
Ngành chăn nuôi cũng được phát triển, đến năm 2005 cả nước sản xuất
được 130.900 tấn thịt, so với năm 2000 tăng lên 13%, sản xuất cá được
102.600 tấn so với năm 2000 tăng lên 25%.
Những con số nêu trên đã cho chúng ta thấy được sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và ngành thương mại nói riêng, như chúng ta biết Lào là
một nước có lợi thế về sản xuất nông nghiệp và có lợi về tài nguyên thiên
nhiên cho nên ngành thương mại của Lào muốn phát triển được thì cần
dựa vào những lợi thế này.
- Ngành công nghiệp và xây dựng
Sản xuất công nghiệp cũng được phát triển mạnh mẽ, mức độ tăng trưởng
của từng năm là tương đối cao, mức tăng trửng trung bình của ngành này
là 11,46%/năm trong đó ngành khai thác mỏ tăng lên 33,87%, ngành chế
biến lương thực thực phẩm tăng 9,17%, thuốc lá tăng 20,75%, dệt tăng
20,11%, may tăng 11,15%, sản xuất giầy tăng 7,57%, chế biến gỗ tăng
1,17%. Những con số trên cho thấy sự tăng trưởng của ngành công nghiệp
của CHDCND Lào.
5
Hiện nay đã xây dựng được khu công nghiệp tại thủ đô Viêng Chăn, xây
dựng vùng kinh tế đặc biệt tại tỉnh Sa Văn Na Khệt, điều đó sẽ tạo điều
kiện cho sự thu hút đầu tư trong và ngoài nước.
có thể xuất khẩu được là những hàng hoá chưa có uy tín cao và chưa có
thương hiệu phổ biến trên thị trường nước ngoài, vậy việc thâm nhập thị
trường quốc tế là vấn đề rất khó đối với hàng hoá của Lào. Nhưng việc mở
rộng thị trường là điều bắt buộc phải thực hiện trong quá trình xây dựng
kinh tế-xã hội trong quá trình hội nhập. Lào có xuất thì mới có điều kiện
nhập. Tuy nhiên Lào không thể coi nhẹ việc mở cửa thị trường trong nước
vừa có tác dụng nâng cao đời sống nhân dân, vừa tác dụng khuyến khích,
kích thích việc sản xuất hàng hoá.
Thực hiện chính sách mở rộng quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị bắt
buộc Lào phải mở rộng và tham gia vào thị trường quốc tế. Muốn làm
được tốt việc mở cửa thị trường trước hết phải xác định được lợi thế tiềm
năng của đất nước để tập trung sản xuất những mặt hàng có lợi thế đó, cần
phải nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển thương mại lâu dai và
thích hợp với từng thời kỳ trong quá trình hội nhập.
2.2 Tổng quan về thực hiện chiến lược phát triển thương mại của nướcc
CHDCND Lào 2001-2010.
2.2.1 Chiến lược phát triển thương mại nước CHDCND Lào2001-2010.
Chiến lược phát triển thương mại của CHDCND Lào đã được xây dựng và
thông qua đại hội Đảng lần thứ VII của Đảng nhân dân cách mạng Lào
2.2.1.1 Mục tiêu chiến lược và dự đoán của ngành thương mại
A. Mục tiêu chiến lược phát triển thương mại của nước CHDCND Lào
_ Xoá bỏ hệ thống kinh tế tự nhiên thành kinh tế sản xuất hàng hoá, và phát
triển nông thôn, giảm bất sự nghèo của nhân dân, nâng cao nhu cầu của nhân
dân gắn liền với sức mua của nhân dân ngày càng tăng lên.
7
- Tăng cường hoạt động xuất khẩu, phải đi cùng với sự cải thiện các công ty
xuât nhập khẩu, cải thiên các hoạt động tổ chức thương mại trong các tỉnh
biên giới, tăng cường hoạt động kinh doanh thương mại Nhà nước với nước
ngoài và các tổ chức kinh tế quốc tê, xây dưng luật kinh doanh sao cho phù
hợp với luật quốc tế chẳng hạn như: pháp luật về hợp đồng xuất nhập khẩu.
biên giới) ở các tỉnh miền Trung và miền Bắc của Lào, xây kho nhập hàng tại
các cửa khẩu ở miền Nam, và từ năm 2005 phải phát triển khung thương mại
ở miền Nam. Dự định tổng kim ngạch nhập khẩu trong năm 2005 phải đạt
596 triệu USD, và tổng kim ngạch xuất khẩu phải đạt 420 triệu USD.
+ Cán cân thương mại trong năm 2005 phải không quá 10% của tổng GDP.
- Giai đoạn 2005-2010.
+ Việc phát triển thị trường xuất khẩu đối với hàng hoá xuất khẩu phải mở
rộng từ thị trường khu vực ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU, No ve, Nga
sang thị trường Mỹ, Nhật, Trung Đông.
+ Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu:
- Phấn đấu xuất khẩu những mặt hàng chế biến và hàng nửa chiến biến
cho được 60% của tổng giá trị xuất khẩu.
- Phát triển hàng hoá mới để tăng kim ngạch xuất khẩu.
- Phấn đấu xuất khẩu hàng hoá mới sang thị trường mới như: Nhật Bản,
Úc, Newsilan và các thị trường khác.
Bảng3 : Dự định tổng kim ngạch của từng thời kỳ thược hiện chiến lược.
Năm 2001 2005 2010
Nhập khẩu 395 596 917
Xuất khẩu 298 420 676,4
Nguồn: Bộ Công nghiệp và thương mại (đơn vị tính: triệu USD)
2.2.1.2 Chiến lược chủ yếu phát triển thương mại:
9
Để đạt được các mục tiêu đề ra, Bộ Công nghiệp và thương mại đã xây dựng
được chiến lược chủ yếu như sau:
A> Chiến lược mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hoá trong nước gắn liền với
sự tăng sức mua của nhân dân.
- Trước hết chúng ta phải giải quyết hai ý tưởng: chỉ thấy được sự quan trọng
của hoạt động dịch vụ qua biên giới, chỉ tập trung và sản xuất. Chúng ta phải
tập trung sản xuất các mặt hàng có lợi thế trong tự nhiên thiên nhiên. Chúng
ta phải nhập khẩu những mặt hàng cần thiết cho đời sống như: xi măng, thép,
Hai: Việc sản xuất hàng hoá, dịch vu phải đầu tư sản xuất của Nhà đầu từ
nước ngoài.
- Trước khi đầu tư vào Lào, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ nghiên cứu xem
những tiềm năng của Lào, vốn và thị trường. Nếu Lào có chính sách và
dự án thích hợp, họ sẽ đầu tư vào ngay và đấy sẽ là điều kiện để khuyến
khích sản xuất, và tìm được thị trường nước ngoài.
- Các nhà đầu tư nước ngoài họ đã có uy tín và chuyên môn về ngành mà
họ đầu tư. Vậy chất lượng hàng hoá mà họ đầu tư sẽ cao, có khả năng đạt
được tiêu chuẩn quốc tế mà Lào rất khó có thể sản xuất hàng hoá có chất
lượng và có uy tín như vậy.
- Đầu tư nước ngoài còn giúp cho việc đào tạo tay nghề cho công nhân và
sử dụng nguồn nguyên liệu thô của Lào có giá trị cao lên.
- Khuyến khích các công ty xuất nhập khẩu đầu tư vào sản xuất và hợp tác
với các nhà đầu tư nước ngoài trong nhiều lĩnh vực.
Ba: Mở rộng thị trường phải gắn liền với việc tìm đối thủ cạnh tranh và tham
gia các tổ chức kinh tế quốc tế.
- Việc mở rộng thị trường và giữ lại thị trường là những yếu tố quan trọng
trong việc sản xuất hàng hoá, thông thường trên thị trường có sự cạnh
11