Các rủi ro chính và biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế - Pdf 65

NỘI DUNG
I. Tổng quan
I.1. Khái niệm rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế
Rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế là những biến cố không mong
đợi, xảy ra khi ngân hàng tiến hành hỗ trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp
XNK. Những rủi ro này có thể dẫn đến những tổn thất về mặt tài sản, làm giảm sút lợi
nhuận thực tế so với dự kiến của ngân hàng hay làm giảm uy tín của ngân hàng đối với
khách hàng hoặc bên thứ ba.
Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế thường có sự tham gia của rất nhiều bên,
cả bên Việt Nam và bên nước ngoài; các bên khó có đầy đủ thông tin về tình hình tài
chính và sự thiện chí của nhau vì vậy nên đây là một trong những hoạt động tiềm ẩn
nhiều rủi ro nhất của ngân hàng.
I.2. Nguyên nhân
-

Khoảng cách địa lý giữa các bên tham gia hợp đồng xa hơn (trừ trường hợp
mua bán với khu chế xuất) làm hạn chế sự hiểu biết lẫn nhau, hiểu biết về thị
trường đồng thời nảy sinh rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa.

-

Luật điều chỉnh thương mại quốc tế nói chung rất đa dạng, phức tạp có thể là
các điều ước quốc tế, luật nước ngoài, tập quán quốc tế thậm chí là các án lệ.
Phán quyết của tòa án, trọng tài trong nước khó thực thi ở nước ngoài và dù có
thực thi được thì cũng với chi phí rất cao.

-

Tập quán mua bán, kinh doanh của các quốc gia, các vùng lãnh thổ rất khác
nhau đòi hỏi nhà xuất khẩu, nhập khẩu phải am hiểu về nghệ thuật đàm phán,
ký kết hợp đồng.

- Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp: Hoạt động thương mại quốc tế hết sức
đa dạng và phức tạp do đó khi tiến hành tài trợ thương mại quốc tế, các ngân
hàng thương mại cũng phải đối phó với các rủi ro có nguyên nhân, hình thức
và hậu quả rất đa dạng, phức tạp. Do vậy, khi phòng ngừa và hạn chế rủi ro,
các ngân hàng cần phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, phải xuất phát từ
nguyên nhân, bản chất, hậu quả của rủi ro để có những biện pháp xử lý thích
hợp.

- Rủi ro mang tính tất yếu khách quan, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tài
trợ của ngân hàng: Tình trạng thông tin bất cân xứng khiến cho ngân hàng
không thể nắm bắt và lường trước được các rủi ro một cách toàn diện và đầy
đủ, điều này làm cho hoạt động tài trợ luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro.


II. Các rủi ro chính
II.1. Rủi ro vĩ mô
Rủi ro vĩ mô có thể được định nghĩa là những yếu tố bên ngoài có xu hướng tác
động xấu đến hoạt động thương mại quốc tế của khách hàng. Một số vấn đề thường
gặp trong tài trợ thương mại quốc tế là do thiếu đánh giá cao rủi ro quốc gia, rủi ro
ngoại hối, rủi ro ngành, rủi ro ngân hàng và sự gian lận.
II.1.1. Rủi ro quốc gia
Các yếu tố liên quan đến loại rủi ro này thường là sự ổn định về chính trị và
kinh tế của một quốc gia, kiểm soát ngoại hối (nếu có), và chính sách bảo hộ ngành
công nghiệp trong nước trong thời gian ngắn. Tất cả các yếu tố này sẽ quyết định liệu
quốc gia có thể và sẽ thực hiện đúng các cam kết thanh toán của họ đúng hạn hay
không. Ví dụ, từ nhiều quan điểm của các quốc gia trên thế giới, Sri Lanka được coi là
ít rủi ro trong ngắn hạn, (nghĩa là, rủi ro trong việc xuất khẩu tới hai năm sẽ được xem
xét, với điều kiện nhà nhập khẩu Sri Lanka có thể phát hành tín dụng chứng từ, tốt
nhất là được xác nhận bởi một ngân hàng có uy tín cao). Điều này là do Sri Lanka đã
tự do hóa kiểm soát hối đoái, không có lịch sử mắc lỗi trong các cam kết nợ nước

tiếp nhận một bộ chứng từ sai biệt nhưng không phát hiện ra mà vẫn tiến hành thanh
toán cho bên xuất khẩu thì đây chính là một sai sót lớn liên quan đến nghiệp vụ. Trong
trường hợp này ngân hàng không những sẽ không nhận được thanh toán từ bên nhập
khẩu mà còn gây mất lòng tin với các khách hàng, ảnh hưởng lớn tới hoạt động chung
của ngân hàng.
Tại Việt Nam, do đặc thù, các giao dịch thường phát sinh vào buổi chiều, dồn
hồ sơ lên Sở Giao dịch tạo sức ép phải xử lý nhanh đối với thanh toán viên và kiểm
soát viên. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới các rủi ro, sai sót trong quá trình tác
nghiệp.
II.1.4. Rủi ro đạo đức
Để bao quát các khía cạnh khác nhau của hàng hải và thực sự là bất kỳ loại
gian lận thương mại nào khác đòi hỏi phải có khối lượng giấy tờ. Có nhiều loại gian
lận như gian lận tài liệu, lừa đảo đối tác, lừa đảo bảo hiểm, trộm cắp hàng hóa, đánh


cắp và vi phạm bản quyền. Thật không may, có một số quốc gia bị từ chối vì chứa
chấp những kẻ lừa đảo. Nguyên tắc vàng là "nếu thỏa thuận có vẻ quá tốt là sự thật thì
có lẽ là như vậy" và người ta nên thận trọng khi xử lý các giao dịch có giá trị lớn hơn
nhiều so với định mức. Tín dụng tài liệu giả mạo luôn được lưu hành và may mắn
thay, một nhân viên dịch vụ thương mại có kinh nghiệm có thể phát hiện tín dụng giả
thường xuyên hơn không.
Nếu hàng hóa được phát hành theo cam kết của nhà nhập khẩu để thanh toán trong
tương lai - thường là bằng cách chấp nhận hối phiếu - thì ngân hàng xuất khẩu /tài
chính mất quyền kiểm soát đối với hàng hóa và phương thức phát hành này được gọi
là D / A (chứng từ chống chấp nhận) sẽ rủi ro hơn
II.2. Rủi ro vi mô
Rủi ro vi mô gặp phải ở cấp độ khách hàng cá nhân và bị giới hạn bởi rủi ro tài
chính (tín dụng) và rủi ro hoạt động liên quan đến hoạt động kinh doanh của họ.
II.2.1. Rủi ro không thanh toán (Rủi ro mất vốn)
Rủi ro này xảy ra khi khách hàng hoặc bên thứ ba không thanh toán hoặc chấp nhận

Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được
phép và không đủ tiêu chuẩn gia hạn nợ. Rủi ro nợ quá hạn xảy ra khi khách hàng cố
tình trì hoãn thanh toán hoặc tạm thời mất khả năng thanh toán cho ngân hàng khi đến
hạn. Đây là loại rủi ro phổ biến trong hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tài
trợ thương mại quốc tế nói riêng. Ví dụ, đối với hình thức cho vay tài trợ xuất khẩu,
ngân hàng cho khách hàng vay để mua nguyên liệu, vật tư sản xuất hàng xuất khẩu
nhưng sau khi sản xuất xong, bên xuất khẩu không tìm được người mua hoặc người
mua từ chối nhận hàng. Điều này sẽ khiến cho người xuất khẩu không thể thanh toán
tiền vay đúng hạn và làm phát sinh nợ quá hạn đối với ngân hàng. Nếu không thể thu
hồi được khoản nợ quá hạn này, thì ngân hàng có thể sẽ đứng trước nguy cơ mất vốn.
II.2.3. Rủi ro liên quan đến tài sản bảo đảm:
Khi tiếp nhận tài sản bảo đảm, ngân hàng luôn đứng trước nguy cơ rủi ro giá trị
của tài sản cầm cố, thế chấp khi tiến hành phát mại không đủ bù đắp thiệt hại hoặc do
biến động của thị trường, những tài sản này bị mất giá so với khi ngân hàng nhận bảo
đảm. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, khi ngân
hàng tiến hành phát mại tài sản cầm cố, thế chấp thì gặp rắc rối do thiếu những giấy tờ
chứng nhận quyền sở hữu những tài sản này.
II.3. Rủi ro hàng hóa
Rủi ro liên quan đến sản phẩm là những rủi ro mà người bán tự động phải chấp
nhận như một phần không thể thiếu trong cam kết của họ, ví dụ, bảo hành hiệu suất


được chỉ định, bảo trì theo thỏa thuận hoặc nghĩa vụ dịch vụ. Người mua phải xem xét
các yếu tố bên ngoài như sơ suất trong quá trình sản xuất hoặc thời tiết khắc nghiệt
trong quá trình vận chuyển có thể ảnh hưởng đến sản phẩm của họ như thế nào.

Những vấn đề này cũng có thể dẫn đến tranh chấp giữa các bên, ngay cả sau
khi hợp đồng được ký kết. Điều quan trọng đối với người bán là hợp đồng được diễn
đạt chính xác, sao cho mọi thay đổi có thể ảnh hưởng đến sản phẩm theo mặc định sẽ
bao gồm bồi thường hoặc thay đổi tương ứng trong các cam kết của người bán

hàng.
III.1.2. Xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn và có hiệu quả:
Chiến lược khách hàng phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và hợp lý.
Ngân hàng cần dựa vào mức độ tín nhiệm của từng nhóm khách hàng để đưa ra những
chính sách thích hợp nhằm mở rộng hay hạn chế tài trợ đối với từng nhóm khách hàng
đó. Đối với hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, công việc xây dựng chiến lược khách
hàng là tương đối khó khăn vì ngân hàng khó có thể nắm bắt đầy đủ thông tin từ phía
khách hàng là doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, ngân hàng cần thiết lập một mạng
lưới thông tin với các ngân hàng nước ngoài, những ngân hàng đã từng có quan hệ tín
dụng hay tài trợ với khách hàng và các tổ chức của Việt Nam đặt tại nước ngoài để có
được các thông tin chính xác từ đó đưa ra những quyết định tài trợ đúng đắn.
Những doanh nghiệp có độ tín nhiệm cao cần phải thỏa mãn những yêu cầu sau:

- Doanh nghiệp có tình hình sản xuất kinh doanh tốt, mặt hàng, sản phẩm kinh
doanh được thị trường chấp nhận và có uy tín cao, kinh doanh có lãi.

- Doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng thanh toán,
có uy tín trong thanh toán với khách hàng và ngân hàng.

- Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật và các thể lệ của Ngân hàng, thường
xuyên có quan hệ với ngân hàng về tiền tệ, tài trợ thương mại quốc tế, thanh
toán, có lịch sử tín dụng tốt với ngân hàng.

- Trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng của mình, ngân hàng
phân loại khách hàng của mình, từ đó đưa ra chiến lược thích hợp với từng loại
từng loại khách hàng.


III.1.3. Tăng cường công tác thông tin phòng ngừa rủi ro:
Thông tin là điều kiện cơ bản nhất khi tiến hành thẩm định, quyết định tài trợ.



hưởng lớn đến chất lượng tài trợ thương mại quốc tế, bởi hơn ai hết, cán bộ tài trợ
thương mại quốc tế là người trực tiếp quan hệ với khách hàng. Vì vậy, đào tạo phẩm
chất, phát triển năng lực và nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ là vô cùng cần
thiết. Để việc đào tạo cán bộ có hiệu quả, Ngân hàng cần thực hiện giải quyết những
vấn đề sau:

- Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, đào tạo và nâng cao trình độ của cán
bộ, đảm bảo ngày càng tăng cường kiến thức về kinh tế thị trường, nghiệp vụ
Ngân hàng hiện đại đặc biệt là những kiến thức chuyên môn về tài trợ thương
mại quốc tế.

- Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng tác phong làm
việc cho cán bộ để chống lại các rủi ro đạo đức trong hoạt động tài trợ thương
mại quốc tế.

- Có chính sách sử dụng cán bộ hợp lý, từng bước tiêu chuẩn hoá cán bộ, thực
hiện chuyên môn hoá trong việc sử dụng cán bộ.

- Xây dựng chế độ khen thưởng, thực hiện khuyến khích về cả vật chất lẫn tinh
thần để cán bộ hết lòng với công việc.

- Cán bộ tài trợ thương mại quốc tế phải tạo được mối quan hệ phối hợp, hỗ trợ
và đồng trách nhiệm với cấp uỷ và chính quyền địa phương trên địa bàn hoạt
động, có như vậy việc tài trợ và xử lý các hậu quả khi rủi ro xảy ra mới thuận
tiện, nhanh chóng và hiệu quả.
III.2. Các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại
quốc tế
III.2.1. Tăng cường chất lượng công tác xử lý rủi ro:

tài chính của ngân hàng mạnh. Ngân hàng có thể sử dụng các biện pháp sau để thanh
lý các món nợ khó đòi:

- Ngân hàng đề nghị khách hàng cùng hợp tác với mình trong việc bán tài sản
thế chấp.

- Ngân hàng tiến hành bán tài sản xiết nợ theo giá thị trường.
- Ngân hàng tổ chức bán đấu giá tài sản xiết nợ hoặc uỷ quyền cho Trung tâm
bán đấu giá thực hiện.

- Ngân hàng có thể tiếp tục duy trì cho thuê tài sản bảo đảm.
- Ngân hàng có thể yêu cầu người bảo lãnh trả nợ thay khách hàng vay vốn.
- Nếu bảo đảm tài trợ thương mại quốc tế thực hiện bằng chuyển nhượng nợ thì
Ngân hàng gửi thông báo chuyển nhượng nợ cho con nợ thứ ba yêu cầu họ trả
nợ cho Ngân hàng khi khoản tài trợ bị rủi ro.
Nếu các biện pháp trên không mang lại kết quả thì Ngân hàng phải:


- Đề nghị toà án cho phép Ngân hàng sử dụng tài sản của người vay để gán nợ.
- Đề nghị toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp đã vay vốn Ngân hàng, để thanh
lý tài sản của doanh nghiệp nhằm thu nợ.

- Đề nghị cơ quan luật pháp điều tra làm rõ và đưa ra truy tố đối với những
khách hàng vay vốn Ngân hàng có hành vi lừa đảo làm ăn gian lận, phi pháp.
III.2.2. Sử dụng các công cụ bảo hiểm và bảo đảm
Rủi ro là những biến cố không thể lường trước được do vậy việc sử dụng các
công cụ bảo đảm và bảo hiểm để hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra là điều cực kỳ quan
trọng. Một số giải pháp cần được thực hiện là:
Yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm đối với hàng hóa. Trên thực tế, nhờ áp dụng
loại bảo hiểm này mà những tổn thất do những nhân tố ghi trong điều kiện bảo hiểm

trong thủ tục hành chính làm ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.
Thành lập Công ty quản lý tài sản thế chấp của Chính phủ: Việc làm này nhằm
xử lý được tài sản thế chấp còn tồn đọng, qua đó giữ sự ổn định kinh tế xã hội, phòng
chống ảnh hưởng của khủng hoảng.
Thành lập các tổ chức xếp hạng có uy tín để phân loại doanh nghiệp theo mức
độ tín nhiệm, giúp đỡ các ngân hàng trong khâu thẩm định.

- Đối với ngành công an: Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa ngành công an
với các Ngân hàng trong việc trao đổi thông tin về tình hình tội phạm và các
thủ đoạn lừa đảo, tham ô, cố ý làm trái v.v… nhằm giúp ngân hàng chủ động
có biện pháp phối hợp ngăn chặn.

- Đối với cơ quan công chứng: Nhà nước cần xem xét lại cách thức hoạt động
của các cơ quan công chứng trong việc xác định tài sản thế chấp vay vốn Ngân
hàng, không thể để cơ quan công chứng đứng ngoài cuộc không gánh chịu
trách nhiệm do việc công chứng của họ gây ra hậu quả cho ngân hàng.

- Đối với toà án: Tòa án cần đẩy nhanh tiến độ xét xử các vụ việc liên quan đến
hoạt động ngân hàng, tránh kéo dài gây đọng vốn cho ngân hàng.
III.3.2. Những kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước:


Nâng cao chất lượng của trung tâm thông tín dụng (CIC):

Hiện nay, trung tâm thông tin tín dụng (CIC) trực thuộc Ngân hàng nhà nước là
tổ chức cung cấp thông tin tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp duy nhất tại Việt Nam.
Trong thời gian qua, hoạt động của CIC đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng


khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời cho hệ thống ngân hàng về tình hình tài

nhất là với cảnh sát kinh tế, cảnh sát điều tra nhằm xử lý nghiêm minh những sai
phạm đã phát hiện qua thanh tra một cách có hiệu quả, nêu gương cho những người
khác.


Đánh giá chính xác thực trạng nợ đọng tại các ngân hàng thương mại:

Về vấn đề xử lý nợ quá hạn, nợ khó đòi thì Ngân hàng Nhà nước phải có đánh


giá chính xác nợ đọng tại các ngân hàng Thương mại. Bên cạnh đó phải xem lại số nợ
quá hạn đã cho khoanh hoặc tạm khoanh để xử lý và tạo nguồn để xoá số nợ này nhằm
từng bước lành mạnh hoá hoạt động của các ngân hàng thương mại trong tình hình
hiện nay.

• Tăng cường công tác đánh giá mức độ an toàn đối với hệ thống ngân hàng theo
các chỉ tiêu mà thế giới đang sử dụng như hệ thống đánh giá CAMELS (C:
Capital, A: Assets, M: Management, E: Earnings, L: Liquidity, S: Sensitivity)

• Tiếp tục phát huy vai trò của hiệp hội ngân hàng nhằm bảo vệ lợi ích và công
bằng giữa các thành viên trong việc đối thoại với chính phủ, trong vận động
hành lang ở các cuộc đàm phán quốc tế và trong việc chia sẽ thông tin giữa các
thành viên.
III.4. Những kiến nghị với các Ngân hàng:
Yêu cầu các cán bộ chấp hành một cách nghiêm túc các thể lệ, chế độ tài trợ
thương mại hiện hành: Biện pháp quan trọng nhất để phòng tránh rủi ro trong hoạt
động kinh doanh tài trợ thương mại là mọi cán bộ tài trợ thương mại và cán bộ có liên
quan phải thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các quy chế hiện hành của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về tín dụng nói chung, các loại
hình tài trợ thương mại nói riêng và đảm bảo an toàn về tài trợ thương mại. Mọi khoản

đồng tài trợ thương mại, ngân hàng cần ngay lập tức đưa ra các biện pháp ngăn
chặn rủi ro, tránh tình trạng khi rủi ro xảy ra rồi mới tìm cách khắc phục.

- Hoàn thiện mạng lưới thông tin khách hàng: Khách hàng của một ngân hàng
này, đồng thời cũng có thể là khách hàng của nhiều ngân hàng khác. Do vậy để
hiểu rõ hơn về khách hàng các ngân hàng thương mại cần có các bộ phận
chuyên trách nghiên cứu về rủi ro và phải thường xuyên phối hợp, liên lạc chặt
chẽ với các trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, qua đó sẽ
sớm phát hiện những khách hàng có dấu hiệu lừa đảo và sẽ đề ra các biện pháp
ngăn chặn kịp thời, góp phần hạn chế rủi ro trong kinh doanh tài trợ thương
mại.

- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan pháp luật: Các ngân hàng phải thường xuyên
phối hợp với các cơ quan pháp luật để phòng ngừa các hành vi vi phạm các quy
định quản lý, những hành vi phạm tội trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Việc
phối hợp đó phải tập trung vào một số nội dung chính sau:
+ Trao đổi thông tin để nhận biết các khách hàng có dấu hiệu lừa đảo
hoặc từng có tiền sử lừa đảo.


+ Trao đổi các biện pháp nghiệp vụ phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực
tài chính ngân hàng.
+ Phối hợp trong việc xử lý tài sản xiết nợ, tài sản thế chấp sau khi rủi ro
xảy ra.
+ Phối hợp trong việc thực hiện các biện pháp thu nợ với phương châm:
không hình sự hoá các quan hệ tài trợ thương mại quốc tế khi còn có khả năng
thu hồi vốn, phối hợp các biện pháp tận thu và biện pháp xử lý phù hợp khác
nhằm bảo vệ quyền lợi của ngân hàng và quyền lợi của cán bộ ngân hàng.
Nếu ngân hàng đã thu thập đầy đủ các căn cứ pháp lý thì cần có thái độ rõ
ràng và kiên quyết đối với những khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ

khách hàng đúng đắn, tăng cường công tác kiểm tra và kiểm soát sau tài trợ,…,trên cơ
sở định hướng của ngân hàng về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế trong thời gian
tới, những biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế những rủi ro trong hoạt động tài
trợ là rất cần thiết để nâng cao chất lượng và phát triển hoạt động tài trợ thương mại
quốc tế nhằm đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho các ngân hàng thương mại Việt Nam,
giúp phát triển và nắm vững thị trường trong nước trong bối cảnh hội nhập.
Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu tương đối rộng nên đề tài không tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế; kính mong thầy cô góp ý để bài luận được hoàn chỉnh hơn.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status