tiểu luận kinh tế lượng 2 các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số nhận thức tham nhũng CPI của các quốc gia trên thế giới giai đoạn 2012 2017 - Pdf 64

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ


----------- -----------

BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
HỌC PHẦN KINH TẾ LƯỢNG 2
ĐỀ TÀI:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ NHẬN THỨC THAM NHŨNG
CPI CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 2012 - 2017

Giảng viên hướng dẫn: TS. Chu Thị Mai Phương
Lớp tín chỉ: KTE318(1-1920).2_LT
Nhóm sinh viên thực hiện:
Ngô Thị Hương Lan

-

1714410125

Vũ Thị Phương Thảo

-

1714410213

Ngô Hoàng Anh

-


3.

Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 7
3.1.Mô hình nghiên cứu ................................................................................... 7
3.2.

Nguồn dữ liệu .......................................................................................... 11
3.3.Mô tả thống kê và mô tả tương quan biến số .......................................... 11

4.

Kết quả ước lượng và thảo luận ..................................................................... 15

5.

Kết luận và kiến nghị ..................................................................................... 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 21
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 23

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Giải thích các biến số ................................................................................. 8
Bảng 3.2. Mô tả thống kê các biến ........................................................................... 11
Bảng 3.3. Mô tả tương quan biến số ........................................................................ 13
Bảng 4.1. Tổng hợp kết quả ước lượng các mô hình ............................................... 15


1.

Lời mở đầu

Trong quá trình thực hiện, chúng em sử dụng dữ liệu từ các nguồn World Bank,
Transparency International, Gapminder Foundation, loại đi các quốc gia bị thiếu dữ

1


liệu, còn 91 nước, trong khoảng thời gian là 6 năm từ 2012 - 2017, tổng hợp các
biến vào một file excel (có thể chỉnh sửa theo mô hình) và áp dụng phương pháp,
đưa vào mô hình các biến: chỉ số nhận thức tham nhũng (cpi), quy mô chính phủ
(size), chỉ số dân chủ (democracy), chỉ số ổn định chính trị (poli), chỉ số chất lượng
các quy định (regu), lạm phát (ifla), thuế (tax) và biến giả phân loại mức độ phát
triển của các quốc gia (deve). Nghiên cứu của nhóm sử dụng phương trình tác động
cố định và phần mềm STATA để chạy mô hình hồi quy và kiểm định mô hình, từ đó
đem lại kết quả khách quan và chính xác.
Chúng em xin cảm ơn TS. Chu Thị Mai Phương đã tận tình chỉ bảo, hướng
dẫn trong suốt quá trình học tập và thực hiện bài nghiên cứu này. Tuy nhiên, do thời
gian nghiên cứu và kiến thức của chúng em còn hạn chế nên chắc chắn bài tiểu luận
vẫn còn những thiếu sót nhất định, chúng em rất mong nhận được sự góp ý từ cô để
bài viết được hoàn thiện hơn, từ đó rút ra kinh nghiệm cho những bài viết tiếp theo.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!

2


2.

Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tham nhũng là một tệ nạn trầm trọng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những

nước kém phát triển. Tham nhũng gây ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế, vì

3


sự mở cửa của kinh tế, tỷ lệ giữa ngân sách công và tổng GDP, chất lượng dân chủ, tự
do báo chí, tỷ lệ giữa xuất khẩu từ tài nguyên tự nhiên và tổng xuất khẩu, tỷ lệ người
sống ở thành thị, ổn định chính trị, chất lượng các quy định, đa dạng sắc tộc và tự do
kinh tế cùng hai biến giả là thời gian và quốc gia với biến phụ thuộc là chỉ số kiểm soát
tham nhũng. Điểm số dao động từ -2,5 (cho quốc gia rất tham nhũng) và +2,5 (đối với
quốc gia rất trong sạch). Dữ liệu được phân tích là của 133 quốc gia trong các năm
1996, 1998, 2000, 2002 và 2004 với nguồn từ World Bank, The Fraser Institute,
University of Maryland và Freedom House. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có
những biến có ảnh hưởng tiêu cực đến tham nhũng như đa dạng sắc tộc, tài nguyên
thiên nhiên, độ mở của nền kinh tế, dân số đô thị và có những biến có ảnh hưởng tích
cực như tự do kinh tế giúp làm giảm tham nhũng, có những biến có quan hệ phi tuyến
tính với tham nhũng như tự do báo chí, tăng điểm tự do báo chí từ 40 trở lên sẽ giúp
giảm tham nhũng. Từ đó các tác giả đưa ra những giải pháp cho chính phủ nhằm tác
động đến những yếu tố có ảnh hưởng để góp phần giảm tham nhũng.
Các tác giả Shao, Ivanov, Podobnik và Stanley (2007) đã phân tích chỉ số nhận
thức tham nhũng CPI của Transparency International cùng một số phương pháp đánh
giá tham nhũng khác như chỉ số kiểm soát tham nhũng (CCI) do World Bank cung cấp.
Nhóm tác giả đánh giá mối quan hệ giữa các biến độc lập là các biến số kinh tế như
tổng sản phẩm quốc nội, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế với biến
phụ thuộc là CPI. Dữ liệu được lấy từ dữ liệu hàng năm của US Bureau of Economic
Analysis (BEA), IMF và World Bank. Nghiên cứu cho thấy tham nhũng và tăng trưởng
kinh tế có mối quan hệ tiêu cực trong dài hạn, kết quả này có ý nghĩa khi đánh giá mức
độ tham nhũng tương đối cho hai các quốc gia có sự giàu có tương đương và để định
lượng tác động của tham nhũng đối với tăng trưởng kinh tế và đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, hai tác giả Donchev và Ujhelyi (2014) lại đưa ra kết luận trái
ngược với nghiên cứu trên, nghiên cứu cho thấy có một số yếu tố thường được tìm

mỏ. Nhóm tác giả xem xét một tập hợp các biến bao gồm các biến độc lập: quy mô
của ngành dầu mỏ, thu nhập từ thuế, quy mô của chính phủ, chỉ số phát triển con
người, dân chủ, lạm phát, thanh khoản, nợ của khu vực tư nhân đối với ngân hàng,
giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp và công nghiệp và biến phụ thuộc là chỉ số
nhận thức tham nhũng. Sử dụng các biến này, nhóm ước tính 4 mô hình kinh tế
lượng trong khung GMM. Kết quả cho thấy quy mô của ngành dầu mỏ, quy mô của
chính phủ, lạm phát, nợ của khu vực tư nhân, thanh khoản và dân chủ ở các nước
giàu dầu mỏ có liên quan tích cực đến tham nhũng trong khi giá trị gia tăng của
ngành nông nghiệp và công nghiệp và phát triển con người ảnh hưởng xấu đến tham
nhũng do việc tăng các biến này làm giảm tham nhũng ở các quốc gia này.
5


Trong nghiên cứu của Kotera (2010) sử dụng dữ liệu mảng và phương pháp
bình phương tối thiểu thông thường OLS, tác động của chi tiêu chính phủ đối với
tham nhũng đã được kiểm tra. Khảo sát này bao gồm các nước đang phát triển hoặc
các nước không phải thành viên OECD. Tập hợp các biến bao gồm: chỉ số nhận
thức tham nhũng, quy mô của chính phủ, chỉ số dân chủ, logarit GDP bình quân đầu
người, mức độ mở cửa nền kinh tế và ổn định chính trị. Kết quả cho thấy quy mô
chính phủ có tác động tích cực đến tham nhũng ở mức độ dân chủ thấp, và ảnh
hưởng tiêu cực đến tham nhũng ở mức độ dân chủ cao. Ước tính các mô hình khác
nhau cũng chỉ ra rằng chỉ số dân chủ tác động tích cực và cả tiêu cực đến tham
nhũng; sự ổn định chính trị có tác động tiêu cực đến tham nhũng có nghĩa là tăng sự
ổn định chính trị ở một quốc gia làm giảm mức độ tham nhũng ở quốc gia đó.
Bên cạnh đó, trong nước cũng có một số nghiên cứu về tham nhũng. Năm 2013,
một báo cáo do Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Văn phòng Ban chỉ đạo
Trung ương về Phòng chống tham nhũng và Ngân hàng Thế giới thực hiện đã khảo sát
và phân tích các số liệu liên quan đến tham nhũng ở 10 tỉnh và 5 bộ của Việt Nam trên
3 nhóm đối tượng cụ thể là người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức.
Phương pháp nghiên cứu của nhóm tác giả này là sử dụng bảng hỏi, qua đó thu thập dữ

cứu đi trước, nhưng nhóm vẫn tạo ra cho mình sự khác biệt: số liệu đã được cập
nhật đến năm gần nhất, bối cảnh nghiên cứu mới hơn, hiện đại hơn. Ngoài ra, nhóm
còn bổ sung thêm một biến giả vào mô hình là biến phân loại mức độ phát triển của
các quốc gia gồm các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển. Do vậy,
mong rằng đề tài này của nhóm sẽ giúp người đọc có được cái nhìn tổng quan hơn
về các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số nhận thức tham nhũng trên thế giới đồng thời
có những đánh giá chính xác và giải pháp cụ thể để khắc phục được tình trạng tham
nhũng một cách hiệu quả nhất.
3.

Phương pháp nghiên cứu

3.1.

Mô hình nghiên cứu

Dựa vào những nghiên cứu đã được tiến hành trước đây, mô hình mà nhóm tác
giả đề xuất là:
cpiit = β0+ β1sizeit+ β2demoit+ β3poliit + β4iflait + β5taxit + β6reguit + β7deveit + ci +
uit Trong đó: β0 là hệ số chặn;
β1- β7 là các hệ số góc;
cit là các yếu tố không quan sát được;
uit là phần dư.

7


Bảng 3.1. Giải thích các biến số

Biến


Lạm phát
Độc lập
Thuế
Độc lập
Chỉ số chất lượng Độc lập
các quy định

%
%
-2.5 – 2.5

(-)
(+)
(+)

deve

Mức độ phát triển
của quốc gia

Độc lập = 1 nếu quốc gia phát
(biến giả) triển

(+)

= 0 nếu quốc gia đang
phát triển
Mô hình mà nhóm tác giả đề xuất sử dụng các biến số:
Chỉ số nhận thức tham nhũng CPI (Corruption Perceptions Index): được Tổ chức

cách lấy tổng chi tiêu chính phủ chia cho GDP trong cùng một năm theo đơn vị %. Chi
tiêu chính phủ là khoản thanh toán bằng tiền mặt cho hàng hóa và dịch vụ do chính phủ
thực hiện. Nó bao gồm các khoản chi đòi hỏi nguồn lực của nền kinh tế và khoản chi
mang tính chất phân phối lại như lương hưu, trợ cấp, phúc lợi xã hội,…
Chỉ số dân chủ (Democracy Index): Chỉ số dân chủ được tính theo cách tính bình
quân trọng lượng dựa trên trả lời của 60 câu hỏi, mỗi câu có từ hai đến ba lựa chọn để
trả lời. Một cách sơ lược, các câu hỏi được phân bổ vào năm loại chính: việc tiến hành
bầu cử công bằng và tự do, các quyền tự do của công dân, sự hoạt động của chính
quyền, việc tham gia chính trị, văn hóa chính trị. Mỗi câu trả lời được cho điểm là 0
hoặc 1, hoặc có thêm 0,5 điểm đối với ba lựa chọn. Tổng số điểm được cộng dồn vào
cho từng loại, nhân với mười, rồi chia cho tổng số câu hỏi của từng loại đó. Trung bình
cộng của các chỉ số từng loại đó được làm tròn cho ta kết quả chỉ số dân chủ cho từng
quốc gia, trong đó: dân chủ đầy đủ (có điểm từ 8 – 10), dân chủ khiểm khuyết (từ 6 –
7,9), thể chế hỗn hợp (từ 4 – 5,9), chính thể chuyên chế (dưới 4).

Chỉ số ổn định chính trị (Political Stability Index): đo lường cảm nhận về khả
năng chính phủ không ổn định hay bị lật đổ bởi các phương tiện không hợp hiến hay
bạo lực, bao gồm bạo lực có động cơ chính trị và khủng bố. Dữ liệu từ 300 chỉ tiêu
của 30 nguồn khác nhau được tính toán thành 6 chỉ số quản trị cho 6 nhóm chỉ tiêu
sau đó tính trung bình trọng số theo phương pháp UCM (Unobserved Components
Model). Ước tính cho điểm của các quốc gia trên chỉ số tổng hợp, tính theo đơn vị
phân phối chuẩn thông thường, từ khoảng -2,5 đến 2,5.
9


Lạm phát (Inflation): là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa
và dịch vụ theo một khoảng thời gian nhất định và làm cho đồng tiền bị mất giá trị
hơn so với trước. Tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số giảm phát GDP (Chỉ số giảm phát
được tính bằng GDP giá thực tế/GDP giá gốc so sánh). Lạm phát là một hiện tượng
kinh tế tự nhiên xảy ra ở tất cả nền kinh tế dùng tiền mặt để làm trung gian thanh

cơ sở hạ tầng tốt hơn các nước khác, được biểu hiện thông qua các chỉ số tổng sản
phẩm quốc nội, tổng sản phẩm quốc gia, thu nhập bình quân đầu người, mức độ
công nghiệp hóa, số lượng cơ sở hạ tầng và mức sống chung. Nước đang phát triển,
nói chung, là các quốc gia có mức sống thấp, chưa đạt được mức độ công nghiệp
hóa tương xứng với quy mô dân số.
3.2.

Nguồn dữ liệu
Nhóm tác giả sử dụng nguồn dữ liệu từ website chính thức của Ngân hàng Thế

giới, Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Gapminder Foundation từ năm 2012 đến 2017:
• Chỉ số nhận thức tham nhũng CPI: transparency.org/cpi2018/donate/download
data set.
• Quy mô chính phủ: world bank open data/expense (% of GDP).
• Chỉ số dân chủ: gapminder.org/data/documentation/democracy index/download
as Exel file..
• Chỉ số ổn định chính trị: world bank/ databank/ World Development Indicators/
world governance indicators/ country:all/ series/ Political stability(estimate)/
time: 2012-2017.
• Lạm phát: world bank open data/inflation, GDP deflator (annual %).
• Thuế: world bank open data/tax revenue (% of GDP).
• Chỉ số chất lượng các quy định: world bank/ databank/ World Development
Indicators/ world governance indicators/ country:all series/ Regulatory Quality
(estimate)/ time: 2012-2017.
3.3.

Mô tả thống kê và mô tả tương quan biến số
Mô tả thống kê các biến số trong mô hình được thể hiện ở bảng 3.2 dưới đây:
Bảng 3.2. Mô tả thống kê các biến



Độlệch
chuẩn
19,92718
10,5245
1,995078
0,8248598
5,820328
6,134534
0,8899641

Giá
trị
nhỏ nhất
15
3,895282
1,71
-2,034329
-16,90853
0,0434947
-1,834624

Giá trị lớn
nhất
92
60,39658
9,93
1,593475
75,27737
37,75291

Có một số trường hợp lạm phát rất cao như Belarus 2012 (75,28%), Ukraine 2015
(38,88%) và một số trường hợp giảm phát rất lớn như Ả Rập Xê-út (-16,9%) và các
tiểu Vương quốc Ả-rập Thống nhất (-15,45%) năm 2015.
Thuế (tax): Các nước có doanh thu thuế cao là các nước có phúc lợi xã hội
cao, do đó thuế thu nhập cá nhân cao như Đan Mạch, các nước Bắc Âu nói chung.

12


Chỉ số chất lượng các quy định (regu): Quốc gia có quy định quản lý tốt nhất
đó là Singapore, các chính sách, quyết định tốt của chính phủ nước này khiến cho
Singapore luôn duy trì ở vị trí số 1 trong chất lượng quản lý trong nhiều năm liền.
Mô tả tương quan các biến số trong mô hình được thể hiện ở bảng 3.3 dưới đây:

Bảng 3.3. Mô tả tương quan biến số
cpi

size

demo

poli

ifla

tax

cpi

1,0000


-0,2706

-0,2645

1,0000

tax

0,3944

0,7027

0,5081

0,3518

-0,0893

1,0000

regu

0,9091

0,4503

0,7291

0,7052



cpi và poli có hệ số tương quan là 0,7445 thể hiện sự tương quan theo chiều
dương với mức độ cao. Điều này là đúng so với kỳ vọng, các quốc gia có mức độ ổn
định chính trị cao sẽ dẫn đến chỉ số CPI cao, đồng nghĩa với việc có mức độ tham
nhũng thấp. Có thể thấy các quốc gia ổn định thường rất khó có tham nhũng, ngược lại
các quốc gia ở những vùng có chiến sự, bất bình đẳng, xung đột tôn giáo, các chính phủ
được tài trợ, viện trợ bởi phe ủng hộ nên rất có nguy cơ xảy ra tham nhũng.

cpi và ifla có hệ số tương quan là -0,3332 thể hiện sự tương quan theo chiều
âm với mức độ thấp. Điều này là đúng so với kỳ vọng, các quốc gia có tỷ lệ lạm
phát cao sẽ dẫn đến CPI thấp và đồng nghĩa với việc có hiện tượng tham nhũng cao.
Bởi lẽ lạm phát phần nào đó được hiểu là sự chuyển dịch tài nguyên từ những hoạt
động sản xuất hiệu quả sang những hoạt động sản xuất thiếu hiệu quả. Điều này dẫn
đến nguy cơ tham nhũng. Bên cạnh đó, người dân sống trong các quốc gia lạm phát
cao thường có xu hướng kiếm lợi từ những hoạt động phi chính thức. Đây cũng là
điều kiện cho tham nhũng xuất hiện.
cpi và tax có hệ số tương quan là 0,3944 thể hiện sự tương quan theo chiều
dương với mức độ tương đối. Điều này là đúng so với kỳ vọng, các quốc gia có
doanh thu thuế cao sẽ có chỉ số CPI cao, đồng nghĩa với mức tham nhũng thấp. Bởi
lẽ, loại trừ các quốc gia phụ thuộc doanh thu xuất khẩu dầu mỏ, các quốc gia có
nguồn thu chính từ thuế thường sẽ có chất lượng quản lý tốt và giảm nguy cơ tham
nhũng. Thực tế cũng chỉ ra các quốc gia ít phụ thuộc vào dầu mỏ thường có chính
phủ “liêm khiết” hơn.
cpi và regu có hệ số tương quan là 0,9091 thể hiện sự tương quan theo chiều
dương với mức độ rất cao. Điều này là đúng so với kỳ vọng, các quốc gia có chất
lượng quản lý tốt sẽ có CPI cao và đồng nghĩa với việc có mức độ tham nhũng thấp.
Bởi lẽ các quốc gia có mô hình quản lý tốt, các chính sách chi tiêu được kiểm soát,
minh bạch, giảm thiểu tối đa thất thoát từ các dự án công sẽ không tạo điều kiện cho
tham nhũng xảy ra.


(1)
cpi
-0,03579955
0,4722
-0,05203722
0,7646
1,0132388
0,0320
-0,02688652
0,3096
0,17224617
0,0268
12,487708
0,0000
7,3457952
0,0000
40,474266
0,0000
546

(2)
cpi
-0,02635713
0,6148
-0,08837013
0,5992
0,22232359
0,6342
-0,03559647

546

Test: Var(u) = 0
chibar2(01) = 1027,02
Prob > chibar2 = 0,0000
H0:
sigma(i)^2
=
sigma^2 for all i
chi2(91) = 6398,44
Prob>chi2 = 0,0000
P-value = 0,0126
H0:
no first
order
autocorrelation
F(1, 90) = 78,373
Prob > F = 0,0000
Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp từ dữ liệu dưới sự hỗ trợ của STATA

15


Nhóm tác giả thực hiện chạy mô hình tác động ngẫu nhiên RE (kết quả thu
được đã thể hiện trong cột (1) bảng 4.1).
Thực hiện kiểm định xttest0 phương sai sai số thay đổi của RE. Kết quả kiểm
định xttest0 cho thấy Prob > chibar2 = 0,0000 < α = 0,05 với mức ý nghĩa α = 5%.
Khi đó mô hình RE có phương sai sai số thay đổi (c i ≠ 0), như vậy không sử dụng
mô hình hồi quy gộp POLS mà sử dụng mô hình RE hoặc FE.
Để kiểm tra tác động của ci đến mô hình là tác động cố định hay ngẫu nhiên,

Thực hiện kiểm định xtserial trong STATA để kiểm định sự tự tương quan của
mô hình, nhóm tác giả nhận được kết quả như sau:
F(1, 90) = 78,373
Prob > F = 0,0000
Với mức ý nghĩa 5%, từ kết quả trên nhóm tác giả thấy P-value = 0,0000 < 0,05.

Do đó mô hình có sự tự tương quan.
Khắc phục
Để khắc phục các khuyết tật mà mô hình mắc phải, nhóm thực hiện lệnh xtscc
thu được mô hình đã được thể hiện ở cột (3) bảng 4.1. Mô hình cuối cùng mà nhóm
tác giả sử dụng là mô hình ở cột (3) bảng 4.1:
cpii = 46,02 − 0,026size − 0,088demo + 0.222poli − 0,036ifla

+ 0,116tax + 7,056regu + 2,673deve + u i

Thảo luận
Từ kết quả ước lượng trên, nhóm đưa ra một số nhận xét như sau:
khi giá trị các biến độc lập bằng 0, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. P-value
-

=

̂̂

= 46,02 cho biết giá trị CPI trung bình của nước đang phát triển là 46,02

0,000, hệ số β0 có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý nghĩa 5%.
-

̂̂



các quốc gia tồn tại bất bình đẳng, xung đột thường có nguy cơ xảy ra tham nhũng.
P-value = 0,4109, hệ số β3 không có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý nghĩa 5%.
-

̂̂

= - 0,036 cho biết nếu lạm phát tăng 1 đơn vị thì CPI trung bình giảm 0,036

4

điểm trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Điều này là đúng với kỳ vọng. P-value = 0,1388, hệ số β4 không có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý
nghĩa 5%.
-

̂̂

= 0,116 cho biết nếu thuế tăng 1 đơn vị thì CPI trung bình tăng 0,116

5

điểm trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Điều này là đúng với kỳ vọng. P-value = 0,0568, hệ số β0 không có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý
nghĩa 5%.
-

̂̂

= 7,056 cho biết nếu chỉ số chất lượng các quy định tăng 1 đơn vị thì CPI


cho biến phụ thuộc CPI với các biến độc lập: quy mô chính phủ, tính dân chủ, ổn định
chính trị, lạm phát, thuế, chất lượng các quy định và mức độ phát triển của quốc gia.
Sau khi chạy mô hình, nhóm nhận thấy nếu quy mô chính phủ, tính dân chủ

18


hoặc lạm phát giảm trong điều kiện các yếu tố khác không đổi sẽ làm cho chỉ số CPI
tăng lên. Ngược lại, nếu có các biện pháp phù hợp tăng cường ổn định chính trị, tăng
thuế, nâng cao chất lượng các quy định và đất nước càng phát triển thì CPI lại càng cao,
tức công tác phòng chống và ngăn chặn vấn nạn tham nhũng càng hiệu quả.

Tuy nhiên, vì thời gian không cho phép và kiến thức của cả nhóm chưa được
chuyên sâu, nhóm đã gặp phải một số vấn đề khó khăn sau đây: nguồn dữ liệu chưa
thật đầy đủ; phạm vi nghiên cứu còn khá hẹp (mới chỉ nghiên cứu số liệu của 91
quốc gia/ vùng lãnh thổ trong vòng 6 năm từ 2012 - 2017); danh sách các biến đưa
ra còn hạn chế: thực tế còn nhiều biến số khác ảnh hưởng tới chỉ số nhận thức tham
nhũng CPI nhưng do giới hạn về thời gian mà nhóm chưa thể nghiên cứu tiếp nên
mô hình mới chỉ đưa ra được 7 yếu tố cơ bản; quá trình tìm dữ liệu khá mất thời
gian vì phải tìm từ các nguồn khác nhau trong khi nhân lực có hạn, do đó mô hình
còn có hạn chế: nhiều biến có hệ số không có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý
nghĩa 5% (biến quy mô chính phủ, chỉ số dân chủ, chỉ số ổn định chính trị, lạm phát,
thuế), nguyên nhân có thể do mẫu quan sát chưa đủ lớn. Ngoài ra, chỉ số dân chủ tác
động tới chỉ số CPI theo kết quả ước lượng trái với kỳ vọng ban đầu của nhóm.
Sau khi thực hiện mô hình hồi quy và khắc phục các khuyết tật thu được kết
quả cuối cùng, nhóm xin được phép đưa ra một số kiến nghị nhằm thay đổi chỉ số
cảm nhận tham nhũng CPI như sau:
Thứ nhất, chú trọng giáo dục con người: cần phải giáo dục rõ ràng, tuyên
truyền, hướng dẫn cho mọi người hiểu đâu là hành vi tham nhũng và phải có thái độ
lên án, phê phán, tố cáo đối với những người có biểu hiện, thái độ tham nhũng.

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn!

20


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1.

James H. Anderson, Trần Thị Lan Hương, Nguyễn Văn Thắng, Lê Quang

Cảnh, Vũ Cương, 2013, Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và
cán bộ, công chức, viên chức, NXB Chính trị Quốc gia.
2.

Phạm Thị Hồng Đào, Những yếu tố ảnh hưởng và yêu cầu hoàn thiện pháp luật

về phòng, chống tham nhũng ở nước ta, Phòng Thanh tra - Pháp chế - Sở hữu trí tuệ,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ

Chí Minh.
TIẾNG ANH
1.

Alan Doig and Stephen Riley, 1998, Corruption and anti-corruption

strategies: issues and case studies from developing countries.
2.

Cassandra E DiRienzo, Jayoti Das, Kathryn T Cort, John Burbridge Jr, 2007,


Corruption, Economics and Politics, Vol.16, No. 1, March 2004.

21


8.

Masoome Fouladi, Yazdan Goodarzi Farahani, Hedieh Setayesh, 2014,

Studying the Factors Affect Economic Corruption in Oil-Rich Countries.
9.

Navil Mansur Chowdhury, 2007, An Empirical Analysis of Selected Factors

Affecting Corruption in the Asia - Pacific Region, BRAC University.
10.

Ransford Quarmyne Churchill1, William Agbodohu , Peter Arhenful, 2013,

Determining Factors Affecting Corruption: A Cross Country Analysis, International
Journal of Economics, Business and Finance Vol. 1, No. 10, November 2013, pp.
275-285.
WEBSITE
1.

Website của Ngân hàng Thế giới:

(truy cập
ngày 20/09/19).

use "C:\Users\Admin\Desktop\KTL2 TL\DATA DUMMY.dta", clear

2.

encode code,gen(code1)

3.

xtset code1 year

4.

sum cpi size demo poli ifla tax regu

5.

corr cpi size demo poli ifla tax regu

6.

xtreg cpi size demo poli ifla tax regu deve,re

7.

est store mh1

8.

xttest0


xtreg cpi size demo poli ifla tax regu deve,fe

17.

xtcsd,pesaran abs

18.

xtscc cpi size demo poli ifla tax regu deve,fe

19.

est store mh3

20.

est table mh1 mh2 mh3,p stats(N r2)

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status