LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
KINH TẾ CỦA ĐỊA PHƯƠNG
I. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA
ĐỊA PHƯƠNG:
1. Khái niệm:
Cơ cấu ngành kinh tế của địa phương là số ngành kinh tế được hình
thành và mối quan hệ tổng hợp giữa các ngành đó với nhau. Biểu thị bằng vị
trí, tỷ trọng của mỗi ngành trong hệ thống nền kinh tế của địa phương.
Xem xét cơ cấu ngành của nền kinh tế địa phương thường đứng trên hai
góc độ. Thứ nhất, xem xét dưới góc độ định lượng. Cơ cấu ngành kinh tế tỉnh
bao gồm số ngành kinh tế và tỷ trọng mỗi ngành đó trong tổng thể nền kinh tế
địa phương. Thứ hai là xem xét dưới giác độ định tính. Cơ cấu ngành thể hiện
mối quan hệ giữa các ngành kinh tế và vị trí của mỗi ngành trong nền kinh tế
địa phương.
Ngành kinh tế của một địa phương là tổng thể các đơn vị kinh tế cùng
thực hiện một chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội của địa
phương. Cơ cấu ngành kinh tế của địa phương phản ánh trình độ phân công
lao động xã hội chung của nền kinh tế địa phương và qua đó phản ánh trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất của địa phương. Trong mối quan hệ giữa các
ngành kinh tế thường biểu hiện hai mối quan hệ chủ yếu như : Ngành có quan
hệ trực tiếp (Trong đó bao gồm các ngành có mối quan hệ ngược chiều và các
ngành có mối quan hệ xuôi chiều) và ngành có mối quan hệ gián tiếp.
2. Phân loại các ngành kinh tế của địa phương :
Cơ cấu ngành kinh tế địa phương bao gồm các ngành kinh tế sau :
+ Công nghiệp : Gồm các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp khai
thác, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, công nghiệp lọc dầu,
ngành xây dựng…
+ Nông nghiệp : Gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư
nghiệp.
+ Dịch vụ : Gồm thương mại, du lịch, giao thông vận tải, bưu chính viễn
thông, tài chính ngân hàng và các ngành dịch vụ khác…
Khái niệm về cơ cấu ngành kinh tế của địa phương không chỉ giới hạn ở
mối quan hệ giữa các ngành và mang tính cố định mà nó luôn ở trang thái
động và nhất là không có một khuôn mẫu nhất định, nó tuỳ thuộc vào những
điều kiện tất yếu cụ thể theo không gian và thời gian. Cho đến nay sự tranh
luận trong các giới khoa học, giới quản lý không phải có khái niệm cơ cấu
ngành kinh tế mà chủ yếu là ở việc xác định cơ cấu đó có phù hợp với điều kiện
cụ thể của địa phương trong thời gian xác định. Trên thực tế có nhiều mô hình
cơ cấu ngành kinh tế, giữa các mô hình đó có những điểm giống nhau, song
cũng có những điểm khác nhau. Vấn đề là lựa chọn cơ cấu ngành kinh tế nào là
được coi là hợp lý nhất, đáp ứng tốt nhất yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội
của địa phương. Để có thể thồng nhất trong sự lựa chọn có cấu kinh tế hợp lý,
cần có sự nhất trí về quan điểm và tiêu chuẩn của cơ cấu ngành kinh tế như
thế nào là hợp lý.
Muốn xác định cơ cấu ngành kinh tế hợp lý phải căn cứ vào các điều kiện
tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội-chính trị ở trong địa phương và chính sách
đối ngoại của địa phương. Một cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu kinh tế thích
ứng nhất với các điều kiện cụ thể của địa phương và đem lại hiệu quả nhất
định.
Nhìn chung một cơ cấu ngành kinh tế đạt được hiệu quả phải tạo ra sự
ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế. Điều đó được biểu hiện qua các mặt
sau đây :
+ Một là, khai thác tối đa những ưu thế và thuận lợi về tài nguyên thiên
nhiên nói chung của địa phương như : Đất đai, địa hình, khí hậu, vị trí địa lý,
ưu thế truyền thống, tiềm năng vốn có về xã hội, chính trị, về quan hệ đối
ngoại…
Tuy nhiên, việc khai thác tối đa tài nguyên thiên nhiên không có nghĩa là
sử dụng và khai thác bừa bãi, có tính bóc lột, chạy theo lợi ích trước mắt, gây
huỷ hoại lâu dài, mà phải khai thác một cách khoa học, hợp lý đem lại hiệu quả
cao.
+ Hai là, cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành
tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm giảm đi. Do chức
năng chính của khu vực nông nghiệp là sản xuất lương thực, thực phẩm nên có
thể suy ra là tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu
nhập tăng lên.
Quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engel được phát hiện cho sự tiêu dùng
lương thực, thực phẩm nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng
cho việc nghiên cứu tiêu dùng các loại sản phẩm khác. Các nhà kinh tế học gọi
lương thực, thực phẩm là các sản phẩm thiết yếu, hàng công nghiệp là sản
phẩm tiêu dùng lâu bền, và việc cung cấp dịch vụ là sự tiêu dùng cao cấp. Qua quá
trình nghiên cứu họ phát hiện ra xu hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ
chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền tăng phù hợp với tăng thu nhập, còn chi tiêu
cho hàng tiêu dùng cao cấp tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập.
Như vậy, quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engel đã làm rõ tính xu
hướng của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển. Khi thu
nhập theo đầu người tăng lên thì tỷ trọng của sản phẩm nông nghiệp trong
tổng sản phẩm quốc dân sẽ giảm xuống, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ sẽ
tăng lên nhưng tỷ trọng của dịch vụ tăng nhanh hơn công nghiệp.
Các nhà kinh tế cho rằng, một nước (hay một dịa phương) nông nghiệp
muốn chuyển sang một nước (hay một dịa phương) công nghiệp phát triển cần
phải trải qua các bước sau : Chuyển nền kinh tế nông nghiệp (Tỷ trọng Nông
nghiệp chiếm 40%-60%, Công nghiệp chiếm 10%-20%, Dịch vụ chiếm 20%-
30%) sang kinh tế nông công nghiệp (Tỷ trọng Nông nghiệp chiếm 15%-25%,
Công nghiệp từ 25%-35%, Dịch vụ từ 40%-50%), để từ đó chuyển sang nền
kinh tế công nghiệp phát triển (Tỷ trọng Nông nghiệp chiếm dưới 10%, Công
nghiệp chiếm từ 35%-40%, Dịch vụ từ 50%-60%).
II. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA
ĐỊA PHƯƠNG :
1. Nhóm các yếu tố tự nhiên :
Bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, đất đai và tài nguyên. Nhóm yếu tố này
quyết định lợi thế nguồn lực tự nhiên của từng địa phương, chúng có mối quan