LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thị Hồng Hạnh. Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá hiệu quả
kinh tế và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa
đa mục tiêu- Áp dụng vào dự án hồ chứa nước Đại Lải- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh
Vĩnh Phúc” là công trình nghiên cứu của riêng tôi các số liệu trong luận văn được
sử dụng trung thực. Kết quả nghiên cứu này chưa từng được trình bày ở bất kỳ các
công trình nào.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thi Hồng Hạnh
i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian từ tháng 07/2016 đến tháng 2/2017, luận văn thạc sĩ với đề tài
"Đánh giá hiệu quả kinh tế và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh
tế của dự án hồ chứa đa mục tiêu- Áp dụng vào dự án hồ chứa nước Đại LảiThị xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc" đã được tác giả hoàn thành. Có được bản
luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến
Trường Đại học Thủy lợi, Khoa Công trình, Bộ môn Quản lý xây dựng và các bộ
môn khác thuộc Trường Đại học Thủy lợi; đặc biệt là Thầy giáo - GS. TS Vũ Thanh
Te đã trực tiếp hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, các Thầy, Cô giáo - Các nhà khoa học đã
trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức chuyên ngành quản lý xây dựng và
kinh tế thủy lợi cho bản thân tác giả suốt khóa học.
Xin chân thành cảm ơn các đơn vị: Công ty TNHH MTV Thủy lợi Phúc Yên, Ban quản
lý khu du lịch Đại Lải, và các đơn vị có liên quan đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi cho tác giả trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu và thực hiện luận văn
này.
1.3.2. Phân loại hiệu quả kinh tế ................................................................................... 14
1.3.3. Hệ thống chỉ tiêu và hiệu quả của dự án hồ chứa đa mục tiêu ............................ 16
1.4. Những nhân tố tác động đến hiệu quả kinh tế của hồ chứa đa mục tiêu ................ 17
1.4.1. Nhóm nhân tố trong giai đoạn quy hoạch ........................................................... 17
1.4.2. Nhóm nhân tố trong giai đoạn đầu tư xây dựng .................................................. 18
1.4.3. Nhóm nhân tố trong giai đoạn quản lý vận hành ................................................ 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .............................................................................................. 20
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
KINH TẾ CỦA DỰ ÁN HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU .............................................. 21
2.1. Đặc điểm vận hành của dự án hồ chứa đa mục tiêu ............................................... 21
2.2. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới trong quản lý vận hành, khai thác hồ
chứa đa mục tiêu ............................................................................................................ 21
iii
2.3. Cơ sở lý thuyết trong tính toán hiệu quả kinh tế dự án .......................................... 23
2.3.1 Phương pháp phân tích chi phí- lợi ích ................................................................ 23
2.3.2. Phương pháp phân tích độ nhạy .......................................................................... 30
2.3.3. Phương pháp dùng nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng mặt của dự án thủy
lợi ................................................................................................................................... 31
2.4. Xây dựng các kịch bản để đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục
tiêu ................................................................................................................................. 34
2.4.1. Kịch bản xác định thu nhập của dự án hồ chứa đa mục tiêu ............................... 35
2.4.2. Kịch bản xác định chi phí của dự án hồ chứa đa mục tiêu ................................. 40
KÊT LUẬN CHƯƠNG 2 .............................................................................................. 41
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH
TẾ CỦA DỰ ÁN HỒ CHỨA ĐA MỤC TIÊU.......................................................... 42
3.1. Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi vĩnh phúc ................................................ 42
3.2. Giới thiệu chung về hồ chứa nước Đại Lải – Thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc 43
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Hồ Đại Lải ..................................................................................................... 45
Hình 3.2: Tràn xả lũ hồ Đại Lải .................................................................................... 48
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Các thông số kỹ thuật Hồ Đại Lải................................................................. 46
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp vốn đầu tư của dự án (K) ...................................................... 51
Bảng 3.3: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp khi không có dự án ................ 53
Bảng 3.4: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp sau khi có dự án..................... 53
Bảng 3.5: Giá trị thu nhập thuần túy tăng thêm hàng năm từ sản xuất nông nghiệp theo
thiết kế ........................................................................................................................... 54
Bảng 3.6 : Bảng tính NPV và B/C theo thiết kế (r = 7%/năm) ..................................... 58
Bảng 3.7: Giá trị thu nhập thuần túy tăng thêm hàng năm từ sản xuất nông nghiệp theo
hiện trạng ....................................................................................................................... 61
Bảng 3.8: Thu nhập thuần túy nuôi trồng thủy sản tính cho 1ha mặt nước hồ ....................... 62
Bảng 3.9: Tổng hợp thu nhập thuần túy thực tế hàng năm của dự án ........................... 63
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH
Biến đổi khí hậu
Kinh tế - xã hội
TKKT-DT
Thiết kế kỹ thuật- Dự toán
LHQ
Liên hợp quốc
NPV
Giá trị thu nhập ròng hiện tại
TNN
Tài nguyên nước
viii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hồ chứa thủy lợi là công trình được xây dựng với mục tiêu chính là cung cấp nước cho
sản xuất nông nghiệp và tham gia điều tiết lũ cho vùng hạ du, tạo nguồn nước cho sinh
hoạt và kết hợp phát điện. Hồ chứa nước đa mục tiêu có tầm quan trọng đặc biệt rất
lớn đối với công tác phòng chống lũ, lụt, tưới tiêu, phát điện, giao thông thủy, thủy
sản, du lịch và nhiệm vụ cung cấp nhu cầu dùng nước khác. Về mùa mưa bão, hồ có
vai trò cắt lũ, chậm lũ. Về mùa kiệt hồ cung cấp nước đáp ứng yêu cầu tưới, cấp nước
công nghiệp, sinh hoạt, giao thông thủy, đẩy mặn, giữ gìn môi trường sinh thái. Có thể
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả
kinh tế của loại hình công trình hồ chứa nước đa mục tiêu ở nước ta, từ kết quả nghiên
cứu sẽ áp dụng đánh giá cho một công trình cụ thể và đề xuất những giải pháp nâng
cao hiệu quả kinh tế của loại hình công trình này.
3. Đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dự án hồ chứa đa mục tiêu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Các phương pháp và các chỉ tiêu dùng trong phân tích hiệu
quả kinh tế của dự án hồ chứa đa mục tiêu.
- Phạm vi về không gian và thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, thu thập số liệu của
các dự án hồ chứa đa mục tiêu ở vùng trung du, miền núi phía Bắc mà trọng tâm là hồ
Đại Lải- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua và đề xuất một số giải
pháp cho giai đoạn từ nay đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nội dung và giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài, tác giả đã
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây trong luận văn:
- Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu.
- Phương pháp khảo sát thực tế.
2
- Phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế.
- Phương pháp kế thừa và một số phương pháp kết hợp khác.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài lựa chọn phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế phù hợp, có căn cứ
khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu trong bước lập dự án, cũng như đánh giá hậu dự
1.1.3. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
- Khi đầu tư xây dựng công trình, Chủ đầu tư (CĐT) xây dựng công trình phải lập báo
cáo đầu tư, dự án đầu tư ( hoặc lập báo cáo kinh tế- kỹ thuật) để xem xét, đánh giá
hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án.
- “Dự án” là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc
về yêu cầu và nguồn vật chất đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt
được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ.
4
- Theo Luật Xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13 [10] thì dự án đầu tư xây dựng công
trình là tập hợp các đề xuất có lên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng
hoặc cải tạo những công trình nhằm mục đích phát triển duy trì, nâng cao chất lượng
công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định. Hồ sơ dự án đầu tư
xây dựng gồm 02 phần: phần tuyết minh và phần thiết kế cơ sở.
1.1.4. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình
Dự án xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế trong đó bao gồm các tài liệu
pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công được giải
quyết. Các dự án đầu tư xây dựng có các đặc điểm sau:
- Dự án có tính thay đổi: Dự án xây dựng không tồn tại một các ổn định cứng, hàng
loạt phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực hiện do nhiều nguyên
nhân, chẳng hạn như các tác nhân từ bên trong như nguồn nhân lực, tài chính các hoạt
động sản xuất và bên ngoài như môi trường chính trị , kinh tế công nghệ, kỹ thuật
thậm chí cả điều kiện kinh tế xã hội.
- Dự án có tính duy nhất: Mỗi dự án đều có tính đặc trưng riêng biệt lại được thực
hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và
môi trường luôn thay đổi.
- Dự án có hạn chế về thời gian và quy mô: Mỗi dự án đều có điểm khởi đầu và kết
thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn liên quan. Có thể ngày hoàn thành được ấn
Đối với DA quan trọng quốc gia
Chuẩn bị đầu tư
Thực hiện đầu tư
Thi công
Nghiệm
thu
đưa dự
án vào
hoạt
động
KTdự án
Sơ đồ 1.1: Quy trình thực hiện dự án
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Đối với các dự án quan trong quốc gia theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc
hội thì chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội
thông qua chủ trương và cho phép đầu tư. Đối với dự án nhóm A không có trong quy
hoạch ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư phải báo cáo Bộ quản
lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính
phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập dự án đầu tư xây dựng. Vị trí, quy mô
xây dựng dự án phải phù hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê
duyệt, nếu chưa có trong quy hoạch xây dựng thì phải được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
chấp thuận.
- Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Sau khi báo cáo đầu tư được phê duyệt DAĐT được chuyển sang giai đoạn tiếp theo -
phê duyệt TKKT- TDT, CĐT tổ chức đấu thầu xây dựng nhằm lựa chọn nhà thầu có
đủ điều kiện năng lực để cung cấp các sản phẩm dịch vụ xây dựng phù hợp, có giá dự
7
thầu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của CĐT và các mục tiêu của dự án.
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thi công, CĐT tổ chức đàm phán ký kết hợp đồng thi
công xây dựng với nhà thầu và tổ chức quản lý thi công xây dựng dự án. Nội dung
quản lý thi công xây dựng bao gồm quản lý chất lượng xây dựng; quản lý tiến độ xây
dựng; quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình; quản lý an toàn lao động trên
công trường xây dựng; quản lý môi trường xây dựng.
- Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng:
Sau khi dự án được thi công xong theo đúng thiết kế đã được phê duyệt, đảm bảo các
yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật, CĐT thực hiện công tác bàn giao dự án cho
cơ quan quản lý, sử dụng thực hiện khai thác, vận hành với hiệu quả cao nhất.
Như vậy các giai đoạn của quá trình đầu tư có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi giai
đoạn có tầm quan trọng riêng của nó cho nên không đánh giá quá cao hoặc xem nhẹ
một giai đoạn nào và kết quả của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn sau. Trong quá
trình quản lý đầu tư xây dựng CĐT luôn đóng vai trò quan trọng và quyết định đến
việc nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng.
Tóm lại, trong giai đoạn này CĐT chịu trách nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng xây
dựng theo tiến độ và bàn giao mặt bằng xây dựng cho nhà thầu xây dựng; trình duyệt
hồ sơ TKKT-DT; tổ chức đấu thầu; đàm phán ký kết hợp đồng, quản lý chất lượng kỹ
thuật công trình trong suốt quá trình thi công và chịu trách nhiệm toàn bộ các công
việc đã thực hiện trong quá trình triển khai dự án.
1.2. Tổng quan về hồ chứa đa mục tiêu
1.2.1. Giới thiệu tổng quan về dự án hồ chứa đa mục tiêu
Hồ chứa, còn gọi là kho nước nhân tạo, hồ chứa nhân tạo, là những thủy vực chứa
nước tương đối lớn, hình thành một cách nhân tạo hoặc bán nhân tạo, có chế độ nước
Công trình hồ chứa đa mục tiêu có ba vấn đề chính cần quan tâm giải quyết mà ở công
trình được thiết kế cho một mục tiêu duy nhất không có, đó là:
- Vấn đề giải quyết các xung đột và mâu thuẫn giữa các nhiệm vụ (các ngành dùng
nước) trong bài toán cân bằng nước.
- Vấn đề phân bổ vốn đầu tư cho từng nhiệm vụ.
- Vấn đề xác định thu nhập và lợi ích của từng nhiệm vụ.
9
Nói chung trong lĩnh vực thủy lợi ngày nay, hầu hết các hệ thống thủy lợi, đặc biệt là
các hệ thống có hồ chứa điều tiết dòng chảy đều thuộc loại hệ thống thủy lợi đa mục
tiêu, cùng một lúc phục vụ nhiều ngành kinh tế quốc dân.
1.2.2. Vai trò, hiệu quả của công trình hồ chứa đa mục tiêu
Hồ chứa đa mục tiêu là một biện pháp công trình nhằm kiểm soát và điều tiết lượng
nước được sử dụng cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực một cách hợp lý, mang lại hiệu
quả cao; có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực dự án. Hồ
chứa đa mục tiêu được xây dựng nhằm các mục tiêu sau:
- Cấp nước nông nghiệp (Agricultural Water Supply)
- Hệ thống thủy lợi cung cấp nước sinh hoạt và công nghiệp (Domestic and Industry
water supply)
- Nuôi trồng thuỷ sản và thủy cầm được CTTL cấp, thoát nước( Water suplly for
Aquaculture )
- Hệ thống thủy lợi kết hợp cấp nước cho chăn nuôi (Integrated Irrigated Crop–
Livestock Systems)
- Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho tiểu công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn
(Water suplly for Rural enterprises )
- Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho thủy điện và giao thông thủy
(Hydropower generation and navigation)
- Các công trình thủy lợi phòng chống úng ngập, lũ lụt
Các công trình hồ chứa còn góp phần phát triển nguồn điện: Lợi dụng thủy năng để
phát triển ngành điện - một ngành có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế
của các ngành nghề khác.
Bên cạnh đó các công trình hồ chứa đã góp phần làm tăng độ ẩm, bổ sung nguồn nước
ngầm, điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước, bảo
tồn đa dạng sinh học, phòng chống cháy rừng, cải thiện điều kiện vi khí hậu,…
11
Tuy nhiên, việc xây dựng và hoạt động của các hồ chứa đa mục tiêu cũng có thể gây ra
một số tác động tiêu cực như: Phải thực hiện di dân và tái định cư để có diện tích xây
dựng công trình và làm mất đi một số phần trăm diện tích đất canh tác và đất rừng, đa
dạng sinh học bị thay đổi, tập quán canh tác thay đổi,... Các tác động tiêu cực thường
là nhỏ, có thể giảm thiểu đến mức tối đa nhờ công tác quy hoạch, thiết kế, xây dựng và
quản lý khai thác hợp lý và tối ưu, do vậy nó hầu như không đáng kể so với các lợi ích
thu được từ hiệu quả phục vụ của các hồ chứa.
1.2.3. Tình hình đầu tư xây dựng các dự án hồ chứa thủy lợi
Theo số liệu được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công bố tại Hội thảo “Đảm
bảo an toàn hồ đập - Thực trạng, thách thức và giải pháp”, ngày 10/07/2014 thì hiện
nay cả nước ta có 6.648 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ khoảng 11 tỷ m3, trong
đó, có 560 hồ chứa lớn (có dung tích trữ >3,0 triệu m3 hoặc đập cao >15m); 1.752 hồ
chứa có dung tích từ 0,2 triệu m3 đến 3,0 triệu m3, còn lại 4.896 hồ chứa nhỏ có dung
tích dưới 0,2 triệu m3.
Các tỉnh đã xây dựng nhiều hồ chứa là: Hoà Bình 521 hồ, Bắc Giang 461 hồ, Tuyên
Quang 503 hồ, Vĩnh Phúc 209 hồ, Phú Thọ 124 hồ, Thanh Hoá 618 hồ, Nghệ An 625
hồ, Hà Tĩnh 345 hồ, Bình Định 161 hồ, Đăk Lắk 439 hồ,…
Với trên 500 hồ đập lớn có dung tích trên 1 triệu m3 nước hoặc có đập cao trên 10 m
hoặc công trình xả lũ trên 2.000 m3/s (phân loại theo tiêu chuẩn của).
Theo số lượng này Việt Nam đứng thứ 15 trên thế giới về những thành tựu đã đạt được
Bình), Đá Mài, Tân Kim (Quảng Trị), Krông Buk Hạ, IaSup Thượng, Krông Pach
Thượng (Đắk Lắk),…
1.2.3.2. Về công tác quản lý đầu tư xây dựng các hồ chứa thủy lợi
Những loại hồ chứa nước vừa và lớn do Bộ Thủy lợi trước đây và nay là Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý việc đầu tư xây dựng đều giao cho các Ban
quản lý đầu tư và xây dựng chuyên ngành thủy lợi thay mặt Bộ làm nhiệm vụ Chủ đầu
tư xây dựng. Đây là những cơ quan có năng lực và kinh nghiệm quản lý xây dựng các
hồ chứa nước nhiều năm. Các cơ quan tham mưu của Bộ là các Cục, Vụ chuyên ngành
có đủ năng lực chuyên môn giúp Bộ theo dõi, kiểm tra và chỉ đạo trực tiếp thường
xuyên công tác quản lý đầu tư xây dựng kể cả mặt kỹ thuật, kinh tế và các thủ tục
chính sách về xây dựng cơ bản.
13
Đối với những dự án xây dựng hồ chứa vừa và nhỏ do UBND tỉnh quản lý đầu tư xây
dựng được giao cho các Ban Quản lý dự án chuyên ngành thủy lợi thuộc tỉnh hoặc
thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thay mặt UBND tỉnh làm nhiệm vụ của
Chủ đầu tư quản lý. Đây cũng là các cơ quan có trình độ, chuyên môn kỹ thuật về xây
dựng thủy lợi.
Đối với các hồ chứa nhỏ do các xã, hợp tác xã, nông trường đầu tư vốn xây dựng hồ
chứa, thông thường việc quản lý đầu tư xây dựng giao cho 1 Ban quản lý của xã, hợp
tác xã, nông trường đảm nhiệm, các đơn vị này thường thiếu cán bộ chuyên môn về
thủy lợi nên công tác quản lý kỹ thuật có những khó khăn. Điều này ảnh hưởng đến
chất lượng xây dựng các hồ chứa nước.
1.3. Tổng quan về hiệu quả kinh tế của hồ chứa đa mục tiêu
1.3.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế của dự án
Hiệu quả kinh tế của dự án là toàn bộ mục tiêu kinh tế đã được đề ra của dự án, được
đặc trưng bằng hai loại chỉ tiêu là các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả
đạt được của dự án ) và bằng các chỉ tiêu định lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí đã
bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án). Ngoài các lợi ích
- Theo cách tính toán, hiệu quả về mặt định lượng được chia thành 2 loại là hiệu quả
được tính theo số tuyệt đối (kết quả của đầu tư) và hiệu quả được tính theo số tương
đối.
- Theo thời gian tính toán, hiệu quả về mặt định lượng được chia thành hiệu quả tính
cho một thời đoạn niên lịch (thường là 1 năm) và hiệu quả tính cho cả đời dự án (kéo
dài nhiều năm).
- Theo mức đạt yêu cầu, hiệu quả về mặt định lượng được chia thành các loại:
+ Hiệu quả chưa đạt mức yêu cầu, khi trị số hiệu quả của công trình được tính ra nhỏ
hơn trị số hiệu quả định mức (ngưỡng hiệu quả). Khi đó công trình được gọi là không
đạt hiệu quả, hay là không đáng giá.
+ Hiệu quả đạt mức yêu cầu, khi trị số hiệu quả của công trình được tính ra lớn hơn trị
số hiệu quả định mức. Khi đó công trình được gọi là đạt hiệu quả, hay đáng giá.
15
+ Hiệu quả có trị số lớn nhất hoặc bé nhất.
- Theo khả năng tính toán thành số lượng cũng có thể được phân ra thành hiệu quả có
thể tính toán định lượng được và hiệu quả khó tính toán biểu hiện bằng số lượng
được,...
1.3.3. Hệ thống chỉ tiêu và hiệu quả của dự án hồ chứa đa mục tiêu
1.3.3.1. Hệ thống các chỉ tiêu
Đánh giá hiệu quả của dự án phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu về mặt kỹ thuật,
công nghệ, tài chính, kinh tế xã hội, trong đó có một số chỉ tiêu tài chính và kinh tế
đóng vai trò chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp. Các chỉ tiêu này phản ánh được tương đối tổng
hợp và toàn diện hiệu của của dự án, cả về mặt kỹ thuật và xã hội. Các chỉ tiêu tài
chính, kinh tế, xã hội của công trình được phân chia thành các nhóm sau:
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án: phản ánh lợi ích trực tiếp của dự án mang
lại, bao gồm các chỉ tiêu tĩnh (tính toán cho 1 năm) và các chỉ tiêu động (tính toán cho
cả đời công trình có kể đến yếu tố thời gian trong các chỉ tiêu kinh tế).
đoạn quy hoạch
Trong giai đoạn quy hoạch việc xác định lượng nước đến cũng như nhu cầu dùng nước
cho tương lai chỉ mạng tính ước đoán, định tính. Nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã
hội của vùng có nhiều biến động, những chủ trương định hướng phát triển về cây
trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế chung của vùng nghiên cứu chưa
được xác định chính xác nên gây khó khăn cho công tác quy hoạch xây dựng, nâng cấp
công trình thủy lợi phục vụ cho các ngành. Hệ thống thủy lợi mới chỉ được quy hoạch
cho công tác tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp là chính, chưa có quy hoạch, bố
trí hợp lý để kết hợp nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa, trên các ao hồ nhỏ được kênh
mương của hồ chứa cấp, thoát nước mà hầu hết đều do dân làm tự phát, chắp vá, thiếu
đồng bộ, kém ổn định, không chủ động cho việc cấp thoát nước phục vụ yêu cầu cho
các khu nuôi. Tuy nhiên, do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng của khu
vực dẫn đến yêu cầu nước ngày càng tăng, đòi hỏi công trình thủy lợi không chỉ phục
vụ cho nông nghiệp như nhiệm vụ thiết kế ban đầu, mà còn phục vụ cho các ngành
kinh tế khác, dẫn tới làm giảm diện tích phục vụ tưới so với thiết kế ban đầu.
17