KHAO SAT THUC TRANG VA DE XUAT MOT SO GIAI PHAP NANG CAO HIEU QUA HOAT DONG TU HOC CUA SINH VIEN KHOA QTVP TRUONG DH NOI VU HN - Pdf 64

LỜI CAM ĐOAN
Nhóm chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát thực trạng và đề xuất một số giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên khoa Quản trị văn phòng
trường Đại học Nội vụ Hà Nội”. Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của nhóm trong thời gian qua. Nhóm chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
nếu có sự không trung thực về thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016
Nhóm thực hiện


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, nhóm tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt
tình của ThS. Nguyễn Thái Hòa. Nhân đây, nhóm chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết
ơn chân thành đến cô trong thời gian qua đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Đồng thời, nhóm cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến các thầy cô trong Khoa Quản trị văn phòng đã tổ chức những hoạt động vô cùng
bổ ích cho sinh viên thuộc Khoa.
Hiện tại nhóm chúng tôi đang là sinh viên năm hai, hệ cao đẳng chưa được học,
học phần nghiên cứu khoa học, vì thế trong quá trình nghiên cứu nhóm chúng gặp khá
nhiều khó khăn, mặt khác do trình độ chuyên môn còn hạn chế nên dù đã rất cố gắng
nhưng đề tài của chúng tôi không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, nhóm chúng tôi hy
vọng nhận được những ý kiến đóng góp của thầy, cô giáo và các bạn sinh viên của
trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói chung và sinh viên khoa Quản trị văn phòng nói
riêng để đề tài của nhóm chúng tôi được hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................1

2.2.1. Thời gian tự học của sinh viên.............................................................20
2.2.2. Địa điểm tự học của sinh viên.............................................................23
2.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động tự học của
sinh viên...............................................................................................................23
2.2.4 . Các phương pháp tự học có hiệu quả..............................................25
2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động tự học của sinh viên khoa Quản trị
văn phòng của trường Đại học Nội vụ Hà Nội............................................28
2.3.1. Ưu điểm.....................................................................................................28
2.3.2. Nhược điểm..............................................................................................29
2.3.3. Nguyên nhân...........................................................................................32
2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan........................................................................32
2.3.3.2. Nguyên nhân khách quan....................................................................34
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC CỦA SINH VIÊN.........................................................................................37
3.1. Giải pháp từ phía sinh viên......................................................................37
3.2. Giải pháp từ phía giảng viên....................................................................41
3.3. Giải pháp từ phía Khoa, Nhà trường......................................................44
KẾT LUẬN............................................................................................................. 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................49


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, đất nước ta đang đi theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, yêu
cầu đối với mỗi cá nhân lại ngày một cao để đáp ứng nguồn nhân lực đưa đất nước
phát triển. Vì vậy, vai trò của giáo dục& đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng
có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực có trình độ đại
học cho đất nước.
Tuy nhiên, mô hình đào tạo tín chỉ còn là một mô hình khá mới mẻ ở Việt Nam.
Trước mắt nó là một thách thức lớn đối với các trường Đại học ở Việt Nam nói chung

Nội dung: Hội thảo nhằm xác định thực trạng năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh
viên trường Đại học Tiền Giang; đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu
cho sinh viên nhằm góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo
của nhà trường; nhất là tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động tự học, tự nghiên cứu
của sinh viên - một sự tự học, tự nghiên cứu được tổ chức, kiểm tra, đánh giá chặt chẽ, khoa học
từ phía người dạy, người quản lý và sinh viên.
- Ngô An Giang, sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên với đề tài:
“Thực trạng vấn đề tự học của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên” vào năm 2012
Nội dung: Nhóm sinh viên đã nghiên cứu lý luận về vấn đề tự học và khảo sát
thực trạng tự học của sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên trong phương
thức đào tạo theo học chế tín chỉ, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động
tự học của sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Trong quá trình nghiên
cứu, nhóm sinh viên đã nhận ra được rằng: sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc tự học trong phương thức
đào tạo theo học chế tín chỉ nhưng chưa có kĩ năng, phương pháp tự học hiệu quả. Nếu
áp dụng các phương pháp nhằm nâng cao kĩ năng tự học, sinh viên có thể tích cực, chủ
động tự học hiệu quả và đạt kết quả cao. Từ đó, nhóm nghiên cứu đã làm rõ thêm thực
trạng vấn đề tự học của sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên hiện nay và
khả năng thích ứng với yêu cầu tự học trong đào tạo theo học chế tín chỉ từ đó xây
dựng được phương pháp tự học hiệu quả cho sinh viên trong mô hình đào tạo theo tín
chỉ.
- Th.S Dương Thị Thanh Huyền với “Quá trình tự học và phương pháp giảng
dạy tự học cho sinh viên”năm 2015.
Nội dung: Trình bày ý kiến khách quan của tác giả về tầm quan trọng của tự học
cho sinh viên và từ đó đề xuất một số phương pháp cho đội ngũ giảng viên trong việc
giảng dạy tự học cho sinh viên.


- Khoa Hóa học, trường Đại học Đồng Tháp- Nghiên cứu thực trạng về “tự
học và năng lực tự học của sinh viên ngành sư phạm hóa” với giảng viên chủ nhiệm là



Phạm vi không gian: Khoa Quản trị văn phòng trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Phạm vi thời gian: tháng 11 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016


6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê mô tả:
Sử dụng phiếu hỏi để điều tra nhằm mục đích tìm hiểu nhận thức của sinh viên
về vấn đề tự học, mức độ, hình thức tự học của sinh viên...
- Phương pháp chọn vùng nghiên cứu:
Chỉ nghiên cứu hoạt động tự học của sinh viên khoa Quản trị văn phòng trường
Đại học Nội Vụ Hà Nội
- Phương pháp phân tích tài liệu:
Tổng quan các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích, tập hợp, xây
dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu vấn đề tự học.
- Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn sinh viên về thực trạng tự học của sinh viên Trường Đại Học Nội vụ
Hà Nội hiện nay.
- Phương pháp xử lý tài liệu bằng thống kê toán học:
Sử dụng các công cụ thống kê để xử lí kết quả nghiên cứu nhằm rút ra kết luận
khách quan.
7. Cấu trúc của đề tài
Cấu trúc dự kiến trong báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia
làm 3 Chương:
Chương 1 : Tổng quan về hoạt động tự học của sinh viên
Chương 2: Khảo sát và đánh giá thực trạng tự học của sinh viên khoa Quản trị
văn phòng Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao khả năng tự học cho sinh viên khoa

thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc.
1.1.2. Khái niệm hoạt động tự học trong phương thức đào tạo tín chỉ
Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời vào năm 1872 tại Đại học
Harvard, Hoa Kỳ và sau đó được lan tỏa tới các nước khác, trước hết là các nước tây
Âu từ những năm 1960 và hiện nay đã phổ biến trên toàn thế giới. Hiện nay có khoảng


hơn 60 định nghĩa về tín chỉ. Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định
nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra
của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình
học. Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên cứu giáo dục ở
Việt Nam biết đến nhiều nhất là của học giả người Mỹ gốc Trung Quốc James
Quann thuộc Đại học Washington. Trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín
chỉ tại Đại học Khoa học Công nghệ Hoa Trung, Vũ Hán mùa hè năm 1995, học giả
James Quann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau:
Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người
học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm thời gian lên lớp; thời gian ở
trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời
khóa biểu; và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc
chuẩn bị bài.
1.1.3. Đặc điểm của hoạt động tự học theo phương thức đào tạo tín chỉ
Theo điều 3 quy chế số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT một tín chỉ được quy định
bằng 15 tiết học lý thuyết, 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, 45- 90 giờ
học tại cơ sở, 45-60 giờ làm bài tiểu luận bài tập lớp hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệm,
để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị các nhân, Hiệu
trưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp
với từng đặc điểm của trường, đối với những chương trình, khối lượng của đã được
tính the đơn vị học trình. Thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ. một tiết
học được tính bằng 50 phút.
Trường đại học Nội vụ Hà Nội đã ban hanh quyết định số 583/QĐ-ĐHNV một

viên không ý thức lắng nghe, không tự giác làm bài thực hành thì sẽ không thể tiếp thu
được bài học có hiệu quả.
Chính vì vậy tự học trong phương thức đào tạo tín chỉ là một vấn đề cốt lõi
nhất, tự học là tự vận dụng bộ não, kiến thức, kinh nghiệm để có thể hiểu và làm bài
một cách có hiệu quả, giúp ta tiếp thu nhanh hơn. Chúng ta có thể lên thời khóa biểu
cho các kế hoạch học tập của mình, lập được kế hoạch sao cho có hiệu quả cao, khoa
học, sáng tạo và không phụ thuộc vào bất kì yếu tố nào chi phối. Hằng ngày sinh viên
lên lớp, về nhà chủ động học tập, nghiên cứu bài giảng, vận dụng kiến thức để hiểu sâu
hơn và tìm tòi được nhiều điều bổ ích hơn nữa.
1.2. Lợi ích và sự cần thiết của hoạt động tự học đối với sinh viên
Xã hội ngày càng phát triển, kéo theo sự phát triển của khoa học công nghệ hiện
đại, đã bắt đầu tình trạng tràn ngận thế giới âm thanh, hình ảnh sinh động (nghe và
nhìn) nhu cầu học của con người phát triển theo. Nếu như trước đây ta đến trường chỉ


“ ghi và chép” học một cách thiếu khoa học không tiếp thu được hết kiến thức thì ngày
nay sinh viên có thể “tự học” một cách dễ dàng hơn, mang lại hiệu quả cao hơn, tiếp
thu nhanh hơn. Vậy tự học mang lại lợi ích tuyệt vời ra sao và chúng ta tiếp thu tự học
như thế nào?
Trước hết ta hiểu tự học là tự tìm hiểu, tìm tòi, chắc lọc các kiến thức và học nó
một cách dễ dàng hơn.
Tự học một cách có khoa học sẽ đem lại những lợi ích tuyệt vời :
Thứ nhất: Tự học giúp chúng ta ghi nhớ tốt hơn, sâu hơn.
Mỗi chúng ta có thể tự học khi nghe giảng, khi đọc sách hay ta học online đó
chính là lúc ta tích cực suy nghĩ vận động bộ não, ghi chép sáng tạo một cách có hiệu
quả. Rút ra được bài học, kinh nghiệm cho chính bản thân.
Trên giảng đường, sinh viên thường lắng nghe và ghi chép lại kiến thức mà
giảng viên muốn truyền tải, giảng viên là người hướng dẫn nhưng nếu sinh viên không
tập trung nghiên cứu, thì lượng kiến thức đó sẽ bị mất đi ít nhiều hoặc lãng quên nhanh
chóng. Tự học giúp chúng ta nhận thức sâu bài học, nhớ lâu hơn, và nghiên cứu nó

nhở tinh thần cho chính bản thân mình. Người học phải hiểu rằng bất cứ việc gì, người
nào biết dựa vào sức mình là chính, năng lực người đó mới nhanh chóng phát triển, sự
thành công mới vững chắc. Điều quan trọng bậc nhất, độc lập suy nghĩ, làm việc sẽ
khiến những kiến thức tiếp thu được sâu sắc, dễ vận dụng. Phong cách học tập mới là
vừa học tập kiến thức khoa học vừa thông qua đó mà tự giác rèn luyện con người
mình, nó chống lại việc chỉ lo nhồi nhét kiến thức mà không lo rèn luyện con người
mới. Hơn nữa, cần rèn luyện lòng say mê, yêu khoa học. Để có được lòng say mê khoa
học cần thấm thía "cái hay", "cái tài" của khoa học, điều đó chỉ có được trong quá trình
lao động nghiên cứu khoa học.
1.3. Kinh nghiệm của một số trường đại học trong việc nâng cao khả năng
tự học trong sinh viên
1.3.1. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Vai trò quan trọng của hoạt động tự học là giúp cho mỗi cá nhân có một trí tuệ
hơn, ý nghĩa, hạnh phúc và hài hòa hơn, đã tác động mạnh mẽ đến đội ngũ lãnh đạo tại
trường Đại học Quốc gia Hà Nội trong việc chú trọng và đẩy mạnh hoạt động tự học
trong toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên của Nhà Trường. Hiểu được ý nghĩa
quan trong của hoạt động tự học đối với nâng cao chất lượng đào tạo, trường Đại học
Quốc gia Hà Nội đã có những hành động quyết liệt trong việc phát triển hoạt động tự
học cho sinh viên như sau:
Một là: Xây dựng quyết tâm và động lực tự học cho sinh viên.


Giúp cho sinh viên nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về vị trí, tầm quan trọng
của việc tự học, tự rèn luyêṇ. Từ đó xác định quyết tâm, xây dựng động cơ học tập
đúng đắn.
Muốn khả năng tự học của sinh viên được bồi dưỡng và phát triển, ngoài nhân
tố nội lực của chính sinh viên, còn có một nhân tố quan trọng là sự hướng dẫn của
giảng viên, cán bộ quản lý trong việc giúp đỡ sinh viên tạo ra động cơ học tập, rèn
luyện. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã giáo dục động cơ, thái độ trách nhiệm học
tập của sinh viên được tiến hành theo những nội dung và cách thức khác nhau. Trong

chọn lọc, có liên hệ thực tiễn.
Ngoài vấn đề nghe giảng, giảng viên còn cần hướng dẫn cho sinh viên phương
pháp đọc tài liệu, chọn lọc thông tin và phương pháp luyện tập các nội dung thực
hành…Thông qua các biện pháp đó để sinh viên nâng cao hiệu suất tự học, tự rèn
luyện của riêng mình.
Trong khi xây dựng chương trình, kế hoạch tự học, sinh viên phải nắm chắc
mục tiêu, yêu cầu nội dung và phương pháp tiến hành một cách phù hợp với các quy
định, khung thời gian, với điều kiện cụ thể, đặc thù của nhà trường… Người dạy phải có
kiến thức và sự hiểu biết căn bản về các văn bản, quy định và cơ sở khoa học về tổ chức hoạt
động tự học, tự rèn luyện cho sinh viên.
Ba là: Tạo môi trường sư phạm tích cực
Tạo một môi trường học tập thuận lợi, khoa học và hiệu quả với sinh viên. Giúp
sinh viên phát huy cao độ khả năng tự học, tự rèn luyêṇ , tạo môi trường phát triển tư
duy, sáng tạo, tích cực, chủ động để đạt hiệu quả học tập tốt nhất. Duy trì nghiêm túc
thời gian tự học, chấn chỉnh kịp thời những trường hợp không thực hiện kế hoạch tự
học hoặc những trường hợp làm ảnh hưởng đến quá trình tự học của người khác. Đưa
kế hoạch tự học vào nền nếp, có biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn những sinh viên còn lúng
túng trong xác định phương pháp tự học. Đồng thời, tích cực biểu dương những mô
hình, phương pháp tự học hiệu quả. Tuy việc tự học mang sắc thái cá nhân nhưng nó
không tách rời khỏi tập thể lớp học và môi trường học tập tại nhà trường. Do đó, thông
qua việc biểu dương để nhân rộng mô hình tự học hiệu quả hoặc gợi mở cho các sinh
viên khác những phương pháp tự học phù hợp với mình. Để tạo môi trường sư phạm
tích cực còn phải xây dựng mối đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình
tự học để cùng tiến bộ.
Bốn là: Bảo đảm cơ sở vật chất, học liệu phục vụ tự học
Bảo đảm tốt nhất về cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động tự học. Tất cả hoạt
động học tập nói chung và hoạt động tự học nói riêng đều cần có sự bảo đảm về cơ sở,
vật chất, học liệu. Đây là điều kiện không thể thiếu để tạo ra hiệu quả, phát triển theo



Kết luận: Tự học có ý nghĩa hết sức quan trọng với sinh viên không chỉ trong
quá trình học tập tại trường Đại học Quốc gia Hà Nội mà còn gắn bó với sinh viên


trong suốt quá trình học tập và làm việc sau này . Chỉ có phát huy tốt vai trò tự học
mới nâng cao được trình độ kiến thức, hoàn thiện phẩm chất nhân cách biến quá trình
đào tạo thành quá trình tự đào tạo, đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của mục tiêu
phát triển con người hiện nay.
1.3.2. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Là ngôi trường áp dụng cơ chế học tín chỉ từ lâu, nhằm nâng cao khả năng tự
học cho sinh viên, trường Đại học kinh tế Quốc dân đã đưa ra những nhiệm vụ cho tất
cả sinh viên, đội ngũ giảng viên và nhà trường
Một là: Một số nhiệm vụ chính của giảng viên đối với hoạt động tự học của
sinh viên
Giúp sinh viên nắm được đề cương chi tiết học phần. Khi bắt đầu một học phần,
giảng viên cần giới thiệu và cung cấp cho sinh viên đề cương của học phần đó. Nội
dung của đề cương bao gồm: Mục tiêu học phần, nội dung chi tiết của học phần, điều
kiện tiên quyết, hình thức tổ chức và phương pháp dạy - học cho từng nội dung của
học phần, hình thức kiểm tra - đánh giá của từng hoạt động học tập…Qua đó, sinh viên
chủ động lên kế hoạch tự học, tự nghiên cứu để thực hiện được các mục tiêu của môn
học. Giảng viên cần phải tuân thủ theo đúng kế hoạch trong đề cương và yêu cầu sinh
viên nghiêm túc thực hiện đề cương này.
Xác định rõ nội dung tự học và phương tiện để thực hiện nội dung đó. Để giúp
sinh viên thực hiện được nhiệm vụ tự học của mình, giảng viên cần giới thiệu đầy đủ
các tài liệu bắt buộc, tài liệu tham khảo, cách thu thập, tra cứu và xử lý thông tin trong
tài liệu với những hướng dẫn chi tiết, cụ thể bởi vì sinh viên có thể đọc giáo trình, tài
liệu trước nhưng không có sự hướng dẫn của giảng viên thì chất lượng đọc - hiểu rất
hạn chế. Hướng dẫn học tập không chỉ bằng lời nói âm thanh của giảng viên trên lớp,
bởi rất có thể “lời nói gió bay”, nhất là đối với những người ý thức học tập chưa cao và
cuối giờ học, tâm thế thường kém tập trung. Do vậy cần tường minh hóa, song song

điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất: phòng học, trang thiết bị học tập, nguồn học
liệu… Trong đó hệ thống nguồn học liệu đầy đủ về số lượng, phong phú về nội dung
và chuẩn mực về chất lượng là một yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động tự học của
sinh viên. Vì vậy cần phải:
- Củng cố, nâng cấp, mở rộng hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm - thực
hành - thực tập, thư viện; bám sát yêu cầu của các đề cương chi tiết học phần để chuẩn
bị các học liệu được coi là bắt buộc ghi trong đề cương.
- Tăng cường khả năng khai thác các tiện ích của mạng nội bộ, mở rộng nguồn
tư liệu điện tử, thiết bị dạy học… bằng cách ứng dụng các thành tựu công nghệ thông
tin hiện đại.


- Lớp học quá đông cũng ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên. Vì vậy, cần
sắp xếp và bố trí mỗi lớp học có số lượng từ 60 -70 sinh viên là phù hợp cho việc dạy
và học.
Ba là: Vai trò của cố vấn học tập đối với hoạt động tự học
Cố vấn học tập đóng một vai trò rất quan trọng đối với quá trình tự học của sinh
viên, để quá trình tự học đạt hiệu quả tốt thì phải nâng cao vai trò của cố vấn học tập vì
họ là người: tư vấn cho sinh viên để sinh viên tự tổ chức và kiểm soát tốt nhất tiến
trình học tập của mình, giúp sinh viên thực hiện được mục tiêu học tập của mình;
hướng dẫn sinh viên lên kế hoạch học tập cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo
của trường; hướng dẫn sinh viên về phương pháp học tập, nghiên cứu và thường xuyên
theo dõi kết quả học tập của sinh viên; nhắc nhở sinh viên khi thấy kết quả học tập của
họ giảm sút; hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên giải quyết những khó khăn vướng mắc
trong học tập; hướng dẫn cho sinh viên về cách học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ.
Như vậy, cố vấn học tập là người có nhiều thời gian tiếp xúc với sinh viên, họ là ngừi
định hướng, tư vấn cách học để sinh viên có phương pháp học tập tốt nhất. Đối với
trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì hoạt động của cố vấn học tập còn mờ nhạt, chưa
phát huy hết vai trò đối với việc tự học của sinh viên. Vì vậy để hoạt động tự học của
sinh viên đại học Kinh tế Quốc Dân đạt kết quả tốt, cố vấn học tập cần phát huy tích

tổ chức Đoàn, Hội là nơi rèn luyện tốt kỹ năng cần thiết cho sinh viên; cùng với cơ sở
vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc học; cơ chế quản lý được đảm bảo tốt. Tất cả
những yếu tố trên nếu kết hợp một cách chặt chẽ và triển khai đồng bộ thì việc tự học
của sinh viên ở trường đại học Kinh tế Quốc dân sẽ đạt hiệu quả cao.


CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
2.1. Vài nét về khoa Quản trị văn phòng Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2.1.1. Giới thiệu chung về trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Trên hành trình thực hiện sứ mệnh “ mở cửa cơ hội học tập cho mọi người” với
chất lượng tốt, phục vụ nhu cầu học tập đa dạng với nhiều hình thức đào tạo, đa ngành,
đa cấp độ, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực của ngành nội vụ nói riêng và cho xã hội
nói chung, phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triền đất nước và hội nhập quốc
tế”.Trong những năm qua, trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã không ngừng nỗ lực và
đổi mới để phát triển, tạo dựng và khẳng định thương hiệu của nhà trường.
Chặng đường phát triển của trường Đại học Nội vụ Hà Nội:
- Năm 1971 Trường trung học Văn thư lưu trữ được thành lập theo Quyết định
số 109/BT ngày 18/12/1971 của Bộ trưởng phủ Thủ tướng với nhiệm vụ đào tạo cán
bộ trung học chuyên nghiệp của ngành Văn thư, lưu trữu; bồi dưỡng huấn luyện
nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ đang làm công tác văn thư, lưu trữ ở các cơ quan
nhà nước. Trường đóng tại xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ngày 11/5/1994, Bộ trưởng Trưởng Ban tổ chức Cán bộ Chính phủ (nay là
Chính Phủ) đã kí quyết định số 50/TCCB-VP về việc chuyển địa điểm của trường từ
Vĩnh Phúc về tại Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội. Quyết đinh này thể hiện sự quan tâm của
Bộ Nội vụ, tạo cơ hội tốt cho trường trong việc tuyển sinh, tiếp nhận giáo viên có
chuyên môn cao cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu
tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức của ngành và đất nước.
- Sau 2 lần đổi tên, ngày 15/6/1996 Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành

hành chính văn phòng và thông tin thư viện ( giai đoạn 2004-2008). Khoa Quản trị văn
phòng được hình thành và phát triển trên cơ sở các khoa:
- Khoa Hành chính văn phòng (giai đoạn 2001 - 2004)
- Khoa Hành chính văn phòng và Thông tin thư viện (giai đoạn 2004 - 2008)
- Khoa quản trị văn phòng (Từ 10/9/2008 đến nay)
2.1.2.1. Ngành đào tạo
Khoa Quản trị văn phòng đang thực hiện đào tạo 02 chuyên ngành:
- Ngành Quản trị văn phòng: Bậc Đại học, Bậc Cao đẳng
- Ngành thư ký văn phòng: Bậc Cao đẳng


- Quản lí đào tạo hệ chính quy ngành Quản trị văn phòng gồm có các bậc học
trung cấp, cao đẳng, đại học: trung cấp hành chính văn phòng; cao đẳng quản trị văn
phòng, đại học Quản trị văn phòng.
- Quản lí đào tạo hệ chính quy ngành Thư ký văn phòng bậc cao đẳng.
- Quản lí đào tạo hệ liên thông từ từ cao đẳng lên đại học ngành Quản trị văn phòng.
- Đối tượng được học liên thông thẳng: từ cao đẳng Quản trị văn phòng lên đại
học Quản trị văn phòng.
2.1.2.2. Tầm nhìn và sứ mạng phát triển
Quan điểm đào tạo của Khoa Quản trị văn phòng: “Đào tạo theo nhu cầu xã
hội: đào tạo cái gì xã hội và doanh nghiệp cần chứ không phải đào tạo cái gì mình
có”.
Sứ mạng: Giúp người học phát huy hết những năng lực tiềm ẩn của chính mình
với một văn hoá giáo dục hiện đại; cung cấp cho người học chương trình đào tạo về
chất lượng cao về khoa học quản trị - hành chính văn phòng góp phần phát triển nguồn
nhân lực phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế.
Tầm nhìn: Trong tương lai, Khoa Quản trị văn phòng phấn đấu trở thành đơn vị
đào tạo có chất lượng cao, đạt chuẩn; đào tạo ra được những con người mạnh khoẻ về
thể chất, mạnh mẽ về trí lực, đáp ứng được nhu cầu xã hội, sự phát triển và hội nhập

của mình.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát với một mẫu 200 phiếu thăm dò được phát ra,
thu thập ý kiến về hoạt động tự học đã được gửi đến các sinh viên được lấy ngẫu nhiên
đại diện cho sinh viên các ngành, các khóa đang theo học tại khoa Quản trị văn phòng
với hai nhóm đối tượng chính là sinh viên đại học chính quy và sinh viên đại học liên
thông về cách thức tự học của mình. Kết quả: có 90% sinh viên đều ý thức được tầm
quan trọng của việc tự học.
2.2.1. Thời gian tự học của sinh viên
Từ đó dễ dàng nhận ra rằng, việc tự học là vô cùng cần thiết và chi phối rất
nhiều tới kết quả học tập của sinh viên. Nhưng qua khảo sát, chúng tôi cũng nhận ra
được một thực tế rằng dù sinh viên ý thức được tầm quan trọng của việc tự học cũng
không dành quá nhiều thời gian cho việc tự học.
Một ngày sinh viên có rất nhiều hoạt động phải thực hiện, vì vậy thời gian tự
học một ngày bao nhiêu giờ cũng là điều sinh viên phải cân bằng và tính toán sao cho
khoa học và hợp lý. Biểu đồ dưới đây là một dẫn chứng cụ thể:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status