ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ VÂN
KỊCH LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội-2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ VÂN
KỊCH LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Quang Long
Hà Nội-2014
2
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 7
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................... 7
2 . Lịch sử vấn đề. ........................................................................................................... 9
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu. .............................................................................. 12
4. Phƣơng pháp nghiên cứu. ....................................................................................... 13
5. Cấu trúc luận văn ..................................................................................................... 13
CHƢƠNG 1: CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG KỊCH CỦA NGUYỄN
HUY TƢỞNG. ................................................................................................. 15
1.1. Mối quan hệ lịch sử - văn học.............................................................................. 15
1.2. Kịch và kịch lịch sử trong tiến trình văn học Việt Nam.................................. 17
1.3. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tƣởng. .................................................... 21
1.3.1. Con người và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng................. 21
1.3.2. Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử. ............................................................. 23
1.3.3. Các nhân tố tạo nên cảm hứng lịch sử trong các sáng tác của
Nguyễn Huy Tưởng.......................................................................................... 26
1.4. Lịch sử - nơi khơi nguồn cảm hứng sáng tạo trong sáng tác kịch Nguyễn
Huy Tƣởng..................................................................................................................... 29
1.4.1.Đề tài. ....................................................................................................... 29
1.4.2. Sự kiện. ................................................................................................... 32
1.5. Cảm hứng đƣợc thể hiện trong tác phẩm kịch lịch sử Nguyễn Huy Tƣởng.34
1.5.1. Cảm hứng bi kịch. .................................................................................. 34
1.5.2. Cảm hứng phê phán............................................................................... 37
1.5.3. Cảm hứng sử thi. .................................................................................... 40
CHƢƠNG 2: CÁC MÂU THUẪN CƠ BẢN TRONG KỊCH LỊCH SỬ
CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG ...................................................................... 44
2.1. Mâu thuẫn dân tộc và vấn đề quốc gia. ............................................................. 44
cứu Vũ Nho đã từng nhận xét: “Có thể nói, Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn
say mê với lịch sử và thành công chủ yếu ở mảng đề tài này”[27] Vì vậy, đến
nay, có lẽ, với những gì mà chúng ta đã biết và đánh giá về cuộc đời, sự
nghiệp và mảng đề tài lịch sử của ông vẫn cần được tìm hiểu, suy ngẫm và
khám phá. Trước tình hình đó, việc tiếp tục có những bài viết, đặc biệt là
những công trình nghiên cứu công phu về tác giả này là thực sự cần thiết.
Nhắc đến sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng, chúng ta không thể
không nhắc đến một mảng quan trọng trong đời sáng tác của ông chính là kịch
lịch sử. Tất cả các vở kịch của ông được viết trong gần 20 năm, nhưng thực
chất, trừ Lũy hoa, tác phẩm Vũ Như Tô, Bắc Sơn và Những người ở lại chỉ
được viết trong vỏn vẹn 3 năm. Trong đó, ngoài Vũ Như Tô trong cảm hứng
về mâu thuẫn, xung đột giữa cường quyền với cái đẹp, giữa khát vọng nghệ
thuật và thực tế cuộc sống, thì hầu hết các tác phẩm tiếp theo liền mạch trong
cảm hứng về dân tộc, lịch sử, nhân dân và khát vọng tự do của cách mạng.
7
Tuy nhiên, xuyên suốt kịch lịch sử của mình, như một phong cách sáng tác,
Nguyễn Huy Tưởng trong tác phẩm của mình luôn thấm đẫm cảm hứng lãng
mạn.
So với nhiều kịch gia tên tuổi khác, số lượng tác phẩm như vậy không
phải là nhiều nhưng bù lại, nó thể hiện rõ nét những nỗ lực tìm tòi, sự cách tân
làm mới thể loại và khẳng định được phong cách nghệ thuật xuyên suốt hành
trình sáng tạo của ông. Nghiên cứukịch lịch sử Nguyễn Huy Tưởng không chỉ
để có cái nhìn toàn diện hơn về sự nghiệp sáng tác của một tác gia văn học
tầm cỡ mà còn là sự khám phá cần thiết về một mảng sáng tác thực sự có giá
trị về cả nội dung và nghệ thuật. Đồng thời, qua những tác phẩm cụ thể đó,
bằng những trải nghiệm lịch sử của tác giả, chúng ta thấy rõ hơn cách tiếp cận
vấn đề của ông, cách viết của ông. Từ đó, phần nào làm nổi bật lên tài năng và
đánh giá về tác phẩm, hoặc những nội dung khá đặc sắc trong sáng tác của
ông... Tuy nhiên, những công trình này quan tâm đến các khía cạnh thi pháp
lịch sử, bi kịch cá nhân hay vai trò của các lực lượng trong xã hội..
Công trình đầu tiên nghiên cứu khá kỹ lưỡng những vấn đề lịch sử trong
các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng,mang tên Nguyễn Huy Tưởngcủa Phan
Cự Đệ và Hà Minh Đức xuất bản năm 1966. Chuyên luận nghiên cứu này đã
chỉ ra rất rõ những vấn đề lịch sử trong tiểu thuyết và kịch của Nguyễn Huy
Tưởng, nhận định xác đáng rằng: “Trong số các tác giả, Nguyễn Huy Tưởng
là người có thế giới quan tiến bộ nhất và đã cố gắng khai thác đề tài lịch sử
một cách nghiêm túc và sáng tạo”. [7; tr. 23]Ở chuyên luận này, các tác giả đã
đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn, đặc biệt ở hai
thể loại: tiểu thuyết và kịch. Đồng thời, hai tác giả nhấn mạnh “Nguyễn Huy
Tưởng đã có công nghiên cứu lịch sử nhưng anh không nô lệ tài liệu lịch sử[7;
tr. 27]”. Bên cạnh đó, hai tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong sáng tác của
Nguyễn Huy Tưởng, là tuy nhà văn có khích lệ tinh thần, lòng yêu nước và tự
hào dân tộc, nhưng cũng chưa nhận thức được hết sức mạnh lớn lao của quần
9
chúng và sức mạnh ấy đã tác đông như thế nào đến vận mệnh của một dân tộc.
Tuy nhiên, chuyên luận bao quát vấn đề lịch sử trong cả hai thể loại: tiểu
thuyết và kịch, nên còn chung chung và chưa đi sâu được vào từng thể loại.
Hơn nữa, gần như là chuyên luận đi sâu nghiên cứu về vấn đề xã hội của tác
phẩm, chưa đi sâu vào các vấn đề khác, những khoảng trống, những khía cạnh
khác trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng.
Trong cuốn Văn học trên hành trình trình thế kỉ XX, khi nghiên cứu
văn xuôi và kịch của Nguyễn Huy Tưởng, giáo sư Phong Lê đã khẳng định:
“Lịch sử - đó là mối quan tâm sâu sắc và thường xuyên của Nguyễn Huy
Tưởng... Đó cũng là khoảng lùi cho ông chiêm nghiệm chính gương mặt hiện
Nguyễn Huy Tưởng, cuốn sách cho chúng ta thấy được cái nhìn đa diện hơn
về tác giả cũng như tác phẩm. Tiến sĩ Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên
trong bài viết Nguyễn Huy Tưởng – khát vọng một đời văn đã nhận xét ông
“là một trong số hiếm hoi những tiểu thuyết gia có sở trường về đề tài lịch
sử”[44; tr. tr. 28]
Ngiuyễn Huy Tưởng là một tác giả lớn, có ý nghĩa quan trong trong tiến
trình phát triển của dòng văn học kịch. Vì thế, trên đầy là khảo sát một số
công trình nghiên cứu vè Nguyễn Huy Tưởng, ngoài những công trình trên,
còn rất nhiều những bài báo, những công trình nghiên cứu công phu khác viết
về ông. Những tiểu luận, chuyên luận, công trình nghiên cứu, những nhận xét,
đánh giá và cả những cuốn sách phê bình có chất lượng cao đó đã giúp cho
chúng ta phần nào hiểu được sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau trong
sáng tạo của Nguyễn Huy Tưởng. Tuy nhiên, tất cả những bài nghiên cứu
xoay quanh đề tài lịch sử thường tập trung khai thác chi tiết ở một vài điểm
nổi bật như: góc nhìn, cách tiếp cận lịch sử, tiểu thuyết lịch sử, hoặc khái quát
cả tiểu thuyết và kịch lịch sử nói riêng. Trong đó, chưa có tác phẩm nào đi
chuyên sâu vào riêng lĩnh vực kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng. Do vậy,
11
với vốn kiến thức ít ỏi của mình, chúng tôi hy vọng rằng luận văn có thể làm
rõ hơn những giá trị lịch sử trong một số vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu.
Về các tác phẩm kịch lịch sử được khảo sát, vở Cột đồng Mã Viện- tác
phẩm đầu tay, được Hà Minh Đức sưu tầm xuất bản sau khi Nguyễn Huy
Tưởng mất, cũng có nhiều ý nghĩa cho thấy sự trăn trở và những tìm tòi buổi
đầu của ông khi viết kịch lịch sử. Đó là tác phẩm mà nhà văn bỏ ra công sức
và viết đi viết lại nhiều nhất, trong thời gian là 5 năm, được chỉnh sửa rất
nhiều lần và chính thức viết lại với tên Cột đồng Mã Viện năm 1945. Theo
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Với đề tài này, chúng tôi sử dụng tích hợp các phương pháp khác nhau
để nghiên cứu các tác phẩm kịch. Trong đó, có một số phương pháp cơ bản
như:
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp văn học so sánh.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp nghiên cứu tác giả…..
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn bao gồm các chương:
Chương 1: Cảm hứng lịch sử trong kịch của Nguyễn Huy Tưởng.
Chương 2: Những mâu thuẫn cơ bản trong kịch lịch sử của Nguyễn Huy
Tưởng.
Chương 3: Thế giới nhân vật trong kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng.
Trong giới hạn kiến thức của mình, luận văn cố gắng làm rõ một số vấn đề:
13
- Một là: luận văn làm rõ mối quan hệ giữa lịch sử và các sáng tác văn
học, đặc biệt là kịch. Đồng thời, phần nào hiểu hơn về sự nghiệp văn học, đặc
biệt là kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng – một tác giả khá thành công
trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam.
- Hai là: phân tích rõ các mâu thuẫn cơ bản được thể hiện trong các sáng
tác kịch của Nguyễn Huy Tưởng.
- Ba là: Làm rõ thế giới nhân vật trong kịch lịch sử của Nguyễn Huy
Tưởng, từ lịch sử đi vào trong sáng tác văn chương.
14
15
Với mối quan hệ đó, các tác giả văn học đã khéo léo đưa lịch sử vào tác
phẩm của mình để tạo sự hấp dẫn. Và vì thế, những truyền thống lịch sử của
dân tộc, những nhân vật, sự kiện, bề dày phát triển mọi mặt xuyên suốt chiều
dài lich sử của đất nước đã trở thành nguồn cội, là mảnh đất màu mỡ cho các
tác giảsáng tạo nên các tác phẩm của mình. Họ quan tâm, tìm nghiên cứu lịch
sử một cách nghiêm túc để có thể tạo ra tác phẩm thành công nhất. Theo đó,
mối quan hệ giữa lịch sử và sự sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử
sẽ được thể hiện qua hai khuynh hướng cơ bản: “Một là, tác phẩm văn học,
nghệ thuật viết về đề tài lịch sử phải đảm bảo tính chất chân thật của lịch sử,
tức là bám sát và tuyệt đối trung thành với các sự kiện có thật của lịch sử(tuy
không bỏ qua cảm quan chính trị của tác giả)” [48; tr. 23]. Để minh chứng
cho luận điểm này, Hồng Vinh đã lấy ví dụtiểu thuyết lịch sử lớn và nổi tiếng
ở nước ta, đó là tác phẩm tiểu thuyết chương hồi lịch sử mang tên Hoàng Lê
nhất thống chí của dòng họ Ngô Thì. Khuynh hướng thứ hai, và có lẽ là
khuynh hướng mà hiện nay nhiều các tác giả văn học sử dụng để sáng tạo các
tác phẩm của mình, “lấy lịch sử làm chất liệu, là cái cớ để sáng tạo tác phẩm,
qua đó để mượn xưa nói nay, để gửi gắm những quan niệm về thời đại, khám
phá con người lịch sử với tư cách là những nhân vật của tác phẩm văn học
nghệ thuật.” [48; tr.23].Đó là khi họ lấy đề tài từ một sự kiện lịch sử, một
nhân vật có trong lịch sử… sáng tạo trong các loại hình nghệ thuật như: điện
ảnh (ví dụ: bộ phimTrần Thủ Độ); vở kịchDương Quý Phi, Kinh Khacủa
Thế Lữ - Vi Huyền Đắc, Huy Thông, kịch thơHuyền Trân công chúa, Yêu
Ly của Lưu Quang Thuận và kịchcủa Nguyễn Huy Tưởng thì thực sự “lịch sử
chỉ là cái đinh” để họ treo các bức tranh của mình lên theo cách nói của A.
Duyma.
16
Người bệnh tưởng của Molie do một nhóm sân khấu nghiệp dư dàn dựng.
17
Kịch là một bộ phận hợp thành của nghệ thuật sân khấu. Trước khi mang
lên sân khấu diễn, nó là một tác phẩm văn học đích thực, trong đó, nó có xen
những yếu tố miêu tả cụ thể về không gian, thời gian và khả năng biểu hiện
nghệ thuật của các phương tiện sân khấu khác, đặc biệt là mô tả cả những
biểu hiện của từng diễn viên. Đặc biệt hơn nữa, trong các thể loại văn học,
kịch có ưu thế hơn cả trong mảng đề tài về lịch sử.
Kịch theo Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Lê Bá Hán – Trần
Đình Sử, được “hình thành như một thể loại vào khoảng nửa sau thể kỉ XVIII
qua các sáng tác của các nhà Khai sáng ở Pháp và Đức như Điđơrô,
Bômacse, Létxinh...”. Đồng thời, “Ở Việt Nam, kịch ra đời vào cuối những
năm 20 của thế kỉ XX với những sáng tác như Chén thuốc độc của Vũ Đình
Long, vở Kim tiền của Vi Huyền Đắc...”[34; tr. 169]. Ra đời khá muộn so với
các nước khác, nhưng văn học kịch Việt Nam đã tiếp thu tinh hoa thể loại từ
các thế hệ trước, và vì vậy, chúng ta đã từng có những thành tựu rất sớm, đặc
biệt kịch về đề tài lịch sử. Với tính xung đột và tính hành động, văn học kịch
dường như có thể dễ dàng làm “sống” lại lịch sử, “dựng” lại lịch sử và vì thế,
nó đem đến cho người đọc, người xem những hứng thú đặc biệt.
Về khái niệm lịch sử, có nhiều cách diễn tả khác nhau, nhiều cách thể
hiện khác nhau. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, lịch sử là những gì
đã xảy ra bao gồm cả những việc ghi chép lại những hành động và sự kiện đã
qua.
Kịch lịch sử theo Từ điển Thuật ngữ văn học là một thể loại văn học
lịch sử. Đó là thể loại sáng tác về các đề tài và nhân vật lịch sử. Các tác phẩm
viết về đề tài lịch sử này chứ đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy
nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sự liệu xác
hiện đại vẫn rất rõ. Ngược lại, với những sự việc còn nóng hổi mang tính thời
sựở tác phẩm của mình, nhà văn vẫn tạo thêm cho nó những sắc thái của lịch
19
sử như cảm hứng, cách thể hiện, nhãn quan lịch sử...nên cả hai yếu tố này hoà
vào nhau và cảm nhận của người đọc, người xem vẫn là lịch sử. Cái hồn cốt
lịch sử ấy chính là sự thực, cảm hứng, nhân vật mà qua chúng, bóng dáng lịch
sử hiện ra trước chúng ta rõ hơn.
Đề tài lịch sử được các nhà nghiên cứu đánh giá: luôn là một khó khăn,
thách thức với tất cả các nhà văn, nhà viết kịch không chỉ riêng ở nước ta. Thế
nhưng, tiểu thuyết Việt Nam ngay từ khi mới ra đời đã được ghi nhận là
những tiểu thuyết lịch sử với hình thức chương hồi, mà tiêu biểu nhất phải kể
đến hai bộ tác phẩm đồ sộ và có giá trị: Hoàng Lê nhất thống chí và Việt
Lãm xuân thu. Đến thể kỷ XX, tiểu thuyết lịch sử lại được xuất hiện trong
dòng văn học yêu nước, đặc biệt là sau Cách mạng. Tuy rằng dòng tiểu thuyết
lịch sử có sự phát triển lâu đời và phát triển mạnh hơn, song kịch lịch sử vẫn
chảy không ngừng, âm ỉ và đến đầu thế kỷ XX bắt đầu phát triển khá mạnh.
Các kịch gia bắt đầu chú ý hơn và khai thác sâu hơn đề tài lịch sử: từ nhân
vật, sự kiện đến những biến cố trong lịch sử dân tộc. Hơn bao giờ hết, lịch sử
trở thành nguồn đề tài phong phú và hấp dẫn đối với các tác giả. Số lượng các
tác phẩm kịch lịch sử nhiều hơn, nhưng thật sự, theo các nhà nghiên cứu, số
lượng các tác phẩm kịch lịch sử “có giá trị chỉ đếm trong đầu ngón tay”.
Trong số đó, chúng ta không thể không kể đến Nguyễn Huy Tưởng với cú
hích đầu đời tốn mất không biết bao nhiêu giấy bút của các nhà nghiên cứu
phê bình với tác phẩm kịch lịch sử Vũ Như Tô.
Từ đó, tiếp nối thành công của Nguyễn Huy Tưởng từ đề tài lịch sử với
các tác phẩm như: Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Những người ở lại, …là những tên
tuổi nổi tiếng như nhà soạn kịch Trúc Đường, Tào Mạt, Nguyễn Đình Thi…
cách viết, cấu tứ… từ những tác giả nổi tiếng đương thời.
Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn có tinh thần yêu nước. Khi còn là học
sinh, Nguyễn Huy Tưởng tham gia phong trào yêu nước của thanh niên học
sinh ở Hải Phòng. Đến năm 1935, ông lên Hà Nội và làm thư ký nhà đoan,
đồng thời nuôi chí hướng viết văn để ký thác tấm lòng yêu nước của mình.
Những sáng tác đầu tay của ông cũng về đề tài lịch sử. Mở đầu là tiểu thuyết
21
Đêm hội Long Trì (1943) và đặc sắc nhất phải kể đến vở kịch Vũ Như Tô
(1944)…
Sinh ra trong một gia đình nhà nho khá giả có tinh thần yêu nước, bản
thân lại có tấm lòng hướng về tổ quốc, Nguyễn Huy Tưởng đã sớm giác ngộ
lý tưởng cách mạng. Từ năm 1943, ông hoạt động trong hội Văn hóa cứu
quốc và được cử làm đại biểu của Hội đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào năm
1945. Cách mạng thành công, nhà văn hăng hái hoạt động trong phong trào
văn nghệ cách mạng và là một trong những người phụ trách Hội Văn hóa cứu
quốc. Vở kịch Bắc Sơn của ông được viết và công diễn tháng 4 năm 1946 ở
Hà Nội đã góp phần chứng minh sự thắng lợi của Văn nghệ Cách mạng nói
chung và của nền kịch nói hiện đại Việt Nam nói riêng.
Trong kháng chiến chống pháp, ông tham gia thành lập Hội văn nghệ
Việt Nam, tích cực hoạt động từ những ngày đầu. Vừa hoạt động phong trào,
vừa tích cực sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng cho ra đời nhiều tác phẩm có giá
trị. Tiêu biểu có thể kể đến Ký sự Cao – Lạng, giải thưởng Văn nghệ Việt
Nam 1951 – 1952.
Với khoảng 20 năm sáng tạo, Nguyễn Huy Tưởng đã để lại số lượng lớn
tác phẩm có chất lượng, có giá trị về nội dung, phong phú trong các thể loại
khác nhau. Sự nghiệp sáng tác của ông được chia làm hai giai đoạn: trước và
sau Cách mạng. Trước 1945, với cảm quan lịch sử, ông viết Đêm hội Long
Các tác phẩm của ông, hầu hết viết về chủ đề lịch sử, lấy chất liệu và đề
tài từ nguồn lịch sử dân tộc. Vì thế, kịch lịch sử là một trong những mảng
sáng tác quan trọng nhất của ông. Với những tác phẩm có giá trị cao, Nguyễn
Huy Tưởng đã ghi dấu vào lịch sử phát triển của kịch lịch sử nói riêng và văn
học Việt Nam nói chung.
Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, khác với các nhà văn theo dòng
tiểu thuyết lịch sử đương thời, Nguyễn Huy Tưởng không theo xu hướng
xuyên tạc lịch sử hoặc mượn lịch sử để trú ngụ, trốn tránh hiện thực xã hội rối
23
ren đương thời (như Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Phan Khắc
Khoan…). Khác với những tác giả viết về lịch sử sau này với tư cách là
những người “nhại” lịch sử, chỉ là “mượn” những cái tên trong lịch sử để từ
đó thêm thắt và tạo ra cho chúng những đời sống mới nhằm xây dựng và
truyền tải những thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm,thì Nguyễn Huy Tưởng,
trong tác phẩm của mình, lại luôn tôn sùng và trung thành với lịch sử - quá
vãng xa xưa. Bởi vậy, để viết được một vở kịch lịch sử có giá trị, ông đã tốn
rất nhiều công sức tìm tòi, khám phá và nghiên cứu nghiêm túc những tài liệu
lịch sử, những tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng trong quá khứ.
Kịch lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng – một bước tiến
mới trong bối cảnh khá phức tạp của sự phát triển thể loại. Trước Cách mạng
Tháng Tám 1945, sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng được đánh dấu
với bộ ba tác phẩm khá nổi tiếng, ra mắt công chúng và được đón nhận nhiệt
liệt. Đó chính làVũ Như Tô (1943) – một tác phẩm kịch lịch sử về câu chuyện
của một người nghệ sĩ, một kiến trúc sư rất có tài thời vua Lê Tương Dực,
Đêm hội Long Trì (1944) – một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về thời Trịnh
Sâm với những tiếng nói tố cáo những tội ác của Đặng Lân, những âm mưu,
thủ đoạn của người con gái xứ Kinh Bắc Đặng Thị Huệ…và vở An Tư công
cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta vào những năm 1946 với vấn
đề điển hình của người dân thời bấy giờ: tản cư để kháng chiến hay ở lại trong
thành chấp nhận cuộc sống đầy đủ về vật chất nhưng lại có lỗi với cuộc kháng
chiến của cả dân tộc? Đọc tác phẩm, chúng ta không thể không chú ý đến
những thanh niên trẻ tuổi sống trong thời kì lịch sử bi tráng của dân tộc, họ
chiến đấu hết mình vì tiếng nói tình yêu Tổ quốc, độc lập dân tộc.
Nguyễn Huy Tưởng, theo như GS Hà Minh Đức, là “một trí thức có tâm
huyết, gắn bó với lịch sử Hà Nội, tác phẩm của ông ngợi ca truyền thống anh
hùng của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và bày tỏ tâm sự, nêu những vấn đề
của người trí thức đi theo Cách Mạng”[8; tr. 59]. Và vì vậy, chúng ta không
25