Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG DỊCH VỤ THANH TOÁN THẺ
TẠI ACB
3.1 Định hướng phát triển hoạt động trong thời gian tới của ACB
Bước sang năm 2002, tăng trưởng kinh tế cao và có nhiều bước đột
phá các ngành kinh tế. Ngành NH nói chung , ACB nói riêng không nằm
ngoài sự phát triển đó . ACB có định hướng phát triển chính :
“Đa dạng hoá nguồn thu nhập và phân tán rủi ro trên cơ sở phục vụ
tốt khách hàng”
Cụ thể:
Tập trung cho vay và mở rộng dịch vụ NH
Mở thêm chi nhánh hoạt động chủ yếu tại TP HCM
Quản lý chặt chẽ và hiệu quả rủi ro trong hoạt động
Tăng nguồn vốn hoạt động 15% so với năm 2001
Dư nợ cho vay khách hàng dự kiến tăng 21% so với 2001 ...
Thực hiện tiết kiệm đảm bảo lợi nhuận kế hoach là 108 tỷ đồng
Muốn vậy ACB luôn đặt mục tiêu “ Hướng tới khách hàng “nâng cao
chất lượng phục vụ” là mục tiêu hàng đầu. Thực hiện mục tiêu này sẽ là
quá trình tái cơ cấu trúc, cải tổ và tăng cường cơ cấu quản trị , kiểm soát
điều hành , phát triển công tác tiếp thị một cách hữu hiệu trên cơ sở tìm
hiểu nhu cầu khách hàng và giải quyết kịp thời những vướng mắc trong
quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng , tạo sự tin cậy của khách hàng với
ngân hàng .
3.2 Định hướng phát triển dịch vụ thẻ của ACB trong thời gian tới
3.2.1 Thuận lợi
3.2.1.1 Khách quan
1
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
• Nền kinh tế đang phục hồi
Khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực ảnh hưởng lớn đến sự phát
lượng cao , năm 1999 vừa rồi đánh dấu một bước phát triển mới trong
lĩnh vực công nghệ thông tin của Việt Nam là sự kiện Việt Nam chính thức
hoà nhập mạng Internet toàn cầu. Máy tính và mạng máy tính đã trở nên
không thể thiếu trong trong các ngân hàng ở Việt Nam . thuận lợi cho việc
ứng dụng công nghệ thẻ . Hệ thống điện thoại , fax , telex ...đã được tự động
hoá hoàn toàn với chất lượng phục vụ tương đối cao nối liền với tất cả các
nước trên thế giới . Chính nó đã tạo ra một cơ sở hạ tầng tốt phục vụ cho
hoạt động phát hành và thanh toán thẻ cho ngân hàng ACB.
• Thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ
Thương mại ngày càng phát triển. Hiện nay , các quan hệ mua bán
còn được thực hiện nhanh chóng và tiện lợi qua mạng máy tính thông qua
thương mại điện tử.
Trong số những mô hình ứng dụng của thương mại trên Internet, mô
hình kinh doanh bán hàng trên mạng của các doanh cho người tiêu dùng
mà người ta quen gọi là thương mại điện tử là phổ biến nhất. Nhưng để
hoàn thành giao dịch mua bán hàng qua mạng, hầu hết các địa chỉ bán
hàng đều yêu cầu khách hàng có thẻ tín dụng quốc tế để thực hiện việc
thanh toán. Chỉ có thẻ tín dụng mới cho phép khai thác hết mọi ưu điểm
của thương mại điện tử.
Internet chính thức công nhận tại Việt Nam từ năm 1999, và cho đến
nay đã phát triển rất mạnh mẽ. Bên cạnh việc phục vụ tra cứu thông tin và
gửi thư điện tử, TMĐT cũng là một thế mạnh mà Internet cung cấp cho
người sử dụng nó. Theo thống kê của các ngân hàng thanh toán thẻ tại Việt
Nam , doanh số mua bán hàng qua mạng của người tiêu dùng ở Việt Nam
đã đạt hơn 400.000 USD trong năm 1999 và đạt khoảng 300.000 USD
trong 5 tháng đầu năm 2000 (*Thời báo kinh tế Việt Nam số ngày
29/07/2000), doanh số thanh toán đạt mức tăng trởng khoảng 50%/năm.
3
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
3.2.1.2. Chủ quan
ACB là một trong những ngân hàng thực hiện nghiệp vụ phát
hành , thanh toán thẻ sớm nhất ở Việt nam; có nhiều kinh nghiệm;
uy tín trong phát hành thẻ .
ACB là NHTM đầu tiên phát hành và thanh toán thẻ tại VN từ 1996.
Đi sau NHNT ,lúc đầu có hạn chế về công nghệ ,vốn và kinh nhgiệm nên
cạnh tranh còn khó khăn nhưng qua mấy năm hoạt động đã tích luỹ được
nhiều kinh nghiệm nên ngày nay đi đầu trong một số lĩnh vực về thẻ. ACB
đã tạo được uy tín trên thị trường về chất lượng dịch vụ thẻ cung cấp cho
khách hàng, cũng như chất lượng phục vụ khách hàng , qua đó tạo được
thế đứng vững chắc trong cạnh tranh
Trong quá trình hoạt động, nhờ việc cung cấp sản phẩm dịch vụ
ngân hàng đa dạng đến khách hàng, ACB đã tạo được mối quan hệ khách
hàng rộng lớn. Mối quan hệ khách hàng rộng lớn này của ACB nói chung
giúp Trung tâm thẻ ACB thu nhận được nhiều đại lý và chủ thẻ Trong số
các NH thanh toán thẻ tại Việt nam, lợi thế của ACB là có mạng lưới các
chi nhánh rộng lớn tập trung ở hầu hết các thành phố lớn. Do vậy ACB có
điều kiện xây dựng được mạng lới CSCNT và NHĐL rộng lớn .
• Thực hiện thành công chiến lược đổi mới công nghệ ngân
hàng
Thẻ thanh toán là sản phẩm của công nghệ hiện đại, để hoạt động
phát hành và thanh toán thẻ của ngân hàng đạt được hiêu quả đòi hỏi công
nghệ ngân hàng phải được hiện đại hoá . ACB là một trong số những ngân
hàng đầu tiên tại Việt Nam coi đổi mới công nghệ ngân hàng là một vấn đề
chiến lược có ý nghĩa sống còn đến hoạt động kinh doanh thẻ của ngân
hàng .Năm 1998 , ACB đã xây dựng khá thành công nền móng cho công
cuộc cải tổ ngân hàng để tạo đà phát triển vững chắc cho các năm về sau
dưạ trên việc ký kết với công ty Unisys dự án đổi mới công nghệ ngân hàng
trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác phát hành và thanh toán thẻ
của ngân hàng.
6
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Bên cạnh đó ngân hàng cũng rất chú trọng trong công tác tuyển
dụng những nhân viên có năng lực , và công tác đào tạo nâng cao trình độ
chuyên môn của nhân viên . Một đội ngũ nhân viên có năng lực, chuyên
môn cao luôn là một sự hỗ trợ to lớn trong hoạt động phát hành và thanh
toán của ngân hàng .
3.2.2 Khó khăn.
3.2.2.1 Khách quan
• Tâm lý ưa chuộng tiền mặt: Đã từ lâu người dân sử dụng tiền mặt làm
phương tiện thanh toán và cho đến ngày nay đây vẫn là thanh toán chủ yếu
nên tâm lý ưa chuộng tiền mặt đã ăn sâu vào mỗi người dân VN. Phần lớn
các giao dịch tại VN là giao dịch bằng tiền mặt.
Người dân Việt Nam vẫn còn xa lạ với việc giao dịch thông qua ngân
hàng , đặc biệt các giao dịch về thẻ còn khá mới mẻ với hol. Kiến thức về
thẻ tín dụng trong công chúng còn ở mức độ thấp , nhiều người dân lại thu
nhập những kiến thức về việc dùng thẻ thông qua các nguồn tin không
chính thức nên thậm chí có những hiểu biết sai lạc về thẻ ,chẳng hạn như
quan niệm thẻ tín dụng như một dạng thẻ trả tiền trước .Ngay cả các
CSTNT cũng ưa chuộng tiền mặt nên cảm thấy khó chịu khi khách hàng
thanh toán bằng thẻ, thậm chí có những nơi không chấp nhận thẻ trong
thanh toán.
• Thu nhập của dân cư còn thấp và không đông đều:
Ở nước ta sự khác biệt về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư còn lớn.
Thẻ thanh toán chủ yếu được phát hành cho những người có thu nhập cao.
Đối với những ngươi dân thu nhập khoảng 500000 1 tháng lại phải lo toan
nhiều việc cộng với những quy định để sử dụng thẻ sẽ không có cơ hội
tranh chấp.
Cùng với đó là các văn bản pháp luật cũng chưa đủ
sự bao quát trong phát hiện và chế tài pháp luật trong điều kiện hiện nay ,
lấy ví dụ trong vấn đề rút tiền mặt và chi trả bằng Dollar Mỹ của thẻ: tại
Việt Nam hiện nay theo quy chế quản lý ngoại hối hiện hành, mọi giao dịch
trong lãnh thổ Việt Nam phải thực hiện bằng tiền đồng ngoại trừ một số
8
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
doanh nghiệp được Nhà nước cho phép mới được thực hiện giao dịch
bằng ngoại tệ, nhưng trên thực tế, các giao dịch giữa ngân hàng phát hành
thẻ với các cơ sở chấp nhận thẻ ở Việt Nam nhưng ngoài hệ thống ngân
hàng mình đều được hạch toán bằng đồng USD, thậm chí hiện nay tại Việt
Nam có hai chi nhánh ngân hàng nước ngoài là HongKong Bank và ANZ sử
dụng máy rút tiền tự động ATM cho khách rút tiền bằng USD, điều này diễn
ra phổ biến tại các chi nhánh ngân hàng tại Việt Nam , trong khi các ngân
hàng thương mại tại Việt Nam trong đó có ACB không được thực hiện. Hạn
chế này ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng cạnh tranh thu hút khách hàng
của ACB .
• Chi phí đầu tư cho công nghệ thẻ còn cao
So với các công cụ thanh toán khác điều dễ nhận thấy là việc phát hành
và thanh toán thẻ đòi hỏi môt chi phí đầu tư cao cho việc lắp đặt những
thiết bị và công nghệ hiện đại như thiết lập các Terminal đầu cuối như
máy gửi rút tiền tự động ATM hay máy thanh toán thẻ tại các điểm bán
hàng (POS) .Trong điều kiện kỹ thuật công nghệ hiện nay ,với sự trợ giúp
của các công nghệ thông tin hàng đầu hàng đầu trên thế giới , chúng ta ,
chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng được một mạng lới các thiết bị để đón
nhận những dịch vụ mới do nền kinh tế đòi hỏi.Vấn đề chính muốn đầu tư
để xây dựng được một hệ thống công nghệ sử dụng thẻ thanh toán cần
phải dành ra một khoản vốn đáng kể để đầu tư; chẳng hạn như chi phí để
mặt cũng là một lý do làm cho khách hàng không tin tưởng vào khả năng
thanh toán của thẻ do ngân hàng cung cấp . Tuy nhiên đây là khó khăn
chính không chỉ đối với ngân hàng ACB mà đó còn là khó khăn chung của
của nhiều ngành kinh tế tại Việt Nam hiện nay .
• Trình độ hiểu biết của dân chúng về thẻ: còn hạn chế thậm chí còn có những
hiểu biết sai lệch về thẻ...khó khăn trong mở rộng dịch vụ thẻ
3.2.2.2Chủ quan
• Tính độc lập của các chi nhánh : so với TTT và các chi nhánh khác còn
cao, khó hỗ trợ trong phát hành và thanh toán thẻ, tạo những sơ hở cho
những gian lận về thẻ
• Đầu tư cho công nghệ còn hạn chế : do hạn chế về vốn Nh chưa trang bị
đủ các thiết bị đầu cuối Teminal , POS, ATM , thiết bị đọc thẻ, máy tính cá
10
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nhân... hoặc có trang bi nhưng chưa được hiện đại. Hệ thống hỗ trợ quản lý
tập trung thông tin còn thấp, thiếu đồng bộ . Đây là vấn đề khó khăn cho
cạnh tranh của NH và các NH khác
• Mạng lưới chi nhánh tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn các
khu vực tập trung đân cư
• Công tác đào tạo cán bộ còn gặp nhiều khó khăn
Công tác đào tạo phát triển trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ
nhân sự luôn được ngân hàng đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển
kinh doanh của toàn ngân hàng. Trong thời gian qua, mặc dù ngân hàng
cũng như Trung tâm thẻ ACB đã có rất nhiều cố gắng trong công tác đào
tạo, tuyển dụng nhân sự nhưng thực tế ngân hàng vẫn gặp rất nhiều khó
khăn như: tình hình nhân sự luôn có sự biến động trong khi đó Trung tâm
thẻ ACB chưa có một hệ thống huấn luyện nhân viên mới một cách cụ thể,
do vậy phải mất thời gian đào tạo ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động
Trung tâm thẻ; Số lượng nhân sự hiện tại chưa đáp ứng nhu cầu phân công
tham gia vào thị trường thẻ như hiện nay mà trong những năm tới tại
Việt nam sẽ có sự cạnh tranh hết sức gay gắt trên thị trường thẻ giữa các
ngân hàng , đặc biệt là các ngân hàng nước ngoài. Trước những thách
thức như vậy, ACB đưa ra mục tiêu của ngân hàng trong những năm tới
vẫn là đẩy mạnh công tác phát hành và thanh toán thẻ , dành phần lớn các
khoản phí thu được từ hoạt động này để tái đầu tư vào các mặt của công
tác phát hành và thanh toán thẻ .
Định hướng cụ thể cho từng nghiệp vụ như sau:
Đối với nghiệp vụ phát hành thẻ .
Cùng với 2 loại thẻ tín dụng nội địa đang phát hành hiện nay
SaigonCoop -ACB Card và Saigontourist-ACB Card, ngân hàng sẽ phát hành
thêm loại thẻ tín dụng nội địa mới phối hợp với Việtnam Airlines...., dự định
12
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
số lượng thẻ nội địa phát hành 12.000 thẻ /năm từ 2001 đến 2003 ; và
16.000 thẻ /năm từ 2004 đến 2005.
Trong thời gian tới ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng những
sản phẩm thẻ mới bên cạnh các sản phẩm hiện có như thẻ thanh toán Debit
Card , Thẻ rút tiền ATM mục tiêu phát hành thẻ tín dụng quốc tế trong 5 tới
của ngân hàng là phát hành được từ 7000-9000 thẻ/năm.
Trong tương lai ngân hàng sẽ đưa ra những điều kiện phát hành thẻ
mang tính hấp dẫn hơn đối với khách hàng nhưng vẫn đảm bảo vấn đề rủi
ro tín dụng và an toàn cho ngân hàng .
Tiếp tục xúc tiến các chương trình khuyến mại , quảng cáo lớn
nhằm giới thiệu rộng rãi các sản phẩm thẻ của ngân hàng , phát triển các
dịch vụ phụ trợ liên quan đến hoạt động sử dụng thẻ của khách hàng nh
dịch vụ chủ thẻ 24/24, dịch vụ trợ giúp toàn cầu ACB WOLRD ASSIST , dịch
vụ ngân hàng tại nhà (Intranet) tăng sự thuận tiện của khách hàng trong
sử dụng dịch vụ thẻ do ngân hàng cung cấp kèm theo các dịch vụ khác hiện
trường ấy dịch vụ thẻ sẽ gặp nhiều khó khăn.
Các cơ quan hữu quan , các cấp chính quyền cần nghiên cứu kỹ về
lĩnh vực thanh toán thẻ, thông qua việc đề ra chính sách , quy chế , quy
định...tạo môi trường pháp lý đầy đủ để nghiệp vụ thẻ NH có điều kiện phát
triển lành mạnh đúng hướng
3.3.2 Môi trường kinh tế xã hội
Nền kinh tế phát triển, chỉ số lạm phát hợp lý là môi trường thuận lợi
cho phát hành và thanh toán thẻ
Chủ thẻ sẽ rất không yên tâm bỏ một lượng tiền lớn vào một tấm thẻ
trong khi giá trị của đồng tiền luôn tăng giảm bất thường ,hơn nữa còn
làm mất lòng tin của khách hàng
Vì vậy, Nhà nước phải luôn duy trì một nền kinh tế phát triển với giá
cả ổn định , lạm phát thấp. Đồng thời,khuyến khích đầu tư nước ngoài
,phát triển các ngàng dịch vụ , công nghiệp , tăng thu nhập người lao động
14
14