Thực trạng hoạt động hỗ trợ DNVVN tiếp cận vốn vay ngân hàng - Pdf 64

Thực trạng hoạt động hỗ trợ DNVVN tiếp cận vốn vay
ngân hàng
2.1. Tình hình phát triển DNVVN những năm qua
2.1.1. Số lượng, cơ cấu ngành và sự phân bố theo vùng của khu vực
DNVVN
Theo công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Chính phủ thì
DNVVN là những doanh nghiệp có số vốn dưới 5 tỷ đồng và số lao động dưới
200 người. Với tiêu chí về vốn như vậy thì có 20916 trên tổng số 24708 doanh
nghiệp được điều tra trong cuộc Tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính, sự
nghiệp tiến hành năm 1995 là DNVVN, chiếm 88,2% tổng số doanh nghiệp.
Trong đó đối với khu vực doanh nghiệp Việt Nam thì tỷ lệ này là 89,5% và khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài là 33,6%. Rõ ràng là các DNVVN chủ yếu là
những doanh nghiệp có vốn trong nước.
Theo tiêu chí về vốn thì số lượng DNVVN theo các loại hình và thành
phần kinh tế như sau:
Bảng 2.1: TỶ LỆ DNVVN TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP
Loại hình doanh nghiệp
Tỷ lệ
%
1. Số lượng DNVVN trong khu vực DNNN
2. Số lượng DNVVN trong khu vực DNNN địa phương
3. Số lượng DNVVN trong khu vực DNNN trung ương
4. Số lượng DNVVN trong khu vực kinh tế tập thể
5. Số lượng doanh nghiệp tư nhân thuộc loại vừa và nhỏ
6. Số lượng công ty cổ phần thuộc loại vừa và nhỏ
7. Số lượng công ty TNHH thuộc loại vừa và nhỏ
8. Số lượng doanh nghiệp có vốn nước ngoài thuộc loại vừa và nhỏ
Tổng số DNVVN trong toàn bộ số lượng doanh nghiệp
65,9
74,6
47,8

Số DNVVN còn lại hoạt động trong rất nhiều ngành khác nhau nên mỗi ngành
đó chỉ có rất ít DNVVN với số lượng không đáng kể. Số lượng các DNVVN hoạt
động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ đời sống chiếm số đông (46,2%) là
điều dễ hiểu vì đầu tư vào lĩnh vực này các doanh nghiệp chỉ cần một lượng
vốn nhỏ, thời gian quay vòng của vốn nhanh, trình độ nghiệp vụ không cao phù
hợp với quy mô vừa và nhỏ; trái lại trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng các
doanh nghiệp phải đầu tư một lượng vốn lớn, chu kỳ sản xuất dài, trình độ
quản lý cũng như trình độ lao động đòi hỏi khá cao, rõ ràng là chỉ thích hợp
với các doanh nghiệp quy mô lớn nên DNVVN trong lĩnh vực này chỉ chiếm
khoảng18%.
Về phân bố theo vùng của các DNVVN. Sự phân bố DNVVN theo địa bàn
không đồng đều tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, chiếm 73% số DNVVN
của cả nước (thành phố HCM 25%, các tỉnh khác ở Nam bộ 48%), các tỉnh phía
Bắc 18%, các tỉnh miền Trung chiếm 9%. Tỷ lệ phân bố theo vốn cũng chủ yếu
tập trung ở các tỉnh Nam bộ (thành phố HCM và các tỉnh miền Đông Nam bộ
chiếm 51%, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 20%), còn lại các tỉnh đồng
bằng sông Hồng 13%, miền Trung 7%, Tây Nguyên 2%, khu bốn cũ 2%, miền
núi và trung du Bắc bộ 2%.
Bên cạnh các doanh nghiệp do các nhà đầu tư trong nước thành lập, nhờ
chính sách mở cửa nên đã có nhiều doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn
nước ngoài được thành lập tại Việt Nam. Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài
này chủ yếu tập trung ở các khu đô thị và trung tâm công nghiệp lớn, đặc biệt
là vùng Đông Nam bộ với nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp phát triển ngày
càng mạnh mẽ.
Như vậy riêng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đã chiếm trên
55% tổng số DNVVN của cả nước. Hai vùng có số lượng DNVVN lớn tiếp theo
đó là đồng bằng sông Hồng (18,1%) và duyên hải miền Trung (10,1%). Các
vùng còn lại có số lượng DNVVN chiếm tỷ trọng rất thấp.
2.1.2. Vốn và trình độ công nghệ thiết bị của DNVVN
Như trên đã trình bày nguồn vốn cho DNVVN bao gồm vốn tự có, nguồn

56
( Nguồn: Bộ Kế hoạch Đầu tư )
Bảng 2.2 đã chỉ ra cho ta thấy trong thời kỳ 91-97 quy mô vốn trung
bình của các công ty cổ phần là lớn nhất do tổng số vốn đăng ký của các CTCP
lúc này tuy nhỏ nhưng số lượng các công ty này không nhiều. Có lẽ do công ty
cổ phần vẫn còn là một hình thức mới mẻ của thời kỳ này nên nhiều người
chưa thật sự thấy được ích lợi của loại hình này để đầu tư đúng như một
chuyên gia ngân hàng người Pháp đã nhận xét:" Người Việt Nam chưa có thói
quen góp vốn thành lập công ty cổ phần, có tiền chỉ thích mua xe gắn máy hai
bánh và xây nhà ở to". Còn đối với các doanh nghiệp tư nhân mới thành lập lại
có quy mô vốn trung bình là nhỏ nhất chỉ có 184 triệu đồng/1DN. Điều này
cũng rất hợp lý bởi các DNTN phát triển rất nhanh về số lượng do chủ trương
của Đảng và Nhà nước khuyến khích trong khi nguồn vốn thì lại nhỏ bé chỉ dựa
vào vốn tự có của chủ doanh nghiệp mà thôi. DNNN giai đoạn này có quy mô
vốn trung bình khá lớn khoảng 15,9 tỷ đồng tương ứng với số vốn 103.285 tỷ
đồng và 6511 DNNN.
Năm 2000 có sự thay đổi rõ rệt về quy mô vốn trung bình của doanh
nghiệp. Vốn trung bình của một DNTN mới thành lập tăng lên đến 434,06 triệu
đồng (tăng 235% so với thời kỳ trên) do trong năm 2000 Luật doanh nghiệp
được thực thi tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển
mạnh về số lượng, về vốn đăng ký. Trong khi đó quy mô vốn trung bình của
công ty cổ phần giảm đáng kể chỉ còn 4231,41 triệu đồng (giảm 414% so với
thời kỳ trên). Có sự sụt giảm mạnh như vậy là vì Nhà nước rất khuyến khích
các doanh nghiệp cổ phần hoá làm cho các CTCP ngày càng tăng nhưng số vốn
đăng ký lại không tăng theo tương ứng. Quy mô vốn trung bình của DNNN
cũng giảm mạnh bởi các DNNN làm ăn thua lỗ nhiều dẫn tới quá trình sắp xếp
lại các DNNN. Khả năng sinh lợi của DNNN ngày càng thấp, xu hướng giảm
qua các năm như sau: năm 95:16,71%; năm 97:12,3%; năm 98:12,31%; năm
99: 11,21%; năm 2000: 9,6%.
Cũng như vốn, công nghệ thiết bị là một nhân tố quan trọng trong hoạt

quyết. Đó là sự thiếu vắng chiến lược công nghệ cho DNVVN nên đổi mới công
nghệ diễn ra một cách tự phát cá biệt thiếu định hướng, hướng dẫn và hỗ trợ
của nhà nước hay của doanh nghiệp lớn. Đồng thời các DNVVN còn phải đối
mặt với tình hình thiếu thông tin hướng dẫn và điều kiện tiếp cận công nghệ
trong khi năng lực tài chính hạn hẹp. Việc đổi mới công nghệ chỉ là việc làm tự
thân của DNVVN. Vì vậy Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp, điều
kiện thích hợp giúp DNVVN đổi mới công nghệ máy móc thiết bị đạt tới trình
độ hiện đại trong một tương lai không xa.
2.1.3. Thị trường và khả năng cạnh tranh của DNVVN
Một trong những vấn đề quan trọng mang tính sống còn của các DNVVN
là xác định thị trường và chọn lựa vị trí kinh doanh. Thị trường là yếu tố mang
tính tổng hợp, nhân tố quan trọng hàng đầu tạo ra môi trường kinh doanh
thuận lợi cho các doanh nghiệp. Bất cứ doanh nghiệp nào cũng mong muốn
tiêu thụ được nhiều sản phẩm tức là có một thị trường đầu ra vững chắc. Do
đặc thù của mình, các DNVVN thường tập trung khai thác những những thị
trường và mặt hàng mới, những thị trường ngách mà các doanh nghiệp lớn ít
chú ý hoặc không muốn đảm nhận.
Thực trạng nền kinh tế cho thấy các DNVVN đang có nguy cơ mất thị
trường ngay trên nước mình do nạn hàng ngoại nhập lậu và nhập chính ngạch
tràn lan, hơn nữa các mặt hàng này thường có chất lượng tốt hơn hàng hoá
trong nước. Nguy cơ này sẽ còn gia tăng nặng nề hơn theo tiến trình Việt Nam
tham gia vào AFTA vào năm 2006.
Vì thế song song với cuộc vận động "Người Việt Nam dùng hàng Việt
Nam", Nhà nước với tư cách người tiêu dùng cần có những quan điểm, biện
pháp mạnh mẽ thúc đẩy các cơ quan, DNNN ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Có
như vậy thị trường cho DNVVN mới được mở rộng và phát triển một cách
vững chắc.
2.1.4. Lao động và đội ngũ quản lý của DNVVN
Việc quản trị nhân sự trong các DNVVN có ý nghĩa quan trọng đối với sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Lao động trong DNVVN phải là những

chủ động có hiệu quả trên cơ sở những mục tiêu đã đề ra. Đó là theo hướng
tăng thợ giảm thầy, sử dụng có hiệu quả kinh phí đào tạo do nhà nước quốc tế
tài trợ. Với đội ngũ chủ doanh nghiệp phải được đào tạo cơ bản và làm việc
theo ngành nghề để tránh tình trạng như hiện nay chủ yếu trưởng thành từ
thực tế thiếu kiến thức cơ bản nên làm chủ một doanh nghiệp nhỏ thì được
nhưng khi có sự nâng cấp về quy mô thì bất cập đổ vỡ. Còn đối với đội ngũ lao
động cần đào tạo kết hợp cả lý thuyết lẫn thực hành không nên quá thiên về lý
thuyết.
2.1.5. Vị trí của DNVVN đối với tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của các DNVVN đã có tác động tích cực tới quá
trình thực hiện các mục tiêu kinh tế chính trị xã hội của đất nước, mở ra
những cơ hội cho người dân vươn lên bằng chính khả năng của mình cũng
như tạo ra một môi trường nhiều sáng kiến tự lực tự cường cho các cá nhân
và tập thể trong xã hội.
DNVVN có hai tác dụng tích cực chủ yếu đối với nền kinh tế, đó là đóng
góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua chỉ tiêu GDP và tạo việc làm cho người
lao động.
Với tỷ lệ hơn 90% tổng số doanh nghiệp của cả nước, DNVVN đóng góp
vào GDP của cả nước khoảng 24-25% mỗi năm, vào giá trị kim ngạch xuất
khẩu là 70%, chủ yếu là các hàng nông thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ, may mặc,
da giày... và giữ vai trò chủ yếu trong hoạt động thương mại dịch vụ. Có thể
nói các DNVVN trong các thành phần kinh tế đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp
đổi mới, tăng trưởng kinh tế đảm bảo thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000
tăng bình quân GDP 7%, nông nghiệp tăng 5,6%, công nghiệp tăng 13,5%, kim
ngạch xuất khẩu tăng 21,5%. Năm 2001 theo báo cáo của Thủ tướng Chính
phủ tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá X mặc dù tình hình kinh tế thế giới và
trong nước gặp rất nhiều khó khăn nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của
nước ta vẫn đạt 6,8%, công nghiệp tăng 14,5%, thuỷ sản tăng 15,5%, vốn đầu
tư phát triển toàn xã hội tăng 16%, thu ngân sách tăng 7,4%. Những con số
này đã chứng minh vai trò và sự đóng góp không nhỏ của DNVVN từ đó góp

Bắc có lượng dân cư khá đông lại có các điều kiện phát triển kinh tế rất thuận
lợi như cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, thông tin... dẫn đến số lượng lao
động di cư đến ngày càng nhiều và kết quả là thu nhập tăng lên.
Sang năm 2000 tỷ lệ thất nghiệp ở các thành phố, các vùng kinh tế đều
giảm đáng kể. Cụ thể là Hà Nội từ 10,31% xuống 7,95%; TP.HCM từ 7,04%
xuống 6,48%; ĐBSH từ 9,34% xuống 7,34%; vùng Đông Bắc từ 8,72% xuống
6,49%. Nguyên nhân chủ yếu là do năm 2000 Luật Doanh nghiệp bắt đầu có
hiệu lực thông thoáng hơn tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển dẫn
đến hàng loạt các doanh nghiệp tư nhân ra đời với số lượng khoảng 29.519
doanh nghiệp, đến 1/4/2001 là 32.133 doanh nghiệp (so với 20.272 DN vào
năm 96). Số doanh nghiệp này đã giải quyết được một số lượng lớn công ăn
việc làm cho người lao động khoảng 4643,8 nghìn người.
Một cuộc điều tra toàn bộ DNVVN gần đây cho thấy số lao động làm việc
trong các doanh nghiệp của tư nhân (gồm DNTN, công ty TNHH, công ty cổ
phần) đã chiếm 1/4 tổng số lao động làm việc ở toàn bộ các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế, gấp trên 4 lần số lao động ở các HTX, gấp trên 2
lần số lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bằng 1/2 số
lao động ở các DNNN. Đây là những con số vô cùng ý nghĩa góp phần giảm tỷ
lệ thất nghiệp ở nước ta từ 7,4% (năm 99) xuống 6,44% (năm 2000). Rõ ràng
là chỉ riêng khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra việc làm cho một số lượng lớn
lao động mà kinh tế tư nhân thì hơn 95% là DNVVN.
Thông qua quá trình phân tích ở trên ta đã thấy được bức tranh toàn
cảnh về DNVVN ở Việt Nam. Bức tranh mô tả DNVVN tồn tại và phát triển
như một thực thể năng động trong nền kinh tế, góp phần giải quyết việc làm,
tăng thu nhập cải thiện đời sống nhân dân. Phát triển DNVVN đã đẩy mạnh
việc lưu thông phân phối, đáp ứng kịp thời nhu cầu mọi mặt đời sống dân cư
và thúc đẩy sản xuất phát triển . Mặt khác DNVVN đã tạo ra và huy động có
hiệu quả nguồn vốn to lớn trong dân vào sản xuất kinh doanh, thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH đồng thời nó cũng là nơi ứng dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nơi đào tạo rèn luyện các chủ doanh nghiệp lớn

vốn chính thức; nâng tỷ trọng vốn vay trong tổng nguồn vốn của DNVVN tăng
lên đáng kể đặc biệt là đối với các DNVVN ngoài quốc doanh. Các DNNN quy
mô vừa và nhỏ khi vay vốn ngân hàng không cần phải có tài sản thế chấp hơn
nữa còn được nhà nước cấp kinh phí hoạt động theo một tỷ lệ nhất định vì thế
NHTM đã thay đổi cơ cấu cho vay theo hướng cho vay các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh ngày càng nhiều hơn được thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng 2.5: CƠ CẤU CHO VAY CỦA HỆ THỐNG NHTM GIAI ĐOẠN 1990-2000
N¨m
Khu vùc kinh tÕ
DNNN 90 68.5 55.2 50.7 49.2 48.5
KTNQD 10 31.5 44.8 49.3 50.8 51.5
99 200091 93 95 97
(Nguồn: Tạp chí ngân hàng 2001)
Như vậy trong giai đoạn 90-95 tỷ trọng cho vay DNNN giảm mạnh từ
90% xuống 55,2% còn tỷ trọng cho vay kinh tế NQD của hệ thống ngân hàng
tăng nhanh từ 10% năm 91 lên 44,8% năm 95 nhưng sang giai đoạn 96-2000
tỷ trọng cho vay kinh tế NQD vẫn tăng nhưng tăng chậm lại từ 49,3% năm 97
lên 51,5% năm 2000. Sở dĩ có sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu tín dụng ngân
hàng là do: Trong 10 năm qua Nhà nước ta đã tiến hành 3 đợt sắp xếp lại
DNNN: 91-94, 95-97 và 98-2000, số lượng DNNN đã giảm hơn 50% từ 12.300
DNNN xuống còn 5789 DNNN hiện nay do giải thể, phá sản, sáp nhập, cổ phần
hoá... Đồng thời với sự sụt giảm của các DNNN là sự phát triển mạnh của kinh
tế NQD từ 20.272 doanh nghiệp năm 1996 lên đến 29.519 doanh nghiệp năm
1999. Trong khi đó các NHTM cũng là một loại hình doanh nghiệp, muốn tăng
doanh thu tăng lợi nhuận thì phải mở rộng cho vay, bám sát khách hàng để cho
vay. Và khi cơ cấu khách hàng thay đổi số lượng DNNN giảm nhiều thì dĩ nhiên
các NHTM sẽ mở rộng cho vay kinh tế NQD.
Song trong giai đoạn 96-2000 tỷ trọng cho vay kinh tế NQD tuy có tăng
nhưng đã tăng chậm lại từ 49,3% chỉ lên đến 51,5%. Có lẽ là do từ năm 96
hàng loạt các DNTN, công tyTNHH, công ty cổ phần làm ăn thua lỗ phá sản, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status