Kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng ( Luận văn ThS. Văn học ) - Pdf 28



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ VÂN KỊCH LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học Hà Nội-2014 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, quý
thầy giáo, cô giáo ở Phòng Đào tạo Sau đại học và thầy giáo, cô giáo khoa
Văn học, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy
cô giáo bộ môn Lý luận văn học, khoa Văn học – những người đã dạy dỗ,
truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi từng bước trưởng thành.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn
bè đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện
thành công luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2012 Nguyễn Thị Vân
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện. Những kết quả từ những tác
giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể.
Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu.
Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2014
Học viên

Nguyễn Thị Vân

6
2.2. Mâu thuẫn giữa cƣờng quyền – kẻ bị trị và vấn đề số phận ngƣời dân. 54
2.3. Mâu thuẫn cá nhân và vấn đề số phận con ngƣời. 60
CHƢƠNG 3: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG KỊCH LỊCH SỬ CỦA
NGUYỄN HUY TƢỞNG 71
3.1. Từ nhân vật lịch sử đến nhân vật văn học trong kịch lịch sử Nguyễn Huy
Tƣởng. 73
3.2. Nhân vật quần chúng – một cái nhìn mới trong kịch lịch sử Việt Nam. 86
KẾT LUẬN. 95

7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với một di sản văn học phong phú, trải rộng trên khá nhiều lĩnh vực,
Nguyễn Huy Tưởng xứng đáng là một đại diện xuất sắc của nền văn học Việt
Nam hiện đại. Ông viết sách lịch sử, sáng tác tiểu thuyết, kịch, truyện thiếu
nhi và ở lĩnh vực nào cũng đạt được những thành công. Với những đóng
góp và tìm tòi của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã và đang ngày càng thu hút
được sự chú ý, tìm hiểu, lý giải, đánh giá không chỉ của giới làm nghề, mà
còn của nhiều công chúng. Đồng thời, nổi bật lên như là một dấu hiệu dễ nhận
thấy về Nguyễn Huy Tưởng, đó chính là các tác phẩm của ông luôn hướng về
đề tài lịch sử. Lịch sử hấp dẫn ông đến mức các tác phẩm của ông, dù ở thể
loại nào cũng in đậm dấu ấn của lịch sử. Trong bài viết của mình, nhà nghiên
cứu Vũ Nho đã từng nhận xét: “Có thể nói, Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn
say mê với lịch sử và thành công chủ yếu ở mảng đề tài này”[27] Vì vậy, đến

sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết của ông,
hoặc một số công trình nghiên cứu riêng lẻ về các tác phẩm kịch của Nguyễn
Huy Tưởng, song cho đến nay, mặc dù đã có khá nhiều những ý kiến xác
đáng và một vài công trình nghiên cứu có giá trị, nhưng không phải mọi vấn
đề về kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng đã được giải quyết.Vấn đề bi kịch
lịch sử về số phận cá nhân, dân tộc, vai trò của các lực lượng xã hội trong
vòng xoáy của những xung đột, cách lý giải của riêng nhà văn vẫn còn có
thể nghiên cứu tiếp. Vì vậy, đây có lẽ là mảnh đất cần được khai phá thêm và
hứa hẹn có một số những phát hiện thú vị. Trong khuôn khổ của một luận văn,
chúng tôi chỉ lựa chọn một số vấn đề nêu trên làm nội dung chính cho đề tài
tốt nghiệp của mình.
Nằm trong dòng chảy của kịch Việt Nam hiện đại, những tác phẩm của
Nguyễn Huy Tưởng thường được tiếp cận theo các hướng khác nhau của vấn 9
đề lịch sử. Nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong các sáng tác kịch của ông
giúp cho chúng ta, qua đó, làm rõ hơn khái niệm về lịch sử và đề tài lịch sử,
mối quan hệ giữa lịch sử và việc sáng tạo văn học nghệ thuật nói chung, thể
loại kịch nói riêng về vấn đề lịch sử.
2 . Lịch sử vấn đề.
Nguyễn Huy Tưởng là một tác giả có nhiều đột phá ở nhiều thể loại. Vì
vậy, đã có khá nhiều nhà khoa học với những công trình nghiên cứu chất
lượng tìm hiểu về con người và sự nghiệp của ông. Có thể kể đến một số tên
tuổi như: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Phong Lê, Nguyễn Bích
Thu hay nhiều nhà văn nổi tiếng nhận xét về các tác phẩm của ông như:
Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Anh Đức, Nguyên Hồng, Vũ Tú Nam cũng có nhiều
đánh giá về tác phẩm, hoặc những nội dung khá đặc sắc trong sáng tác của
ông Tuy nhiên, những công trình này quan tâm đến các khía cạnh thi pháp
lịch sử, bi kịch cá nhân hay vai trò của các lực lượng trong xã hội

345]
Năm 1996, Nguyễn Huy Tưởng được nhận giải thưởng Hồ CHí Minh về
văn học nghệ thuật, Giáo sư Hà Minh Đức trong cuốn sách Các nhà văn được
giải thưởng Hồ Chí Minh, nhận xét: “Nguyễn Huy Tưởng đã khơi nguồn cho
những tác phẩm của mình từ dòng lịch sử của dân tộc với bao trang hào hùng
rực rỡ chiến công chống xâm lược. lịch sử cảm nhận sâu sắc trong những
ngày đen tối của cuộc đời hiện tại ”.[11; tr. tr. 375] “đã làm sống dậy chân
thực và hào hùng ” [11; tr. 375] một giai đoạn lịch sử của dân tộc.
TrongGiáo trình văn học Việt Nam 1945 – 1975với bài viết Nguyễn Huy
Tưởng, Nguyễn Trác đã nghiên cứu một cách khá sâu sắc và hệ thống những
sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng trong các thời kỳ cả trước và sau cách mạng
ở từng thể loại. Điểm nổi bật trong chuyên luận này, chính là việc người viết
đã nêu ra những đặc sắc về mặt nghệ thuật mà nhà văn đã đạt được. Qua đó, 11
ông đã dành hẳn một phần viết vềcảm hứng lịch sử xuyên suốt sự nghiệp sáng
tác của Nguyễn Huy Tưởng khá sâu sắc và kĩ lưỡng.
Bên cạnh những tiểu luận chuyên sâu đó, các bài viết nghiên cứu về
Nguyễn Huy Tưởng của những tác giả có tên tuổi, uy tín trong làng văn
chương, gần đây đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo
Miên tổng hợp biên soạn, chọn lọc và đưa vào cuốnNguyễn Huy Tưởng – về
tác gia và tác phẩm. Cuốn sách này khá công phu và là tư liệu tham khảo cơ
bản cho những ai muốn tìm hiểu về Nguyễn Huy Tưởng. Là tổng hợp các tiểu
luận có chất lượng nghiên cứu về nhiều mặt khác nhau trong các sáng tác của
Nguyễn Huy Tưởng, cuốn sách cho chúng ta thấy được cái nhìn đa diện hơn
về tác giả cũng như tác phẩm. Tiến sĩ Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên
trong bài viết Nguyễn Huy Tưởng – khát vọng một đời văn đã nhận xét ông
“là một trong số hiếm hoi những tiểu thuyết gia có sở trường về đề tài lịch
sử”[44; tr. tr. 28]

được xếp vào hàng những sự kiện có ý nghĩa mốc son trong quá trình phát
triển của nền Kịch nói Việt Nam. Đó là tác phẩm:
- Vũ Như Tô sáng tác năm 1943, một trong những tác phẩm
lớn nhất trong văn nghiệp của tác giả và cũng là kịch bản tiêu biểu
của kịch trường Việt thế kỷ XX. Tác phẩm được công diễn tại Nhà
hát Tuổi trẻ Hà Nội vào năm 1995.
- Bắc Sơn, được công diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội vào cuối
năm 1946, mở đầu cho dòng kịch cách mạng Việt.
- Những người ở lại, được trình diễn năm 1949 tại chiến
khu Việt Bắc và năm 1957 diễn lại tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Tác
phẩm được nhìn nhnạ là sự mở đầu cho công cuộc chuyên nghiệp
hóa nền Kịch nói Việt Nam. 13
Các kịch này được viếttheo thời gian từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc sự
nghiệp với tư cách là một kịch gia. Chúng tôi không đưa Lũy hoavào luận văn.
Bởixét về thể loại nó là một kịch bản phim. Tất nhiên cảm hứng lãng mạn,
cảm hứng lịch sử vẫn rất đậm nét ở tác phẩm này. Khi cần, chúng tôi vẫn đề
cập đến dưới dạng so sánh hoặc nhấn mạnh một luận điểm nào đó. Trong khi
nghiên cứu các tác phẩm kịch, chúng tôi có sự đối sánh với những tác phẩm
của các nhà văn cùng thời khác. Qua đó, thấy được vai trò và vị trí của
Nguyễn Huy Tưởng đối với sự phát triển của kịch lịch sử nói riêng và kịch
nói chung trong văn học Việt Nam hiện đại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Với đề tài này, chúng tôi sử dụng tích hợp các phương pháp khác nhau
để nghiên cứu các tác phẩm kịch. Trong đó, có một số phương pháp cơ bản
như:
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp văn học so sánh.

15
CHƢƠNG 1
CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG KỊCH CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG.
1.1. Mối quan hệ lịch sử - văn học.
Lịch sử và văn chương luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong
truyền thống văn chương, quan điểm “văn - sử bất phân” hay “văn - sử - triết
bất phân” đã trở nên vô cùng quen thuộc. Đặc biệt là văn học trung đại, khi
mà văn chương thời đó không phải chỉ là nghệ thuật, mà còn là công cụ hành
chính, phát biểu quan điểm chính trị, khái quát hiện thực lịch sử đương thời…
nên bản thân văn chương, trong sự phát triển của mình, cũng là một vấn đề
thuộc lịch sử. Theo quan niệm Mác xít, văn chương là phương tiện để phản
ánh hiện thực cuộc sống của con người. Vì thế, Các Mác đã từngnói: Lịch sử
chẳng phải là gì khác mà chính là cuộc sống của con người theo đuổi một
mục đích của mình.Từ đó, phần nào chúng ta thấy được sự liên kết giữa lịch
sử - xã hội và văn học.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Nếu lịch sử là một quá trình tiếp biến,
thì xét về bản chất, văn chương tồn tại trong sự sống động của lịch sử, xã hội.
Thật vậy, điều đó được chứng minh ngay trong đời sống nội tại của cả lịch sử
và văn học. Nếu như lịch sử là những cái gì đã qua và đòi hỏi tính chính xác
thì văn học lại từ lịch sử, trong sự vận động của lịch sử lại có khả năng nhìn
nhận và đánh giá lại lịch sử. Văn học có khả năng kế thừa, có thể tiếp thu hay
thậm chí đối thoại với quá khứ. Đó cũng chính là lý do mà các nhà văn, nhà
thơ có thể tung hoành với những sự tiếp biến từ lịch sử, từ những gì của lịch
sử mà thỏa sức mà sáng tạo với sự tái sinh của những mặc cảm Ơdip, Don
Kihote, hay với thể loại cổ tích hiện đại, nhại lịch sử, nhại cổ tích…
17
1.2. Kịch và kịch lịch sử trong tiến trình văn học Việt Nam.
Sự ra đời của một nền văn hoá mới trước ngưỡng cửa thế kỷ XX do
những điều kiện lịch sử và xã hội cụ thể của một đất nước thuộc địa nửa
phong kiến quyết định. Chế độ thực dân Pháp đã vô tình giúp nước ta thúc
đẩy quá trình thâm nhập và phổ biến rộng rãi những kiến thức mới, những tư
tưởng chính trị, triết học và nghệ thuật mới cũng như những thành tựu khoa
học – kỹ thuật của phương Tây. Và vì thế, đời sống xã hội cũng như văn hóa
có sự thay đổi đáng kể. Kéo theo đó, chúng ta không thể không kể tới sự thay
đổi trong đời sống văn học, bắt đầu với quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc,
bước đầu chuyển từ văn học trung đại sang văn học hiện đại. Quá trình hiện
đại hóa ấy đã đạt được khá nhiều thành tựu và một trong những thành tựu đó
chính là sự phát triển đa dạng của các thể loại văn học khác nhau, trong đó có
kịch.
Kịch cùng với hai phương thức cơ bản khác của văn học (tự sự, trữ tình)
là những loại hình của văn học. Trong đó, kịch là thể loại đặc biệt, nó vừa
diễn, vừa đọc, vừa thuộc loại hình sân khấu, lại vừa là một thể loại của văn
chương. Trước thế kỷ XX, nghệ thuật sân khấu Việt Nam tồn tại được như hai
thể loại sân khấu âm nhạc truyền thống là tuồng và chèo, mà vào thời kỳ đó
đã bắt đầu quá trình cải cách để thích ứng với điều kiện của một xã hội nửa
thuộc địa nửa phong kiến. Chính vào thời kỳ này ở Việt Nam đã xuất hiện
những thể loại sân khấu mới là cải lương và kịch nói.Sự ra đời của sân khấu
kịch nói xuất phát từ mong muốn giới thiệu sân khấu phương Tây với khán
giả Việt Nam của các văn nghệ sĩ. Buổi diễn kịch đầu tiên đánh dấu sự xuất
hiện của một thể loại dân khấu mới ở Việt Nam, đã được ra mắt công chúng
ngày 25 tháng 4 năm 1920 tại Nhà hát thành phố Hà Nội. Đó là vở kịch
Người bệnh tưởng của Molie do một nhóm sân khấu nghiệp dư dàn dựng. 18

chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với
những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người
xưa, phá vỡ tính chân thực của lịch sử.
Tóm lại, theo quan điểm của chúng tôi, kịch lịch sử là một thể loại kịch
viết về quá khứ, lấy lịch sử làm đề tài, sáng tạo về các sự kiện, đề tài, nhân vật
có trong lịch sử hoặc những vấn đề lịch sử mang tính quốc gia dân tộc,
thường mô tả những xung đột, mâu thuẫn mang tính lịch sử (ví dụ như mâu
thuẫn đối kháng về giai cấp, dân tộc, về thời đại) thông qua đó mô tả những tư
tưởng chủ đề mà nhà văn muốn hướng đến.Đề tài lịch sử là những sự việc đã
thuộc về quá khứ, lịch sử. Vì vậy viết về những sự kiện và những con người
ấy dễ được thừa nhận ngay là về lịch sử. Nhưng có những sự việc, con người
mới xảy ra, nhà văn viết về họ từ những tư liệu vẫn còn nóng hổi nhưng vẫn
được gọi là lịch sử. Ví dụ trận đánh Xtalingrad ở Liên Xô thời chiến tranh thế
giới thứ hai, được các nhà văn Nga viết ngay trong những năm ấy vẫn được
xếp vào tác phẩm lịch sử. Tác phẩm của dòng họ Ngô Thì là
Hoàng Lê nhất thống chí được viết về những sự việc, con người ngay sau
những sự việc ấy xảy ra một thời gian ngắn cũng được xếp vào thể loại Tiểu
thuyết lịch sử. Như vậy, tiêu chí " để trở thành lịch sử" ở đây vừa có sự việc,
con người đã lùi vào dĩ vãng ( xa hoặc gần) nhưng điều cơ bản là cảm hứng
chung của tác phẩm, vấn đề nêu ra mang ý nghĩa lớn như bao quát vận mệnh
cả dân tộc, tái hiện được sự thật lịch sử ấy như nó đã xảy ra thì chúng tôi
cũng tạm xếp nó vào đề tài lịch sử.Những vấn đề của lịch sử được tác giả viết
dưới góc nhìn của ngày hôm nay khi lý giải nó và phục vụ cho mục đích của
mình. Do đó, khi viết về những sự việc lùi xa vào quá khứ thì những dấu ấn
hiện đại vẫn rất rõ. Ngược lại, với những sự việc còn nóng hổi mang tính thời
sựở tác phẩm của mình, nhà văn vẫn tạo thêm cho nó những sắc thái của lịch 20
sử như cảm hứng, cách thể hiện, nhãn quan lịch sử nên cả hai yếu tố này hoà

không kể đến tên tuổi nổi tiếng như Lưu Quang Vũ với hàng loạt những cái
tên đã ghi dấu vào trong làng kịch Việt Nam, đặc biệt trong các vở kịch lịch
sử như: Ông vua hóa hổ, Ngọc Hân công chúa
Là một mảng đề tài riêng của kịch, kịch lịch sử với những tác phẩm có
giá trị, những tên tuổi tác giả, kịch gia nổi tiếng đã khẳng định được vị thế của
mình trong sự phát triển của thể loại kịch nói riêng và của văn học dân tộc
Việt nói chung.
1.3. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tƣởng.
1.3.1. Con người và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng.
Nguyễn Huy Tưởng chiếm một vị trí xứng đáng trên văn đàn trước và
sau Cách mạng. Ông viết nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tùy bút, tiểu thuyết,
kịch, kịch bản phim, truyện thiếu nhi
Sinh ngày mùng 6 tháng 5 năm 1912, trong một gia đình Nho học tại
làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nơi mà có nhà nghiên cứu đã cho
rằng “tất cả mọi cái đều là lịch sử”, Nguyễn Huy Tưởng đã kế thừa truyền
thống quê hương, gia đình. Đồng thời, ông ý thức được con đường của mình
phải đi ngay từ khi là một cậu học trò 18 tuổi rằng: “Phận sự một người tầm
thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ
thôi”[44; tr. 11]. Có lẽ vì thế, ngay từ khi còn trẻ, ông đã tìm hiểu về thơ văn,
cách viết, cấu tứ… từ những tác giả nổi tiếng đương thời.
Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn có tinh thần yêu nước. Khi còn là học
sinh, Nguyễn Huy Tưởng tham gia phong trào yêu nước của thanh niên học
sinh ở Hải Phòng. Đến năm 1935, ông lên Hà Nội và làm thư ký nhà đoan,
đồng thời nuôi chí hướng viết văn để ký thác tấm lòng yêu nước của mình.
Những sáng tác đầu tay của ông cũng về đề tài lịch sử. Mở đầu là tiểu thuyết 22
Đêm hội Long Trì (1943) và đặc sắc nhất phải kể đến vở kịch Vũ Như Tô
(1944)…

với tiểu thuyết Bốn năm sau (1959)… Và đặc biệt hơn, đề tài lịch sử, đặc biệt
là lịch sử hào hùng của đất nước trong những năm đầu Cách mạng vẫn lôi
cuốn sự quan tâm của ông. Với đề tài lịch sử này, ông viết truyện phim Lũy
hoa, tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô(1960). Tuy nhiên, tác phẩm mới hoàn
thành tập I, tài năng của ông đang được nở rộ thì nhà văn đột ngột mất vào
tháng 7 năm 1960. Với sự nghiệp văn chương có giá trị của mình, ông đạt
được nhiều giải thưởng về tác phẩm văn học: Ký sự Cao – Lạng, Truyện anh
Lục, Sống mãi với thủ đô
Với những đóng góp của mình, Nguyễn Huy Tưởng được nhận giải
thưởng Hồ Chí Minh đợt I.
1.3.2. Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử.
Nguyễn Huy Tưởng là người sớm có ý thức về lịch sử dân tộc. Ngay từ
khi chưa đầy 20 tuổi, ông từng viết trong Nhật ký của mình rằng:“Người
không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng
được mà cày ruộng nào cũng được”[17; tr. 334]. Ngay từ khi đi học, với
nguồn kiến thức uyên bác, tinh thông Pháp văn và Hán văn, ông bắt đầu sự
nghiệp của mình bằng những câu chuyện lịch sử, những nhân vật lịch sử.
Các tác phẩm của ông, hầu hết viết về chủ đề lịch sử, lấy chất liệu và đề
tài từ nguồn lịch sử dân tộc. Vì thế, kịch lịch sử là một trong những mảng
sáng tác quan trọng nhất của ông. Với những tác phẩm có giá trị cao, Nguyễn
Huy Tưởng đã ghi dấu vào lịch sử phát triển của kịch lịch sử nói riêng và văn
học Việt Nam nói chung.
Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, khác với các nhà văn theo dòng
tiểu thuyết lịch sử đương thời, Nguyễn Huy Tưởng không theo xu hướng
xuyên tạc lịch sử hoặc mượn lịch sử để trú ngụ, trốn tránh hiện thực xã hội rối 24
ren đương thời (như Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Phan Khắc
Khoan…). Khác với những tác giả viết về lịch sử sau này với tư cách là

mệnh của tổ quốc, vận mệnh của nhân dân. Ngoài ra, cùng thời kỳ này còn có
tác phẩm Cột đồng Mã Viện,vở kịch về sức sống của dân tộc lấy bối cảnh là
một vùng đất biên giới giữa nước ta (khi đó là Giao Chỉ) và tỉnh Quảng Tây,
Trung Quốc. Như vậy, với số lượng tác phẩm không nhiều, nhưng rõ ràng, từ
trước Cách mạng, Nguyễn Huy Tưởng dường như đã xác định con đường đi
cho những tác phẩm kịch của mình theo hướng lịch sử. Vì thế, sau Cách mạng,
khuynh hướng kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng ngày càng trở nên đậm
nét hơn. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã mang lại sức sống mới
cho thời đại, mang lại nguồn cảm hứng dồi dào bất tận với tất cả các nhà văn,
nhà thơ, họa sĩ, nhiếp ảnh… Và cũng nằm trong dòng chảy lịch sử ấy,
Nguyễn Huy Tưởng cho ra đời hai vở kịch ghi lại dấu ấn của mình trong lịch
sử văn học dân tộc: Bắc Sơn và Những người ở lại. Nếu như Bắc Sơn được
nhà văn khai thác từ hiện thực cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Bắc Sơn, Đình Cả
năm 1940 – 1941 với tinh thần quật khởi của nhân dân giữa lựa chọn sống tự
do hay tiếp tục làm nô lệ, thì Những người ở lại lại mang đến không khí của
cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta vào những năm 1946 với vấn
đề điển hình của người dân thời bấy giờ: tản cư để kháng chiến hay ở lại trong
thành chấp nhận cuộc sống đầy đủ về vật chất nhưng lại có lỗi với cuộc kháng
chiến của cả dân tộc? Đọc tác phẩm, chúng ta không thể không chú ý đến
những thanh niên trẻ tuổi sống trong thời kì lịch sử bi tráng của dân tộc, họ
chiến đấu hết mình vì tiếng nói tình yêu Tổ quốc, độc lập dân tộc.
Nguyễn Huy Tưởng, theo như GS Hà Minh Đức, là “một trí thức có tâm
huyết, gắn bó với lịch sử Hà Nội, tác phẩm của ông ngợi ca truyền thống anh
hùng của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và bày tỏ tâm sự, nêu những vấn đề
của người trí thức đi theo Cách Mạng”[8; tr. 59]. Và vì vậy, chúng ta không

Trích đoạn Cảm hứng đƣợc thể hiện trong tác phẩm kịch lịch sử Nguyễn Huy Tƣởng Cảm hứng phê phán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status