THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG PHÚC YÊN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2002 - Pdf 64

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG PHÚC YÊN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2002
1. Giới thiệu khái quát hoạt động của NHCT Phúc
Yên:
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NHCT Phúc
Yên:
Chi nhánh Ngân hàng Công Thương Phúc Yên được thành lập từ năm
1994. Ngân hàng Công thương Phúc Yên là chi nhánh ngân hàng cấp huyện
nhưng lại được thành lập trước ngân hàng cấp tỉnh do trước 1997, Chi nhánh
trực thuộc Ngân hàng Công thương Phú Thọ, sau khi tách tỉnh năm 1997, chi
nhánh được chuyển xuống trực thuộc và chịu trách nhiệm trước Ngân hàng
công thương Vĩnh Phúc (được thành lập từ năm 1997).
Mê Linh là địa bàn hoạt động chính của Ngân hàng Công thương Phúc
Yên, một huyện phía nam của tỉnh Vĩnh Phúc, là cửa ngõ phía bắc của thủ đô,
tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, có trục đường cao tốc nối trực tiếp Hà
Nội với Mê Linh, giao thông cả thuỷ và bộ đều rất thuận lợi, có tiềm năng du
lịch và tài nguyên phong phú. Với dân số khoảng 25 vạn người, đây là một địa
bàn có khối lượng vốn nhàn rỗi tương đối dồi dào, nhu cầu vốn cho sản xuất
kinh doanh, dịch vụ cả nội tệ và ngoại tệ cao, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng
cũng khá phong phú.
Đến nay, địa bàn Mê Linh đã có 14 doanh nghiệp Nhà Nước hoạt động,
có 9 doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, có tới hơn 200 doanh nghiệp
ngoài quốc doanh và hơn 5000 hộ tư nhân cá thể có đăng ký sản xuất kinh
doanh dịch vụ và hàng ngàn hộ kinh doanh dịch vụ không đăng ký kinh doanh
tại các thị trấn thị tứ, khu dân cư tập chung tại các xã trong huyện. Đặc biệt có
hai khu công nghiệp lớn là Quang Minh và Việt Phong có tổng cộng 24 dự án,
trong đó đã có 5 dự án được triển khai, sự phát triển của hai khu công nghiệp
này sẽ kéo theo hàng loạt sự đổi mới và phát triển kinh tế và xã hội cho các
khu lân cận.
Địa bàn Mê Linh - Vĩnh Phúc được xác định: có tiềm năng, thế mạnh và
điều kiện cho sự phát triển kinh tế Vĩnh Phúc, do đó nhu cầu về đầu tư vốn để

Xuân
Hoà
Phòng
kế
toán
Tổ
điện
toán
Quĩ
tiết
kiệm
Tổ
nguồn
vốn
Tổ
kiểm
tra
Quĩ
tiết
kiệm
P.GIÁM ĐỐC
P.GIÁM ĐỐC
- Phòng kinh doanh: Thực hiện các nghiệp vụ cho vay đối với khách hàng
là tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Phòng ngân quỹ: Thực hiện quản lý tồn quỹ, thực hiện thu chi theo lệnh
về tiền mặt VNĐ và ngoại tệ , bảo quản và phân phối chứng từ có giá .
- Phòng kế toán: Thực hiện các chức năng chính là làm các dịch vụ thanh
toán như dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ trả lương cho các công ty liên doanh,
hạch toán kế toán các nghiệp vụ cho vay, ...
- Tổ kinh doanh đối ngoại: Tổ này trực thuộc phòng kế toán thực hiện

nâng cao các hình thức huy động tiền gửi của mình như huy động từ dân cư,
tiền gửi của các tổ chức doanh nghiệp, huy động thông qua phát hành kỳ
phiếu, trái phiếu.
Trong vài năm gần đây, công tác nguồn vốn gặp không ít khó khăn do lãi
suất của các Ngân hàng trên địa bàn huy động hấp dẫn, có nhiều chính sách
khuyến khích khách hàng gửi tiền. Song do làm tốt công tác tiếp thị phục vụ
khách hàng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cán bộ cũng được nâng lên cùng
với cơ sở khang trang sạch đẹp, thuận tiện đã thu hút được khách hàng đến
gửi tiền. Đặc biệt nguồn tiền gửi dân cư tăng khá cao và luôn giữ ở mức ổn
định, điều đó thể hiện uy tín của NHCT Phúc Yên trên địa bàn.
Sự nỗ lực đó của ngân hàng đã mang lại kết quả đáng khích lệ trong
những năm qua, đặc biệt từ năm 2000 đến năm 2002, cụ thể:
Biểu 1: Tình hình huy động vốn của NHCT Phúc Yên (2000 -
2002) Đơn vị: Triệu
đồng
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Số tiền Số tiền %Số tiền %
Tổng n.vốn huy động 115.738 100 147.941 100 193.795 100
1.Tiền gửi tcktế 40.868 35% 60.607 41% 78.326 40%
VNĐ 35.001 85% 50.200 83% 61.170 78%
Ngoại tệ quy đổi VNĐ 5.867 15% 10.407 17% 17.156 22%
2.Tiền gửi tiết kiệm 72.215 62% 83133 56% 106.456
59,8
VNĐ 22.205 31% 29.212 35% 44.983 42%
Ngoại tệ quy đổi VN 50.010 69% 53.621 65% 61.473 58%
3. Tiền gửi kỳ phiếu 2.655 3% 4.101 3% 9.013 0.2
Nguồn: Báo cáo tổng hợp NHCT Phúc yên (2000 - 2002)
Tổng nguồn vốn huy động (bao gồm cả VNĐ và ngoại tệ quy đổi VNĐ)
đến hết tháng 12/2002 là 193.795 triệu đồng, tăng gấp 1,3 lần so với năm
2001 và tăng gấp 1,68 lần so với năm 2000. Riêng năm 2000, tuy tổng nguồn

số tuyệt đối tuy nhỏ nhưng đó cũng là những thay đổi lớn trong hoạt động tín
dụng của chi nhánh NHCT Phúc Yên.
Tình hình sử dụng vốn vay của NHCT Phúc Yên được phản ánh trong
biểu 2 dưới đây:
Biểu 2: Tình hình sử dụng vốn của NHCT Phúc Yên (2000-2002)
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Số tiền %/99 Số tiền %/00 Số tiền %/01
A. Doanh số cho
vay
99.404 +24,25 136.70
1
+37,52 181.239 +32,5
B. Doanh số thu
nợ
54.436 +44,43 112.53
5
+106,7 166.577 +48,0
C. Dư nợ cuối kỳ 94.720 +26,82 139.68
8
+47,47 163.854 +17,3
1. Phân loại cho
vay:
- Nợ ngắn hạn 74.637 +22,60 88.031 +30,15 103.056 +17,1
- Nợ trung và dài
hạn
27.083 +38,76 51.657 +90,70 60.798 +17,7
2. Phân theo TPK
-DN Quốc doanh 72.952 +32,22 107.781 +47,7 133.177 +23,5
- DN NQD 2.243 +4,13 9.459 +321,7 4.121 -56,4

rất khả quan và tương lai mở rộng thị trường này không còn xa nữa.
Một điều đáng chú ý là tỷ lệ nợ ngắn hạn đang giảm dần so với tổng dư
nợ, tuy vậy cả ngắn hạn và trung dài hạn, tỷ lệ tăng trưởng là cao.
Có được kết quả trên, NHCT Phúc Yên đã bám sát sự chỉ đạo của NHCT
Việt nam, NHCT Vĩnh Phúc trong công tác tín dụng với phương châm phát
triển, an toàn, hiệu quả, từng bước khẳng định bước đi vững chắc. Ngân hàng
ngày càng tạo lập được những mối quan hệ khách hàng rất tốt, ngày càng mở
rộng thị phần. Bên cạnh mục tiêu phát triển thì mục tiêu chất lượng tín dụng
cũng được quan tâm một cách chặt chẽ và sự chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh
đạo. Một mặt tăng cường công tác kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay,
mặt khác thường xuyên đánh giá hiệu quả việc đầu tư vào ngành hàng nào có
hiệu quả, lĩnh vực nào có hiệu quả để điều chỉnh cơ cấu đầu tư. Lấy phương
châm vững chắc, an toàn lên hàng đầu để đầu tư. Ngân hàng cũng luôn đôn
đốc khách hàng trả nợ và xử lý nợ tồn đọng.

2.3. Các hoạt động khác:
Ngoài các hoạt động huy động và cho vay, chi nhánh còn thực hiện các
nghiệp vụ khác như: Kinh doanh ngoại tệ và thanh toán bao gồm cả thanh toán
quốc tế...
Mặc dù đội ngũ cán bộ của chi nhánh còn rất trẻ và ít kinh nghiệm
nhưng với thái độ nhiệt tình chu đáo, tác phong giao dịch văn minh lịch sự
đồng thời được cung cấp và trang bị nhiều thiết bị hiện đại nhất trên địa bàn
nên chi nhánh đã thu hút được rất nhiều khách hàng đến giao dịch. Khách
hàng đến mở tài khoản giao dịch ngày càng đông với lượng khách giao dịch
hiện tại là 7.825 khách hàng (trong đó riêng tài khoản cá nhân là công nhân
các công ty liên doanh là khoảng trên 4.800 tài khoản).
Doanh số thanh toán năm 2002 đạt 16.052.270 triệu đồng với tổng số
115.172 món. Trong đó thanh toán không dùng tiền mặt là 13.296.229 triệu
đồng với tổng số 97.712 món, chiếm tỷ trọng 83% tổng doanh số thanh toán-
thanh toán được đảm bảo nhanh, chính xác, đúng chế độ, kịp thời cho khách

* Thủ tục cho vay đơn giản phù hợp quy chế cho vay:
Chi nhánh vẫn từng bước giảm bớt mọi thủ tục đối với các nghiệp vụ
nhưng vẫn đảm bảo độ an toàn tối đa.
Trước năm 1997, hoạt động tín dụng của chi nhánh yếu kém trên nhiều
phương diện. Có nhiều nguyên nhân: Thứ nhất, do chi nhánh là ngân hàng phụ
thuộc, tổ chức còn nhỏ bé nên hoạt động phụ thuộc rất lớn vào hoạt động kinh
tế của địa bàn. Hoạt động kinh tế địa bàn mang tính thuần nông, hoạt động
kinh tế rất thấp, trình độ người dân thấp kém, lạc hậu. Thứ hai, đội ngũ cán bộ
tín dụng thời kỳ này chủ yếu là trình độ sơ cấp và trung cấp hoặc được đào tạo
nghiệp vụ thành, do đó trong công tác thẩm định và quyết định cho vay có
nhiều hạn chế. Thứ ba, người chỉ đạo trực tiếp cho hoạt động tín dụng trong
mặt bằng chung cũng thấp do đó có sự buông lỏng trong quản lý.
Khách hàng có nhu cầu vay vốn, họ chỉ cần có phương án và giấy đề nghị
vay vốn. Quá trình thẩm định chỉ do một cán bộ tín dụng tiến hành và quyết
định cho vay chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp. Thủ tục cho vay chỉ bao gồm
đơn xin vay vốn kiêm giấy nhận nợ là có thể được giải ngân, hoạt động giám
sát sử dụng món vay không được tích cực. Như vậy quyết định cho vay mang
tính chủ quan của cán bộ tín dụng đồng thời tạo điều kiện cho những cán bộ
tham nhũng, cấu kết với khách hàng rút ruột ngân hàng hay có những quyết
định cho vay những món vay mang tính rủi ro cao. Kết quả là tỷ lệ các món vay
chuyển nợ quá hạn và nợ khó đòi rất cao.
Đến nay, sự ra đời Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng ban hành kèm Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN và quyết định số
049/QĐ-NHCT-HDQT đã tạo cho chi nhánh một bước đột phá mới. Thủ tục cho
vay không hề gây phiền hà cho khách hàng. Khách hàng được hướng dẫn làm
thủ tục rất chu đáo, tận tình, ngoài ra còn được cán bộ tín dụng tư vấn cho
hoạt động kinh doanh của khách hàng. Quá trình thẩm định một món vay diễn
ra chặt chẽ hơn. Ví dụ, với mỗi món vay đều có từ hai cán bộ tín dụng trở lên
thẩm định. Với những khoản vay lớn có tài sản thế chấp thì có cả lãnh đạo
(giám đốc, phó giám đốc) cùng tham gia thẩm định, do đó công tác thẩm định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status