Thực trạng hoạt động cho vay các Tổng Công ty Nhà nước tại Sở giao dịch I - Pdf 64

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thực trạng hoạt động cho vay các Tổng Công ty Nhà nước tại Sở giao dịch
I - Ngân hàng Công thương.
Chương này trình bày và phân tích những nét cơ bản về lịch sử phát
triển, các đặc điểm kinh tế - xã hội chi phối hoạt động kinh doanh cũng
như hoạt động cho vay các Tổng Công ty; thực trạng hoạt động kinh
doanh cũng như hoạt động cho vay các Tổng Công ty tại Sở giao dịch, các
giải pháp Sở giao dịch đã áp dụng để mở rộng hoạt động cho vay các Tổng
Công ty, từ đó có cơ sở thực tiễn đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm
mở rộng hoạt động cho vay với đối tượng này.
I - KHÁI QUÁT VỀ SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT
NAM
1. Sự ra đời và phát triển của Sở giao dịch
1.1. Sự ra đời của Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương
Sở giao dịch I- Ngân hàng Công thương được thành lập ngày
1/4/1998 theo quyết định số 83/ NHCT - QĐ từ bộ phận kinh doanh tại
Hội sở chính Ngân hàng Công thương vốn được hoạt động theo quyết định
93/NHCT - TCCB ngày 24/3/1996. Sở giao dịch là một đơn vị thành viên
hạch toán phụ thuộc của Ngân hàng Công thương, có trụ sở đóng tại số 10
- Lê Lai - Hà Nội. Sở giao dịch là đại diện uỷ quyền của Ngân hàng Công
thương; có quyền tự chủ kinh doanh theo sự phân cấp của Ngân hàng
Công thương, chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Ngân
hàng Công thương; có con dấu riêng và được mở tài khoản tại NHNN Việt
Nam.
Ra đời từ bộ phận kinh doanh tại Hội sở chính ngân hàng Công
thương, song trong thời kỳ 1998 - 2001, Sở giao dịch vẫn chưa thực sự là
một chi nhánh, bởi ngoài việc thực hiện các chức năng kinh doanh, nó còn
làm đầu mối thanh toán cho các chi nhánh ngân hàng Công thương ở
miền Bắc cũng như một số nhiệm vụ của một hội sở, như việc chỉ đạo và tổ
chức hạch toán tổng hợp phản ánh toàn bộ các chi nhánh trên địa bàn Hà
Nội và toàn hệ thống để ban lãnh đạo ngân hàng Công thương điều hành

- Phòng kế toán: với 57 cán bộ trong đó có một trưởng phòng và ba
phó phòng, trưởng phòng điều hành công việc của phòng thông qua các
phó phòng.
Phòng kế toán có chức năng theo dõi, hạch toán (bằng VND) tất cả
các hoạt động của Sở giao dịch. Phòng có 5 tổ công tác, mỗi tổ có từ 5 đến
15 cán bộ do một tổ trưởng phụ trách:
Tổ thanh toán viên: tiếp nhận tất cả các chứng từ của khách hàng,
xử lý theo yêu cầu của khách hàng như hạch toán, tính phí dịch vụ lãi...
Sau khi thực hiện xong công việc của mình, các thanh toán viên sẽ giao
toàn bộ chứng từ qua bộ phận kiểm soát để kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp
của chứng từ.
Tổ thanh toán liên hàng: có nhiệm vụ biến các chứng từ giấy thành
chứng từ điện tử (nhập vào máy tính) sau đó các chứng từ này sẽ được
kiểm tra phát hiện sai sót trước khi được truyền tới trung tâm thanh toán
Ngân hàng Công thương. Đến 15h30’ hàng ngày. Sở giao dịch cũng như
các chi nhánh khác trong hệ thống ngân hàng Công thương không được
truyền dữ liệu nữa và tại trung tâm thanh toán việc đối chiếu cho tất cả
93 chi nhánh sẽ được thực hiện.
Đối với các liên hàng đế, tổ có nhiệm vụ khôi phục lại chứng từ.
Tổ thanh toán bù trừ: thực hiện thanh toán bù trừ với các chi nhánh
khác cùng hệ thống. Việc thanh toán được thực hiện tại trung tâm thanh
toán bù trừ thuộc NHNN Hà Nội.
2 2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tổ tiết kiệm: đảm nhiệm hơn 50% tiền gửi của khách hàng. Tổ này
có trách nhiệm quản lý số lượng thẻ và tiền lớn. Tổ gồm hai nhóm, nhóm
trực tiếp thu tiền gửi và trả lãi, một nhóm kiểm tra toàn bộ lại quỹ.
Tổ kế toán nội bộ: theo dõi quản lý tất cả các tài sản của đơn vị chi
lương cho nhân viên; hạch toán trích BHXH, nộp thuế; lập cân đối.
- Phòng kinh doanh đối ngoại: với 14 cán bộ, trong đó có một

nhinh, phục vụ, y tế, ...
Ngoài ra, Sở giao dịch còn có một cửa hàng kinh doanh vàng bạc
đồng thời cũng thực hiện cho vay cầm cố, thu đối ngoại tệ.
3 3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3. Các đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới hoạt động của
Sở giao dịch nói chung, hoạt động cho vay nói riêng.
Thủ đô Hà Nội, nơi Sở giao dịch đóng trụ sở cũng là trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hoá và là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước. Ở
đây dân cư có mức thu nhập, dân trí cao hơn hẳn các vùng lân cận, đồng
thời người dân có một “lối sống thành thị”, có tác động tích cực tới hoạt
động kinh doanh của Sở giao dịch. Họ thường xuyên tới các ngân hàng để
được phục vụ bằng nhiều loại dịch vụ, họ hay gửi tiền tiết kiệm, trong đó
có phần đáng kể bằng ngoại tệ. Hoạt động kinh tế diễn ra tương đối sôi
nổi tuy chưa mạnh mẽ bằng thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương
phía Nam đã tạo ra nhu cầu vốn vay ngân hàng tương đối lớn. Tuy nhiên,
Sở giao dịch không chỉ phục vụ trên địa bàn, mà nó còn vươn ra nhiều địa
phương khác. Nói riêng thì tất cả các TCT 91 và nhiều Tổng Công ty 90 có
trụ sở tại Hà Nội, tạo thuận lợi lớn cho Sở giao dịch trong quan hệ với các
Tổng Công ty này.
Tuy nhiên, với một địa bàn hẹp sự có mặt của xấp xỉ 70 ngân hàng
và chi nhánh ngân hàng đã tạo ra một môi trường cạnh tranh lớn đối với
Sở giao dịch. Mặt khác, gần đây hoạt động sản xuất kinh doanh của các
TCKT Hà Nội cũng như cả nước có phần chững lại, hiệu quả kinh doanh
suy giảm gây khó khăn không ít tới hoạt động của Sở giao dịch, nhất là
hoạt động cho vay. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á mà Đông
Nam Á là tâm điểm dù đã có những dấu hiệu khả quan, nhưng những ảnh
hưởng tiêu cực của nó đối với Việt Nam chưa chấm dứt, nhất là với các
TCKT kinh doanh xuất nhập khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu.
2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch.

đầu ra cho Sở giao dịch. Tuy vậy tỷ trọng nguồn này đang có xu hướng
giảm dần, chỉ còn 57,41% vào 31/12/2001. Nguồn tiền tiết kiệm đứng thứ
hai và đang có xu hướng tăng lên; với các loại kỳ hạn 3, 6, 9 và 12 tháng
nguồn này có chi phí cao hơn tiền gửi các TCKT, song lại ổn định hơn
nhiều. Hiện nay, Sở giao dịch cũng như toàn hệ thống ngân hàng Công
thương chưa huy động tiền gửi có kỳ hạn hơn một năm, vì nhân dân ít có
nhu cầu gửi tiền kỳ hạn dài như trên và chi phí nếu huy động loại tiền gửi
này sẽ cao, làm giảm hiệu quả kinh doanh. Các nguồn vốn trung dài hạn
hiện nay tại Sở giao dịch chủ yếu là vốn tài trợ theo uỷ thác đầu tư, hoặc
dưới dạng tiền phát hành kỳ phiếu. Nguồn từ phát hành kỳ phiếu cùng
được để đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết tại chỗ.
Nguồn huy động, bằng ngoại tệ (chủ yếu là USD) tăng nhanh về tỷ
trọng, chiếm tới 30% tổng nguồn huy động (vào 31/12/2001) tạo điều kiện
để Sở giao dịch dần dần tự đảm bảo nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu vay
vốn hợp lý của các TCKT, hạn chế phải mua lại trên thị trường. Vốn huy động
bằng ngoại tệ chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của nhân dân chiếm gần 80%.
5 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status