Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn: Ứng Dụng Lý Thuyết Tự Sự Học Trong Dạy Học Truyện Ngắn Việt Nam Hiện Đại​ - Pdf 64

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ HUỆ

ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TỰ SỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 BAN CƠ BẢN )

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ HUỆ

ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TỰ SỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 BAN CƠ BẢN )

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 8.14.01.11

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Thành

HÀ NỘI – 2020


Học sinh

PP

Phƣơng pháp

THPT Trung học phổ thông

ii


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................1
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. .....................................................................3
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................3
6. Cấu trúc luận văn ................................................................................................4
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU ............................................................................................................................5
1.1. Cơ sở lí luận .....................................................................................................5
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm
chất .....................................................................................................................5
1.1.2. Khái lược về tự sự học ..............................................................................8
1.1.3. Khái lược về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn...................................11
1.2. Cơ sở thực tiễn ...............................................................................................14
1.2.1. Thực tiễn dạy dạy học truyện ngắn trong trường trung học phổ thông .14
1.2.2. Việc ứng dụng lí thuyết tự sự học vào dạy học truyện ngắn trong trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................96
PHỤ LỤC

iv


DANH MỤC CÁCBẢNG
Bảng 1.1. Số GV và HS đƣợc phát phiếu khảo sát ý kiến ........................................17
Bảng 1.2. Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên .......................................................19
Bảng 1.3. Kết quả điều tra ý kiến của Học sinh ........................................................20
Bảng 3.1. Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên dự sau giờ dạy thực nghiệm. .........89
Bảng 3.2. Kết quả điều tra ý kiến của học sinh sau giờ dạy thực nghiệm. ...............90

v


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tự sự học (Narratology) là khoa học nghiên cứu về nghệ thuật tự sự - nghệ
thuật kể chuyện. Ở đâu có chuyện là ở đó có tự sự. Thực tế cho thấy, mặc dù cùng
một nội dung nhƣng mỗi ngƣời có một cách kể khác nhau sẽ tạo thành những câu
chuyện khác nhau. Cách kể khác nhau đó sẽ thể hiện đƣợc cách nhìn, cách đánh giá,
quan điểm cũng nhƣ dấu ấn phong cách nghệ thuật của của mỗi ngƣời.
Truyện ngắn là thể loại tự sự dung lƣợng nhỏ, có kết cấu chặt chẽ, tái hiện
cuộc sống qua các sự kiện, biến cố trong những khoảng thời gian nhất định. Truyện
ngắn giống nhƣ một lát cắt nhƣng phản ánh đƣợc muôn mặt của đời sống. Điểm tạo
nên sức hấp dẫn ở truyện ngắn là cách kể. Dạy học truyện ngắn ở nhà trƣờng từ
trƣớc đến nay đa số chú ý đến nội dung kể (kể cái gì), ít chú ý đến nghệ thuật kể
(cách kể nhƣ thế nào).
Trong đổi mới dạy học môn Ngữ Văn, nhất là trong chƣơng trình đổi mới

trình trên nghiên cứu về lí thuyết tự sự học nói chung, trong khi đó những công
trình nghiên cứuvề ứng dụng lí thuyết tự sự học trong dạy học truyện ngắn Việt
Nam hiện đại còn chƣa nhiều.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Hồi (2013) với đề tài Vận dụng lý thuyết
tự sự học vào dạy học truyện cổ tích(Chương trình Ngữ văn lớp mười phổ thông),
Trƣờng Đại học Giáo Dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã đề xuất đƣợc một số
phƣơng pháp vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học truyện cổ tích ở lớp 10 phổ
thông.
2.2. Những nghiên cứu về ứng dụng lí thuyết tự sự học trong dạy học truyện
ngắn Việt Nam hiện đại
Những nghiên cứu về ứng dụng lí thuyết tự sự học trong dạy học truyện ngắn
Việt Nam hiện đại chƣa nhiều. Qua nghiên cứu, khảo sát chúng tôi thấy có luận văn
của Vũ Lệ Hƣơng (2013): Vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm “Hai
đứa trẻ” của Thạch Lam (Chương trình Ngữ văn 11, Tập 1), Trƣờng Đại học Giáo
Dục, Đại học Quốc gia Hà Nội …
Luận văn của Vũ Lệ Hƣơng đã nghiên cứu những lý thuyết cơ bản về tự sự
học và đề xuất đƣợc những phƣơng pháp vậndụng lý thuyết tự sự học vào dạy học
tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Chƣơng trình Ngữ văn 11, Tập 1). Tuy
nhiên, luận văn của Vũ Lệ Hƣơng chƣa đề xuất đƣợc nhóm phƣơng pháp chung để
vậndụng lý thuyết tự sự học vào dạy học nhóm các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam

2


hiện đại trong (Chương trình Ngữ văn 11 ban Cơ bản) để đáp ứng yêu cầu đổi mới
phƣơng pháp dạy học Ngữ Văn theo hƣớng phát triển năng lực, phẩm chất cho HS
trong nhà trƣờng.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành lựa chọn và nghiên cứu đề tàiỨng dụng lí thuyết
tự sự học vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại (Chương trình Ngữ văn 11
ban Cơ bản) để góp phần bổ khuyết những vấn đề trên.

văn 11 Cơ bản ở các phƣơng diện nghệ thuật tự sự, chỉ ra các kiểu dạng của truyện
kể, ngôi kể, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu, các loại hình nhân vật...
5.3. Phương pháp so sánh:
So sánh các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại tronggiai đoạn 1930 1945 ở chƣơng trình Ngữ văn 11 Cơ bản qua các phƣơng diện nghệ thuật tự sự, chỉ
ra các kiểu dạng của truyện kể, ngôi kể, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu...
5.4. Phương pháp điều tra, thực nghiệm sư phạm:
Điều tra, khảo sát các số liệu trƣớc và sau khi áp dụng thiết kế thử nghiệm
dạy học các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong giai đoạn 1930 - 1945 ở
chƣơng trình Ngữ văn 11 Cơ bản.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục; Nội dung chính
của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chƣơng 2: Những biện pháp dạy học truyện ngắn theo hƣớng ứng dụng lí thuyết tự
sự học
Chƣơng 3 : Thực nghiệm sƣ phạm

4


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất
1.1.1.1. Phát triển năng lực, phẩm chất là một mục tiêu quan trọng của giáo dục
Mỗi ngƣời sinh ra đều có những tố chất riêng, những ƣu điểm, nhƣợc điểm
riêng, không ai giống ai,mỗi cá nhân đều là một nguyên bản, duy nhất, độc đáo và
đáng tôn trọng. Vì vậy, đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát triển năng
lực, phẩm chất là quá trình dạy học ƣu việt để phát huy đƣợc năng lực riêng, phẩm
chất riêng của mỗi ngƣời

cũng như sẵn sàng hành động [25, tr.4].
Trong giáo dục học, để thuận lợi cho việc đánh giá năng lực ngƣời học,
ngƣời ta quan tâm nhiều đến năng lực hành động và coi trọng hơn năng lựccuộc
sống. Nhiều nhà giáo dục học cho rằng, cấu trúc năng lực gồm: năng lực chuyên
môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. Các năng lực kết hợp
với nhau tạo thành năng lực hành động [25, tr.5].
(i) Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện, đánh giá chính xác các
nhiệm vụ chuyên môn. Nó đƣợc hình thành qua việc học nội dung chuyên môn và
gắn với khả năng nhận thức và tâm lí của mỗi ngƣời.
(ii) Năng lực phương pháp: Là khả năng tìm ra các phƣơng pháp tối ƣu để
giải quyết những tình huống cụ thể, phức tạp trong đời sống. Năng lực phƣơng pháp
bao gồm năng lực phƣơng pháp chung và phƣơng pháp chuyên môn.
(iii) Năng lực xã hội: Là khả năng xử lí các mối quan hệ giao tiếp trong xã
hội để đạt đƣợc hiệu quả cao trong công việc cũng nhƣ trong cuộc sống.
(iv) Năng lực cá thể: Là khả năng riêng mà mỗi cá nhân có đƣợc nhờ những
tố chất sẵn có kết hợp với việc học hỏi, trau dồi trong cuộc sống.
Mỗi một lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau sẽ có mô hình cấu
trúc năng lực tƣơng ứng.
1.1.1.3. Mục tiêu phát triển năng lực
Giáo dục định hƣớng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực
hành động, nó đƣợc hình thành trên cơ sở kết hợp các năng lực chuyên môn, năng
lực phƣơng pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể.
Trong giáo trình Phương pháp dạy học văn, Phan Trọng Luận đã rất quan
tâm đến việc triển khai quan niệm về năng lực trong dạy học văn chƣơng. Tác

6


giả cho rằng có 3 loại năng lực văn chƣơng: năng lực sáng tạo, năng lực phê bình
và năng lực tiếp nhận, trong đó năng lực tiếp nhận là năng lực cần hình thành

chuyện. Tự sự học tiếp cận văn bản từ góc độ: cốt truyện, tình huống, nghệ thuật
trần thuật, nhân vật, thời gian, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu....
Tự sự ra đời và gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của lịch sử loài
ngƣời. Quả thật nhƣ vậy, ngay từ thời cổ đại, từ Platon, Aristote, ngƣời ta đã biết
phân biệt các loại tự sự: tự sự lịch sử khác tự sự nghệ thuật. Thế kỷ V, ngƣời ta tiếp
tục phân biệt tự sự mô phỏng, tự sự giải thích và tự sự hỗn hợp. Tuy nhiên, phạm vi
quan tâm lúc đó mới chỉ nằm trong giới hạn của tu từ học. Chỉ đến khoảng những
năm 60 - 70 của thế kỷ XX, khái niệm tự sự học mới bắt đầu khẳng định sự xuất
hiện của mình với tƣ cách là một lý thuyết nghiên cứu các đặc điểm nghệ thuật kể
chuyện của văn bản tự sự.
Lý thuyết về tự sự học đƣợc quan tâm ở Việt Nam vào khoảng những năm
cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Trần Đình Sử là một trong những ngƣời đầu tiên
đƣa tự sự học vào giới thiệu ở Việt Nam. Năm 2001, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội đã tổ chức hội thảo quy mô toàn quốc lần đầu tiên về tự sự học. Sau cuộc hội
thảo này, nhiều tham luận đã đƣợc tập hợp và in thành cuốn: Tự sự học - Một số vấn
đề lý luận và lịch sử (phần 1 và phần 2, Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2004 &
2008) do Trần Đình Sử chủ biên, khẳng định đƣợc vai trò quan trọng của tự sự học.
Đây là một trong những công trình có ý nghĩa lớn, nghiên cứu tƣơng đối toàn diện
và có hệ thống về lý thuyết tự sự học cũng nhƣ những ứng dụng trong việc lý giải
các hiện tƣợng văn học cụ thể. Cuối năm 2017, Trần Đình Sử cùng với nhóm các
nhà nghiên cứu (Trần Ngọc Hiếu, Đỗ Văn Hiểu, La Khắc Hòa...) đã biên soạn và
cho ra mắt công trình Tự sự học - Lý thuyết và ứng dụng. Có thể nói, đây là công
trình công phu và toàn diện nhất từ trƣớc tới nay về nội dung cơ bản của tự sự học,
một ngành nghiên cứu văn học hiện đại. Nhƣ vậy, cho đến ngày nay, khuynh hƣớng
nghiên cứu dƣới góc độ tự sự học ngày càng nhiều, trong đó không ít những công
trình có sự tìm tòi, đột phá đáng chú ý.

8




9


cốt truyện, truyện kể theo quan niệm truyền thống và hiện đại; khẳng định lựa chọn
thuật ngữ truyện kể đáp ứng đầy đủ tính chặt chẽ của lý thuyết tự sự. Thứ hai, ông
tìm hiểu cấu trúc của truyện kể, cơ chế biểu hiện ý nghĩa của truyện kể từ lý thuyết
motif, lý thuyết chức năng, lý thuyết chủ đề, lý thuyết ngữ pháp đến lý thuyết sự
kiện; Tính quan niệm của sự kiện trong tƣơng quan với câu chuyện, tƣơng quan
giữa câu chuyện và truyện kể.
*Người kể chuyện (Narrator)
Ngƣời kể chuyện là ngƣời sẽ giúp ngƣời đọc hiểu đƣợc chủ thể của tác phẩm
tự sự một cách sâu sắc và trọn vẹn hơn. Trong bài viết Người kể chuyện trong văn
xuôi (Tạp chí Văn học nước ngoài số 5/2008) Lê Phong Tuyết đã nghiên cứu hệ
thống và toàn diện vấn đề ngƣời kể chuyện trong văn học Việt Nam và vấn đề
ngƣời kể chuyện trong văn học phƣơng Tây. Nhà nghiên cứu cắt nghĩa sáng rõ về
ngƣời kể chuyện, mối quan hệ của giữa ngƣời kể chuyện với các phạm trù khác nhƣ
tác giả, nhân vật, điểm nhìn, mối quan hệ giữa ngƣời kể chuyện và diễn ngôn trần
thuật, ngƣời kể chuyện và miêu tả trong truyện kể, ngƣời kể chuyện và lời kể...
Đỗ Hải Phong với Vấn đề người kể chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại [31,
tr.116] đã chỉ ra tính chất cực đoan của các nhà tự sự học khi tách biệt mối quan hệ
ngƣời kể chuyện và tác giả thực tế (chủ thể sáng tạo), xem ngƣời kể chuyện là một
yếu tố thuần túy hình thức. Đây là một bài viết có nhiều đóng góp khi đã chỉ ra
ngƣời kể chuyện trung gian động là một trong những loại hình tƣợng ngƣời kể
chuyện thực hiện tốt nhất hình thức tạo khoảng cách phát sinh giữa tác giả và thế
giới đƣợc miêu tả trong mạch trần thuật.
*Điểm nhìn
Điểm nhìn có vị trí, vai trò quan trọng trong việc tạo dựng, xác lập mô
hình cấu trúc tác phẩm. Nó đƣợc xem là một phần tất yếukhi nghiên cứu về nghệ
thuật kể chuyện.

biệt các loại giọng điệu từ khía cạnh trần thuật và khía cạnh sắc thái thẩm mỹ. Theo
đó, giọng điệu trần thuật là kiểu cách giọng dùng để kể (giọng của ngƣời kể từ ngôi
1 hay ngôi 3, đơn âm hay đa âm) và giọng điệu cảm xúc thẩm mỹ là lập trƣờng,
quan điểm, thái độ đối với các hiện tƣợng đƣợc miêu tả (giọng ngợi ca, tự hào;
giọng trầm tƣ, triết lý; giọng xót xa, thƣơng cảm...).
1.1.3. Khái lược về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn
1.1.3.1. Khái niệm truyện ngắn
“Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của truyện ngắn bao trùm
hầu hết các phƣơng diện của đời sống: đời tƣ, thế sự hay sử thi, nhƣng cái độc đáo
của nó là ngắn. Truyện ngắn đƣợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi
không nghỉ”[13, tr.370].

11


Truyện ngắn là thể loại tự sự ngắn, có kết cấu chặt chẽ, tái hiện cuộc sống
qua các biến cố, sự kiện và các sự kiện, biến cố đó xảy ra trong thời điểm nhất định
và đƣợc liên kết trong hệ thống chặt chẽ. Tác giả truyện ngắn thƣờng hƣớng tới
khắc họa một hiện tƣợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay
đời sống tâm hồn con ngƣời” [33, tr.160]. Yếu tố quan trọng của truyện ngắn là
những chi tiết cô đúc, hành văn nhiều ẩn ý tạo nên chiều sâu cho tác phẩm.
1.1.3.2. Cốt truyện trong truyện ngắn
Cốt truyện của truyện ngắn thƣờng diễn ra trong một thời gian, không gian
cụ thể nhằm giúp ngƣời đọc nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời. Cốt
truyện có dung lƣợng nhỏ “hệ thống sự kiện đƣợc kể gọn gàng và thƣờng đơn
giản về số lƣợng, tập trung thể hiện quá trình phát triển tính cách của nhân vật
chính” [13, tr.100].
Hầu hết truyện ngắn đều có cốt truyện, nhƣng trong thực tế vẫn có truyện
không có cốt truyện, ngƣời ta gọi đó là loại “cốt truyện tâm tình”, chủ yếu triển khai
sự việc theo diễn biến tâm lí nhân vật trong một khoảng thời gian nhất định. Các tác

1.1.3.4. Nhân vật trong truyện ngắn
Trong truyện ngắn, số lƣợng nhân vật ít và tính cách nhân vật không quá
phức tạp. Mỗi nhân vật thƣờng có một “chùm dấu hiệu khu biệt để ngƣời đọc có thể
nhận biết rõ ràng, gồm tên gọi, diện mạo, tiểu sử, tính cách, lời nói, hành động, số
phận”. Ngoại hình, nội tâm của mỗi nhân vật thƣờng có nét riêng thể hiện tâm hồn,
phẩm chất, lí tƣởng của nhân vật. Ngôn ngữ của từng nhân vật trong truyện cũng
mang vẻ riêng để phân biệt nhân vật này với nhân vật khác và làm nên sự phong
phú trong thế giới nhân vật và vốn hiểu biết, kinh nghiệm, tài năng của mỗi nhà văn.
1.1.3.5. Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn
Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn không đƣợc mở rộng
nhiều chiều. Truyện ngắn không phản ánh cả quá trình đời sống diễn ra trong một
thời gian dài, mà khám phá đời sống ở những thời điểm tiêu biểu: một tình huống,
một lát cắt đời sống gắn liền với địa điểm, thời gian cụ thể.
Truyện ngắn hiện đại thƣờng ít khi bắt đầu trần thuật từ sự việc khởi đầu, mà
có thể từ một thời điểm sau sự khởi đầu, hoặc thời điểm kết thúc mới quay lại kể
các sự việc diễn ra trƣớc đó. Cách đảo lộn trình tự thời gian nhằm làm ngƣời đọc
chú ý vào một khoảng thời gian nhất định của câu chuyện, với những sự việc, biến
cố quan trọng đƣợc làm nổi bật. Không gian trong truyện bao gồm không gian thiên

13


nhiên, cảnh vật, không gian xã hội; ngoài ra còn có không gian tâm lí, không gian
hiện lên trong nội tâm nhân vật bằng hồi tƣởng và tƣởng tƣợng.
1.1.3.6. Kết cấu và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn
Kết cấu truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhà văn thƣờng chú ý xây
dựng phần mở đầu và kết truyện. Mở truyện để tìm ra cách dẫn dắt truyện tự nhiên,
mang dấu ấn riêng; kết truyện phải độc đáo và ấn tƣợng. Truyện ngắn hiện đại
thƣờng chọn lối kết thúc mở, gợi ra cho bạn đọc những vấn đề, những suy tƣ, đối
thoại về cuộc sống. Kết cấu truyện là tổ chức bố cục của cốt truyện thành các phần,

thực của tác phẩm xem phản ánh cái gì, giá trị nhân đạo xem nhà văn bộc lộ thái độ,
tình cảm, quan niệm gì về cuộc sống, con ngƣời trong tác phẩm. Giá trị nhân đạo
của một tác phẩm thƣờng đƣợc xem xét ở các khía cạnh sau: Tác giả có bày tỏ sự
đồng cảm, thƣơng xót với nỗi khổ đau của nhân vật hay không, trực tiếp hay gián
tiếp; tác giả lên án, tố cáo ai, những thế lực đen tối nào; tác giả có ca ngợi những
phẩm chất tốt đẹp của con ngƣời không, có đồng tình, ủng hộ những khát vọng
chính đáng của con ngƣời không; tác phẩm có chỉ ra lối đi, hƣớng giải phóng giúp
nhân vật thoát khỏi khổ đau, bất hạnh hay không?
- Phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự, giáo viên giúp học sinh chỉ ra đƣợc
các đặc điểm của nhân vật nhƣ: hình dáng bên ngoài, lời nói, cách nói, cử chỉ, thế
giới nội tâm, quan hệ với nhân vật khác... từ đó chỉ ra đƣợc tâm lý, tính cách, bản
chất xã hội của nhân vật, làm rõ ý nghĩa phản ánh, ý nghĩa tƣ tƣởng, thông điệp
thẩm mĩ và những điểm sáng tạo đƣợc nhà văn thể hiện qua nhân vật. GV hƣớng
dẫn HS xác định đúng loại nhân vật để định hƣớng cho qui trình phân tích. Mỗi tác
phẩm có các kiểu loại nhân vật đƣợc xây dựng theo những mô hình khác nhau nên ở
mỗi loại nhân vật cần có cách tiếp cận khác nhau.
Với những nhân vật tƣ tƣởng, kiến thức cơ bản, trọng tâm phân tích là làm
sáng tỏ đặc điểm phần loại. Với kiểu nhân vật này, đặc điểm tính cách ít hoặc không
thay đổi. Các sự kiện trong cốt truyện có đổi thay, vận động theo chiều không gian,
thời gian cũng chỉ để khắc họa, tô đậm càng lúc càng rõ nét đặc điểm tính cách của
nhân vật.
Với những nhân vật đƣợc xác định là nhân vật tính cách, trọng tâm cần phân
tích không phải ở chỗ chỉ ra đƣợc những đặc điểm tính cách bất biến mà chính ở sự

15


thay đổi, chuyển biến của tính cách dƣới sự thay đổi của môi trƣờng sống, hoàn
cảnh sống cùng những mâu thuẫn, xung đột trong nội tâm, tâm lý, tính cách của
nhân vật.


hội. Đặt nhân vật trong hệ thống để phân tích, ta vừa có thể hiểu sâu sắc nhân vật,
vừa hiểu thế giới nhân vật trong tác phẩm một cách toàn diện lại có thể nắm đƣợc
xác thực bức thông điệp tƣ tƣởng và thẩm mĩ của tác giả.
Khi tìm hiểu nhân vật, cần đặt nhân vật trong mối quan hệ với các nhân vật
cùng tuyến có mối quan hệ tƣơng đồng, bổ sung cho nhau đồng thời đặt nhân vật
trong mối quan hệ với những nhân vật trái tuyến, tƣơng phản, đối chọi nhau để làm
nổi bật tính cách, số phận của nhân vật cũng nhƣ chủ đề, tƣ tƣởng của tác phẩm.
1.2.1.2. Phương pháp dạy học
Chúng tôi tiến hành khảo sát về phƣơng pháp dạy học trong một số trƣờng
trên địa bàn Thị xã Sơn Tây và huyện Ba Vì.
* Đối tượng khảo sát
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu
khảo sát ý kiến cho 40 giáo viên dạy Ngữ văn và 300 học sinh ở một số trƣờng
THPT nhƣ: THPT Sơn Tây, Sơn Tây, Hà Nội; THPT Quảng Oai,Ba Vì, Hà Nội;
THPT Ba Vì, Ba Vì, Hà Nội; THPT Ngô Quyền, Ba Vì, Hà Nội;THPT Hữu Nghị
80,Sơn Tây, Hà Nội.
Bảng 1.1. Số GV và HS được phát phiếu khảo sát ý kiến
Số GV đƣợc

Số HS đƣợc

hỏi ý kiến

hỏi ý kiến

THPT Sơn Tây

17


5

Hà Nội

THPT Hữu nghị 80

8

65

40

300

STT

Tỉnh

1

Hà Nội

2

Trƣờng

Tổng
(Xem phần phụ lục 1.2.)
* Nội dung khảo sát


và học sinh.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status