Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Xuất phát từ tình hình đổi mới của nền kinh tế thế giới, với những kinh
nghiệm thực tiễn và bài học của nhiều nước trên thế giới. Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI đã đề ra ba chương trình mục tiêu lớn: “ Lương thực, thực
phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”. Khẳng định vị trí hàng đầu của
ngành nông nghiệp nước ta trong vài thập kỷ tới. Tiếp đến Đại hội VIII và IX
lại khẳng định lại một lần nữa ba chương trình kinh tế trên trong đó nông lâm
nghiệp phải phát triển sản xuất hàng hoá theo hướng thị trường gắn với công
nghiệp chế biến đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, phát huy
lợi thế so sánh, bảo vệ tài nguyên môi trường…
Trong số 10 mặt hàng nông sản, sản xuất, xuất khẩu thì chè đang có xu
hướng ngày càng gia tăng. Cây chè được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía
bắc và Lâm Đồng. Sản xuất chè trong nhiều năm qua đã phần nào đáp ứng
được nhu cầu về chè uống trong nước, đồng thời còn xuất khẩu đạt kim ngạch
hàng chục triệu USD mỗi năm. Tuy có những thời điểm giá chè giảm làm cho
đời sống của những người trồng chè gặp không ít khó khăn nhưng nhìn tổng
thể thì cây chè vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần
tạo việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận đáng kể nhân dân vùng trung du,
miền núi, vùng cao, vùng xa và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy
việc sản xuất và chế biến chè xuất khẩu là một hướng quan trọng nhằm thúc
đẩy tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều lợi thế để phát triển cây chè hơn các
nước khác, chúng ta có điều kiện về khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp cho cây
chè phát triển, có nguồn lao động dồi dào trong nông nghiệp và thị trường tiêu
thụ tiềm tàng trong và ngoài nước. Tuy nhiên lượng chè xuất khẩu còn rất hạn
chế chỉ chiếm 2% tổng sản lượng xuất khẩu của toàn thế giới. Vì vậy, để
ngành chè Việt Nam nói chung và Công ty TNHH TM Đại lợi nói riêng có
1
1
Chuyên đề tốt nghiệp
HÀNG CHÈ CỦA CÔNG TY TNHH TM ĐẠI LỢI
I . BẢN CHẤT CỦA XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
1.1. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu hàng hoá
1.1.1. Khái niệm:
Một số tác giả cho rằng XNK chính là mở rộng của hàng hoá mua bán
trao đổi ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia. Ngày nay xuất khẩu hàng hoá
chính là một hoạt động kinh doanh ở phạm vi quốc tế, là lĩnh vực sôi động
nhất trong nền kinh tế hiện nay.
Nên có thể nói kinh doanh XNK là mối quan hệ trao đổi hàng hoá dịch
vụ giữa một quốc gia với một quốc gia khác, là một bộ phận của quan hệ kinh
tế quốc tế của một nước với một nước khác trên thế giới.
Theo một cách chung nhất thì khi nào có bất cứ một lượng tiền nào đó
được dịch chuyển qua biên giới một quốc gia để chi trả cho một lượng hàng
hoá dịch vụ được đưa ra khỏi quốc gia đó thì khi đó người ta cho rằng một
thương vụ xuất khẩu đã được kinh doanh.
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu thể hiện sự gắn bó mật thiết với nhau giữa các nền kinh tế
quốc gia với nền kinh tế thế giới, nó cũng quyết định sự sống còn đối với nền
kinh tế thế giới hiện nay các nước thống nhất dưới mái nhà chung, nền kinh tế
quốc gia đã hoà nhập với nền kinh tế thế giới thì vai trò của xuất khẩu đã trở
nên quan trọng và cụ thể là:
* Đối với nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất: xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Theo bước đi phù hợp là con đường
tất yếu khắc phục nghèo đói. Để công nghiệp hoá đất nước trong thời gian
3
3
Chuyên đề tốt nghiệp
ngắn chúng ta phải có nguồn vốn đủ lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ
thuật và một số loại khác hiện đại và tiên tiến. Khai thác tốt tiềm năng của
còn ở Việt Nam có thể tạo ra hơn 50.000 chỗ làm. Đặc biệt xuất khẩu hàng
hoá nông sản xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động tạo ra nguồn vốn để nhập
khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân.
Thứ 4: Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối
quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với lao động.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động chủ yếu, cơ bản là hình thức ban đầu
của kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và quan hệ đối ngoại có tác động qua lại và
phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là nội dung quan trọng của nền kinh tế đối
ngoại, nó tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển như
du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế… Ngược lại sự phát triển của ngành này
cũng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
Qua đây ta thấy để đất nước phát triển tất yếu phải đẩy mạnh hoạt động
XK.
* Với với doanh nghiệp.
Vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chung của một quốc gia,
các doanh nghiệp. Việc xuất khẩu hàng hoá dịch vụ đưa lại cho doanh nghiệp
các lợi ích sau:
- Hoạt động xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát
triển. Với bản chất là hoạt động tiêu thụ đặc biệt do vậy việc đẩy mạnh xuất
khẩu cũng là một vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp. Mở rộng thị trường
đẩy mạnh số lượng tiêu thụ trên thị trường quốc tế làm tăng tốc độ quay vòng
vốn, thu về một lượng giá trị lớn hơn cho doanh nghiệp. Đây cũng chính là
vai trò số một của hoạt động xuất khẩu.
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước tham gia
vào cuộc cạnh tranh trên thị trường về giá cả và chất lượng những yếu tố đó
bắt buộc doanh nghiệp phải hình thành cơ cấu xuất khẩu phù hợp với thị
trường.
5
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Xuất khẩu trực tiếp: Là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản
xuất, các Công ty trực tiếp ký kết hợp đồng bán hàng cung cấp dịch vụ cho
các doanh nghiệp cá nhân nước ngoài.
Với hình thức này các doanh nghiệp trực tiếp quan hệ với khách hàng và
bạn hàng, thực hiện việc bán hàng hoá ra với nước ngoài không qua bất kỳ
một tổ chức trung gian nào.
Để thực hiện được hoạt động của xuất khẩu này doanh nghiệp phải đảm
bảo một số điều kiện như : Có khối lượng hàng hoá lớn, có thị trường ổn định
có năng lực thực hiện xuất khẩu.
- Xuất khẩu trực tiếp có ưu điểm là:
+ Tận dụng được hết tiềm năng, lợi thế để sản xuất hàng xuất khẩu.
+ Giá cả, phương tiện vận chuyển, thời gian giao hàng, phương thức
thanh toán do hai bên thoả thuận và quyết định.
+ Lợi nhuận thu được không phải chia do giảm được chi phí trung gian.
+ Có điều kiện thâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ý kiến của khách
hàng khắc phục những thiếu sót.
+ Chủ động trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng hoá nhất là trong điều kiện
thị trường nhiều biến động.
- Tuy nhiên khi thực hiện hoạt động xuất khẩu trực tiếp các doanh
nghiệp, tổ chức kinh doanh xuất khẩu cũng gặp một số khó khăn, nhược điểm
là:
+ Đối với thị trường mới chưa từng giao dịch thường có nhiều bỡ ngỡ dễ
gặp sai lầm, bị ép giá trong mua bán.
+ Đòi hỏi năng lực ngoại thương và nghiệp vụ của cán bộ phải sâu, phải
có nhiều thời gian tích luỹ kinh nghiệm.
+ Khối lượng mặt hàng phải lớn mới có thể bù đắp được chi phí giao
dịch như: Giấy tờ, điều tra thị trường.
* Xuất khẩu gia công uỷ thác.
7
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là phương thức giao dịch mà trong đó việc mua bán gắn liền với
nhau tức người mua đồng thời là người bán, lượng hàng hoá trao đổi thường
có nhiều giá trị tương đương.
Trong quá trình buôn bán, ký hợp đồng, thanh toán vẫn phải dùng tiền
làm vật ngang giá chung.
Theo hình thức buôn bán này cần quan tâm đến sự cân bằng về mặt hàng
hoá, giá cả về tổng giá trị hàng hoá giao cho nhau vể cả điều kiện giao hàng
và điều kiện thanh toán.
Phương thức mua bán đối lưu góp phần vào thúc đẩy mua bán cho các
trường hợp mà những phương thức mua bán không vượt qua được, ví dụ như
khi bị cấm vận hoặc trong trường hợp Nhà nước tiến hành quản chế ngoại hối.
* Mua bán quốc tế.
Hội trợ là thị trường hoạt động định kỳ được tổ chức vào một thời gian
và ở một thời điểm cố định trong một thời hạn nhất định, tại đó người bán đến
trưng bày hàng hoá của mình, và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng
buôn bán. Triển lãm là nơi trưng bày giới thiệu những thành tựu của một nền
kinh tế học hoặc của một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật. Liên
quan chặt chẽ đến ngoại thương là các cuộc triển lãm công nghiệp, tại đó
người ta trưng bày các loại hàng hoá nhằm mục đích quảng cáo để mở rộng
khả năng tiêu thụ.
Ngày nay, có rất nhiều các hợp đồng được ký kết tại hội trợ và triển lãm.
* Xuất khẩu gián tiếp:
Xuất khẩu gián tiếp: Là hình thức xuất khẩu trong đó bên mua hoặc bên
bán thông qua người thứ 3 ra tiến hành công việc mua hoặc bán thay cho
mình.
Những công việc này có thể là nghiên cứu thị trường, đàm phán kí kết
hợp đồng, thực hiện hợp đồng. Đây là hình thức xuất khẩu phổ biến chiếm
9
chính phủ nước đó.
10
10
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3. Nội dung của xuất khẩu hàng hóa.
Xuất khẩu là việc bán hàng ra nước ngoài nhằm tạo lên một nguồn thu
lớn. Nhưng việc bán hàng ở đây tương đối phức tạp như: Giao dịch với những
người có quốc tịch khác, thị trường mua bán rộng lớn, khó kiểm soát, mua
bán qua trung gian chiếm tỉ trọng lớn đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh,
hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia. Do vậy cần phải tuân thủ các
tập quán cũng như thông lệ quốc tế.
Hoạt động xuất khẩu được tổ chức thực hiện với những nhiệm vụ, nhiều
khâu khác nhau, bắt đầu từ khâu nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước
lựa chọn đối tác, tiến hành giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng, tổ chức thực
hiện hợp đồng, cho đến khi hàng hoá đến cảng, chuyển giao quyền sở hữu cho
người mua và hoàn thành các thủ tục thanh toán. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ
này phải được thực hiện nghiên cứu đầy đủ kỹ lưỡng và đặt trong mối quan
hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt được những lợi thế đảm bảo cho hoạt động
kinh doanh đạt hiệu quả cao.
1.3.1. Nghiên cứu thị trường và lựa chọn bạn hàng.
Nghiên cứu thị trường là một việc làm hết sức quan trọng đối với bất kỳ
một công ty nào. Nó sẽ giúp các doanh nghiệp tìm kiếm quy luật vận động
trong lĩnh vực lưu thông để từ đó xử lý các thông tin rút ra những kết luận và
hình thành những quyết định đúng đắn cho việc xây dựng các chiến lược kinh
doanh.
- Các phương pháp nghiên cứu thị trường:
Nghiên cứu thị trường là thu thập các thông tin về thị trường thông qua
hai phương pháp:
+ Phương pháp tại bàn: Đây là phương pháp phổ thông nhất, nó gồm thu
thập thông tin từ tài liệu xuất bản hoặc không xuất bản.
không khi sản phẩm đó đem ra xuất khẩu.
Bên cạnh đó sản phẩm đem xuất khẩu phải đảm bảo về mặt chất lượng,
hình dáng, phẩm chất và mẫu mã cần phải lựa chọn thật kĩ để khi xuất khẩu sẽ
tạo ra uy tín cho bạn hàng cũng như thuận lợi hơn khi mang ra thị trường khác
12
12
Chuyên đề tốt nghiệp
tiêu thụ. Phải lựa chọn những sản phẩm đang cần trên thị trường tiêu thụ
nhằm kinh doanh phù hợp với các thị trường đó.
1.3.4. Các hình thức giao dịch:
Gồm các hình thức giao sau: Giao dịch trực tiếp, giao qua thư tín, giao
qua điện thoại, giao thông qua bên thứ ba.
Để đi đến kí kết hợp đồng hai bên phải tiến hành giao dịch đàm phán với
nhau những điều kiện giao dịch. Đây là một nội dung quan trọng của hợp đồng
xuất khẩu. Đàm phán có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau.
Hiện nay trong hợp đồng xuất khẩu, quá trình đàm phán thường diễn ra
theo các bước như chào hàng phải hoàn giá, chấp nhận xác nhận, kí kết hợp
đồng.
Kết thúc giai đoạn đàm phán nếu thành công sẽ tiến hành kí kết hợp
đồng. Kí kết hợp đồng là khâu cơ bản quan trọng nhất của đàm phán.
II. CUNG CẦU THỊ TRƯỜNG CHÈ.
2.1. Cung về sản phẩm chè.
Cung về sản phẩm chè là số lượng sản phẩm chè mà ngành chè có khả
năng và sẵn sàng cung cấp ra thị trường ở các mức giá khác nhau trong một
thời gian nhất định.
Cung về sản phẩm chè có thể do hai nguồn chủ yếu: Hoặc do sản xuất
chè trong nước hoặc nhập từ nước ngoài. Tuỳ theo điều kiện của từng nước
mà tỷ trọng của những sản phẩm chè lưu thông trên thị trường do nguồn nào
chiếm bao nhiêu là không giống nhau. Việc xác định số lượng cung dựa vào
diễn biến tình hình của thị trường và số liệu thống kê hàng năm về diện tích,
- Môi trường tự nhiên mà trước hết là đất đai và khí hậu.
2.2. Cầu về sản phẩm chè.
Nhu cầu về sản phẩm chè của xã hội có rất nhiều loại khác nhau. Đó là
nhu cầu chè cho tiêu dùng trong nước và nhu cầu chè xuất khẩu.
Về phương diện kinh tế mà xét chúng ta thấy có hai loại nhu cầu sau:
Một là: Nhu cầu tự nhiên mà thực chất là nhu cầu về sản phẩm chè của
dân cư tính theo số lượng dân số. Đây là phương diện mà các nhà chính sách
cần tính tới nhằm thiết lập giải pháp để cân bằng cung cầu trong phát triển.
14
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Hai là: Nhu cầu kinh tế, được hiểu là nhu cầu có khả năng thanh toán,
hay là cầu về sản phẩm chè mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua
ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định. Xét về phương diện
kinh tế của các nhà kinh doanh thì đây mới là điều đáng chú ý.
Cầu về sản phẩm chè cũng có những nhân tố tác động sau :
- Trước hết là giá cả sản phẩm chè trên thị trường, chủng loại và chất
lượng sản phẩm chè. Trong trường hợp giả định các yếu tố khác không đổi thì
khi giá cả tăng sẽ làm lượng cầu giảm và ngược lại.
- Mức thu nhập của người tiêu dùng :
Sức mua hay nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu dùng là yếu
tố quyết định quy mô và dung lượng thị trường và ở mức độ nhất định đóng
vai trò điều tiết sản xuất.
- Giá cả của những hàng hoá có liên quan, đặc biệt là những sản phẩm có
khả năng thay thế như: Cà phê, nước giải khát, nước khoáng…
- Các yếu tố thuộc về khẩu vị và sở thích của người tiêu dùng đối với
từng sản phẩm chè hàng hoá.
- Các kỳ vọng của người tiêu dùng:
Cầu sẽ thay đổi phụ thuộc vào kỳ vọng (sự mong đợi ) của người tiêu
dùng. Nếu người tiêu dùng hy vọng giá cả của sản phẩm hàng hoá sẽ giảm
Ruwanda 9 13,228 14,875 11,980 12 13,65
Nam Phi 9,062 8,207 10,250 10,5 9,56 9,251
Tazania 19,768 22,475 24,333 23,49 24,1 21,96
Uganda 17,418 21,075 26,422 24,670 23 24,89
Zaida 3 2,5 2 1 1,8 1,3
Zimbabwe 16,822 17,098 17,754 20,388 21 19
Châu Phi 368,499 364,800 448,058 397,697 398,82 390,952
Argentina 43 55 53 51 54 53,56
Brazin 4,2 4 3,8 4 3 5
Ecuado 2 2 2 2 2,5 2,62
Peru 2 2 2 2 2 2,1
Nam Mỹ 51,2 63 60,8 59 61,5 63,28
Banngladesh 53,406 53,495 56,2 44,2 47 46
Ấn Độ 780,008 810,613 870,405 805,612 810,45 820,72
Trung Quốc 593,368 613,366 620 680 670 678,5
Indonesia 166,256 131,006 116,120 154 146 139
Iran 58 60 65 68 67 64
16
16
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhật Bản 88,709 91,211 82,600 88,5 89,32 84,79
Malaysia 6,141 6,132 5,645 5,807 5 6,2
Nepan 3,8 3,98 4,424 4.42 3,9 3,4
Srilanca 258,969 277,428 280,056 283,761 288,32 276,45
Đài Loan 23,131 23,505 22 22 25 23
Việt Nam 45 53 61 66,38 64 67
Châu á 2.076,806 2.123,736 2.233,45 2.222,68 2211,99 2209,06
Ecuado 1,2 1,5 1,5 1,5 2 1,4
Papua New
Guinea
- Chính phủ cũng công bố các mặt hàng cung ứng cho đối tượng tiêu
dùng thuộc diện chính sách xã hội.
- Ngoài các danh mục mặt hàng quy định trên, các mặt hàng còn lại pháp
luật không cấm nên được lưu thông tự do trên thị trường nội địa.
- Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chính sách về cạnh
tranh thấp để xác định thời gian hội nhập, mở cửa phù hợp cũng như bảo hộ
sản xuất trong nước hợp lý.
3.2. Đánh giá hiện trạng và chính sách mặt hàng xuất khẩu.
Để đánh giá hiện trạng và chính sách mặt hàng xuất khẩu quốc gia cần
xác định rõ mục tiêu chính sách xuất khẩu của mình, xét về nguồn lực, nhân
sự, tổ chức công tác quản lý, khả năng hoạt động xuất khẩu của các doanh
nghiệp. Đưa ra những điểm mạnh điểm yếu một cách trung thực chính xác vì
đó là cơ sở để hoạch định chính sách mặt hàng kinh doanh sao cho phù hợp
với tiềm năng của đất nước. Việc đánh giá hiện trạng và mục tiêu của chiến
lược mặt hàng sẽ cung cấp thông tin cho việc hoàn thiện chính sách mặt hàng
của quốc gia.
3.3. Những yêu cầu của hoạt động hữu hiệu.
- Hoạt động phải xác định rõ mục tiêu, chiến lược được phản ánh và hoạt
động cụ thể vừa thực hiện kế hoạch, vừa phải tiến hành thực hiện chính sách
trên cơ sở đã có những hình thức điều chỉnh và bổ xung ở các khâu.
- Mục tiêu của chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế
trong từng giai đoạn và đảm bảo khả năng thích ứng với các giai đoạn khác
nhau của nền kinh tế. Nó thể hiện về khách hàng, giá cả cũng như loại hình
công dụng sản phẩm thích ứng ở thị trường mục tiêu đó.
18
18
Chuyên đề tốt nghiệp
- Các giải pháp các chính sách phải thích ứng với từng thời cơ và xu thế
biến động của thị trường đồng thời phải đảm bảo tính thống nhất và cụ thể
hoá chính sách.
+ Mặt hàng gia công xuất khẩu tỉ lệ nội địa hoá cho sản phẩm gia công (
vẫn tăng xuất khẩu), đạt hiệu quả quá trình sản xuất.
+ Nhóm mặt hàng nông - lâm - thuỷ - hải sản: Phải chú ý đến cây giống,
con giống, công nghệ sản xuất chế biến để có được cạnh tranh cao hơn (có
tiêu chuẩn ISO) đáp ứng tốt xâm nhập thị trường có tiềm năng, quy mô lớn.
+ Môi trường quan trọng chủ yếu là chính sách tạo mặt hàng xuất khẩu.
Cần hình thành hệ thống ngân hàng dữ liệu quốc gia để cung cấp thông tin
cho người sản xuất, người tiêu dùng, người kinh doanh, công nghệ chế biến,
cung cấp thông tin thị trường đầu ra, thị trường xuất khẩu, thông tin liên quan
đến môi trường…
- Xác lập cơ cấu hàng hoá xuất khẩu theo nhóm hàng:
+ Nhóm nguyên liệu, nhiên liệu: Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu 2005
(9%) tổng kim ngạch là 2,5 tỉ USD, 2010 chính sách chỉ còn (1%) kim ngạch
là 5.000 triệu USD, hay 2010 khoảng 3,5%. Có ba phân nhóm cơ bản: Dầu
thô 2005 xuất khẩu 12 triệu tấn và đến 2010 có hai phương án: Khai thác 14
đến 16 triệu tấn, xuất khẩu từ 2 đến 4 triệu tấn (xuất khẩu 1%) nếu khai thác
20 triệu tấn xuất khẩu là 8 triệu tấn.
Dầu thô thị trường xuất khẩu chính là úc, Singabo, Nhật bản, các nước
Tây Âu, EU cần mở rộng thị trường sang Thái Lan, Trung Quốc.
Than đá: 2010 xuất khẩu 4 triệu tấn/ năm, nhập khẩu đạt 120 đến 159
triệu USD. Thị trường chính là Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Tây Âu, EU
cần mở rộng thị trường sang Thái Lan.
+ Nhóm nông - lâm - thuỷ sản: Có nhiều lợi thế gạo, cà phê, tiêu, điều…
tốc độ tăng của nhóm này bình quân 4,5%/ năm tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu
giảm từ 22% (2005) xuống 17% (2010) kim ngạch 8 đến 16 tỉ USD.
Hướng chủ đạo là chuyển dịch cơ cấu, nâng cao năng suất chất lượng,
giá trị gia tăng (sản lượng gạo, cà phê, chè…)
+ Nhóm sản phẩm chế biến và chế tạo: Là một trong những nhóm cần
phải tăng trưởng cả kim ngạch và tỉ trọng, cụ thể là mục tiêu đặt ra kim ngạch
xuất khẩu lớn hơn 4 tỉ USD so với năm 2010, tỉ trọng lớn hơn 30% tăng lên
Nam, Thành phố Hà Nội.
21
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Hiện nay, Công ty có dây chuyền tự động của Ấn độ, Nhật bản, Trung
quốc…, theo công nghệ CTD để sản xuất các loại chè khác nhau.
Với sự lãnh đạo của ban quản trị và lòng hăng say của cán bộ công nhân
viên cộng với sự nắm bắt kịp thời Công ty đã nhanh chóng tạo ra mặt hàng
chè chất lượng cao có thể tồn tại trong môi trường sản xuất và kinh doanh
mới.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay, nhu cầu về đồ
uống ngày càng tăng. Nhận biết được vấn đề đó Công ty đã có những thay đổi
để hòa nhập từ đó tạo ra vị thế trên thị trường.
Tên tiếng việt : Công ty TNNH TM Đại Lợi.
Tên giao dịch : DAI LOI TRADING Co…,LTD
Địa chỉ : Thổ Tang - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc.
Điện thoại : 0211.838319
Fax : 0211.820666
Email :
1.2. Chức năng, cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty.
* Nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh.
Công ty TNHH TM Đại Lợi chuyên sản xuất, bán buôn và chế biến chè
cung cấp rộng rãi cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, chức năng và quyền hạn thường gắn
liền với nhau, còn nhiệm vụ và trách nhiệm thì liên quan chặt chẽ với nhau,
còn đặc điểm của công ty sẵn sàng cung cấp sản phẩm chè chất lượng cao tới
tay người tiêu dùng.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC
Bộ phận kế toán
Phó giám đốc
- Kiểm tra thể thức, thủ tục, nội dung, số liệu của bộ chứng từ thanh toán,
đảm bảo chứng từ hợp pháp.
* Điểm mạnh của cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức đơn giản, không cồng kềnh, có báo cáo rõ ràng, do vậy
thông tin được truyền đi một cách nhanh chóng đến các phòng ban, tiết kiệm
được thời gian cùng với đội ngũ lãnh đạo có kinh nghiệm và tương đối trẻ.
1.3. Mặt hàng kinh doanh xuất khẩu của Công ty:
STT Tên danh mục mặt hàng
1. Chè đen OTD (ORTHODOX) gồm 7 loại: OP, FBOP, P, PS, F, D, BPS.
Chè đen CTC: BOP, BP, O, D, PF.
2. Chè xanh: Chè xanh sơ chế, chè xanh thành phẩm
24
24
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty:
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm
2003/2002
Năm
2004/2003
Tổng doanh
thu
502,23 530,34 612,52 5,6% 15,5%
Giá vốn 485,33 512,32 585,51 5,56% 14,3%
Chí phí lưu
thông
11,2 13,13 17,56 8,3% 44,76%
Hiệu quả 5,7 5,89 9,45 3,34% 60,44%
Lương 1,2 1,25 1,35 4,16% 8%
Lợi nhuận 4,5 4,64 8,1 3,11% 74,57%
Nhận xét: Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy hiệu quả hoạt động tài chính