BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
---------------------
TRẦN THỊ THU NGUYỆT
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA
CHỌN KỲ HẠN NỢ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
NGÀNH XÂY DỰNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
---------------------
TRẦN THỊ THU NGUYỆT
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA
CHỌN KỲ HẠN NỢ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
NGÀNH XÂY DỰNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
(Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Stock Exchange and the Hanoi Stock Exchange from 2008 to 2018, this study
conducted the test the impact of factors including profitability, growth, firm size,
firm age, ratio of tangible to total assets and liquidity of the firm on debt maturity of
listed firms in Vietnam. Through the use of the GLS (General Least Squared) and
Tobit Fixed Effects models, the study shows evidence of firm size, tangible assets,
liquidity and firm age affects the choice of debt maturity of construction firms in
Vietnam. Specifically, the study found a positive correlation of firm size, tangible
assets and liquidity of firm with debt maturity. This implies that large firm (easily
reputable in the market, diversifying portfolio), have a high ratio of tangible assets
to total assets (reliable collaterals) and high liquidity tend to choose long-term debt
in capital structure. However, the study found a negative correlation between the
age of the firm and the debt maturity, this shows that construction firm with longterm existence tend to choose short-term debt.
Keywords: Debt maturity, Profitability, Growth rate, Firm size, Firm age, Tangible
assets, Liquidity.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn Thạc Sĩ Kinh Tế với đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng
đến sự lựa chọn kỳ hạn nợ của các công ty niêm yết ngành Xây dựng tại Việt Nam”
do chính tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của Cô TS.Nguyễn Thị
Uyên Uyên.
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và do tôi thực hiện. Tôi
xin chịu trách nhiệm về bài nghiên cứu của mình.
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 12 năm 2019
Tác giả
Trần Thị Thu Nguyệt
1.5
Cấu trúc của bài nghiên cứu ..........................................................................4
Chương 2 -
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THUYẾT KỲ
VỌNG............ . ............................................................................................................6
Chương 3 -
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....................................................18
3.1
Dữ liệu nghiên cứu ......................................................................................18
3.2
Phương pháp nghiên cứu .............................................................................18
3.2.1
Mô hình nghiên cứu – Mô tả biến .....................................................18
3.2.2
Phương pháp nghiên cứu ...................................................................24
Chương 4 -
Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu .....................................................42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ viết tắt
Diễn giải đầy đủ
AGE
Tuổi của doanh nghiệp
GROWTH
Cơ hội tăng trưởng
LQ
Tính thanh khoản – Khả năng thanh toán hiện hành
RLD
Kỳ hạn nợ
ROA
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tóm tắt ý nghĩa và phương pháp tính toán của các biến trong mô hình
nghiên cứu .................................................................................................................23
Bảng 4.1 Mô tả thống kê toàn mẫu ..........................................................................31
Bảng 4.2 Hệ số tương quan .......................................................................................32
Bảng 4.3 Hệ số VIF và 1/VIF của từng biến độc lập ................................................33
Bảng 4.4 Kết quả lựa chọn mô hình tối ưu ...............................................................34
Bảng 4.5 Kết quả các kiểm định Tự tương quan và Phương sai thay đổi.................34
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy ..........................................................................................35
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của các công ty thuôc ngành Xây dựng niêm
yết tại Việt Nam ........................................................................................................27
Biểu đồ 4.2 Thành phần cấu trúc vốn của các công ty thuộc ngành Xây dựng niêm
yết tại Việt Nam ........................................................................................................28
Biểu đồ 4.3 Cơ cấu nợ trong tổng nợ của các công ty thuộc ngành Xây dựng niêm
yết tại Việt Nam ........................................................................................................29
Biểu đồ 4.4 Cơ cấu nợ ngắn hạn và nợ dài hạn trong cấu trúc vốn của các công ty
thuộc ngành Xây dựng niêm yết tại Việt Nam..........................................................30
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1.
Lý do chọn đề tài
vững mạnh thì việc đầu tư mở rộng, xây dựng các dự án, công trình... là một phần
không thể thiếu của những công ty ngành Xây dựng. Tuy nhiên, muốn làm được như
vậy, các công ty của ngành Xây dựng cần phải có nguồn vốn lớn mà bản thân nguồn tài
trợ nội bộ không thể đáp ứng đầy đủ được. Từ đó, với tính chất, đặc thù của ngành là
sở hữu rất nhiều tài sản là các dự án, công trình, đất đai,... nên các công ty niêm yết
ngành Xây dựng có xu hướng sử dụng cấu trúc vốn thiên về nợ mà những khoản nợ
này sẽ được thế chấp bằng chính các tài sản thuộc sở hữu của các công ty. Bằng chứng
là, trong giai đoạn 2008 – 2018, tổng tài sản và nợ vay, kể cả nợ ngắn hạn và nợ dài
hạn của các công ty thuộc ngành Xây dựng đã có xu hướng tăng, đặc biệt là khi xét về
cơ cấu nợ vay, các công ty thuộc nhóm ngành Xây dựng đã sử dụng nợ ngắn hạn nhiều
hơn nợ dài hạn1. Vì vậy, nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa
chọn kỳ hạn nợ là những nghiên cứu có giá trị đối với các công ty ngành Xây dựng.
Với những lý do này, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự
lựa chọn kỳ hạn nợ của các công ty niêm yết ngành Xây dựng Việt Nam” cho Luận
văn Thạc sĩ của mình với mong muốn ứng dụng các lý thuyết và kết quả thực nghiệm
từ các công trình nghiên cứu trước đây nhằm tìm hiểu các phản ứng của các công ty
ngành Xây dựng Việt Nam trong quyết định lựa chọn kỳ hạn nợ khi doanh nghiệp đối
mặt với các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn kỳ hạn nợ phù hợp cho doanh
nghiệp.
1.2.
Mục tiêu và vấn đề nghiên cứu của đề tài
Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn kỳ hạn nợ của các công ty niêm yết của ngành Xây dựng Việt Nam. Từ
mục tiêu nghiên cứu này, bài nghiên cứu sẽ tập trung phân tích ảnh hưởng của các yếu
1
Trích thông tin của 143 công ty cổ phần thuộc ngành Xây dựng được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán
TP.HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2018 trong bài nghiên cứu này.
nói riêng, kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ giúp các doanh nghiệp xem xét ảnh hưởng
của khả năng sinh lợi; tốc độ tăng trưởng; quy mô; tuổi của công ty; tài sản cố định hữu
2
Theo hệ thống phân ngành của VSIC (Ngành Xây dựng có mã ngành cấp 1 là F)
4
hình; tính thanh khoản đến việc lựa chọn kỳ hạn nợ của các công ty, từ đó giúp các
công ty điều chỉnh và lựa chọn kỳ hạn nợ hợp lý khi ra và thực hiện quyết định tài trợ.
Thứ tư, đối với các ngân hàng, trong bối cảnh nợ xấu có xu hướng gia tăng, làm ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam như hiện
nay mà bắt đầu từ việc doanh nghiệp vay nợ không trả nợ đúng hạn, việc nghiên cứu
các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp sẽ giúp ngân
hàng xác định kỳ hạn cho vay phù hợp với năng lực kinh doanh của khách hàng, tránh
được rủi ro thanh khoản và hạn chế nợ xấu.
Thứ năm, đối với nhà đầu tư, kết qủa nghiên cứu kỳ vọng sẽ giúp nhà đầu tư có một
cách nhìn thận trọng hơn khi đánh giá hiệu quả quản trị công ty.
1.5.
Cấu trúc của bài nghiên cứu
Nội dung của Luận văn được bố cục gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, bài nghiên cứu sẽ làm rõ lý do chọn
và thực hiện đề tài; xác định mục tiêu, các vấn đề nghiên cứu; phương pháp nghiên
cứu; ý nghĩa và cấu trúc của bài nghiên cứu.
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu và các giả thuyết kỳ vọng. Ở chương này, bài
nghiên cứu sẽ trình bày các bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu trước về các
yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp để trên cơ sở đó đưa
kinh tế và đặc thù ngành không chỉ tác động trực tiếp đến cấu trúc vốn mà còn tác động
gián tiếp thông qua đặc điểm riêng của doanh nghiệp. Ở những quốc gia khác nhau, sự
tác động của các yếu tố thuộc về doanh nghiệp lên cấu trúc vốn, lên sự lựa chọn kỳ hạn
nợ của các công ty c ng khác nhau. Những yếu tố có tác động rõ ràng đến cấu trúc
vốn, đến việc lựa chọn kỳ hạn nợ của các công ty bao gồm: quy mô doanh nghiệp; khả
năng sinh lợi; tính thanh khoản; tốc độ tăng trưởng; tuổi của công ty; tài sản cố định
hữu hình…
Mối tương quan giữa khả năng sinh lợi và sự lựa chọn kỳ hạn nợ của công
ty – Giả thuyết, kỳ vọng 1
Về khả năng sinh lợi, trường phái đánh đổi cấu trúc vốn cho rằng các doanh nghiệp có
khả năng sinh lợi càng cao thì cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ có xu hướng thiên về
sử dụng nợ. Bởi vì nếu doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao thì doanh nghiệp sẽ đảm
bảo được điều kiện sử dụng nợ thuận lợi, để từ đó dưới tác động của đòn bẫy tài chính,
7
nợ sẽ giúp khuyếch đại thu nhập cho chủ sở hữu công ty. Trong khi đó, trường phái trật
tự phân hạng lại chủ trương rằng các doanh nghiệp luôn có xu hướng sử dụng nguồn tài
trợ nội bộ khi có sẵn và chọn nợ hơn là vốn cổ phần do phát hành mới khi cần đến
nguồn tài trợ bên ngoài. Do đó, những doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao thường
vay nợ ít hơn, không phải vì họ có các tỷ lệ nợ mục tiêu thấp mà vì họ không cần
nguồn tài trợ từ bên ngoài. Các doanh nghiệp có khả năng sinh lời ít hơn thì phát hành
nợ vì họ không có các nguồn vốn nội bộ đủ cho chương trình đầu tư vốn và vì tài trợ
nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài. Các nghiên cứu thực
nghiệm chẳng hạn như của Kester (1986); Titman và cộng sự (1988) cho thấy việc sử
dụng nhiều nợ vay trong các công ty có dòng tiền hoặc khả năng sinh lợi cao có thể
làm hạn chế quyền hạn của các nhà quản trị công ty. Các công ty có khả năng sinh lợi
cao không muốn gia tăng vốn cổ phần do phát hành mới để tránh sự pha loãng quyền
sở hữu. Bên cạnh đó, khi tình trạng bất cân xứng thông tin xảy ra, do thị trường không
giành lợi ích từ các chủ nợ. Tốc độ tăng trưởng cao gợi ý những kết quả kinh doanh
khả quan, chính vì thế các cổ đông sẽ không muốn chia sẻ ưu thế này với các chủ nợ.
Bên cạnh đó, thuyết đánh đổi cấu trúc vốn c ng cho rằng, các công ty đang nắm giữ
tốc độ tăng trưởng trong tương lai thì sử dụng ít nợ vì tốc độ tăng trưởng là một tài sản
vô hình. Do vậy, đòn bẩy tài chính có mối tương quan âm với tốc độ tăng trưởng.
Myers (1977) cho rằng, cơ hội đầu tư trong tương lai của công ty c ng giống như các
quyền chọn. Giá trị của các quyền chọn này phụ thuộc vào khả năng công ty có thực
hiện chúng một cách tối ưu hay không. Với việc cố định rủi ro trong cấu trúc vốn của
công ty, những lợi ích từ việc thực hiện các dự án đầu tư sinh lời được phân chia giữa
các cổ đông và trái chủ. Trong một số trường hợp, các trái chủ có thể mong muốn các
công ty đầu tư vào những dự án ít rủi ro và tạo được giá trị tốt trong tương lai vì các dự
án có rủi ro thấp sẽ cung cấp sự bảo đảm hơn cho các trái chủ, khi có một dòng tiền ổn
định được tạo ra. Tuy nhiên, dòng tiền an toàn lại không tạo ra mức lợi nhuận thặng dư
cho các cổ đông. Trong những trường hợp này, các cổ đông lại có động lực để từ chối
9
các dự án có giá trị hiện tại ròng dương. Myers (1977) gọi đây là vấn đề đầu tư dưới
mức. Các công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng có rất nhiều các dự án đầu tư sinh
lời. Tuy nhiên, quá nhiều cơ hội đầu tư sinh lời c ng sẽ khiến cho doanh nghiệp dễ bị
sai lầm trong đầu tư. Bởi vì, khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, những
người cho vay sẽ không còn muốn đầu tư vào doanh nghiệp nữa và họ chỉ quan tâm
đến việc thu hồi các khoản tiền đã cho doanh nghiệp vay. Myers (1977) trong bài
nghiên cứu của mình đã khẳng định rằng, chi phí đại diện có thể được kiểm soát bằng
cách rút ngắn thời gian đáo hạn có hiệu lực của nợ. Kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu
của Michael J. Barclay và Clifford W. Smith (1995) c ng cho thấy, tốc độ tăng trưởng
có tác động đến sự lựa chọn kỳ hạn nợ của các công ty. Trong giai đoạn tăng trưởng,
những công ty có doanh số tăng trưởng nhanh phải đầu tư thêm nhiều cho các hoạt
động phát triển thị trường, mở rộng thị phần, mua thêm tài sản cố định nên rủi ro kinh
(1995); Heyman và các cộng sự (2008); Ortiz-Molina và Penas (2008) c ng cho rằng,
các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao bị bắt buộc phải hạ thấp kỳ hạn nợ của họ
để giảm chi phí đại diện. Khi kỳ hạn nợ được rút ngắn, doanh nghiệp sẽ dễ dàng, linh
hoạt điều chỉnh cấu trúc vốn để đầu tư vào các dự án sinh lãi mà các cổ đông và trái
chủ đều hài lòng. Bên cạnh đó nợ ngắn hạn c ng được ưu tiên thanh toán trước nợ dài
hạn khi doanh nghiệp đối mặt với phá sản, giúp chủ nợ yên tâm hơn khi cho doanh
nghiệp vay nợ để thực hiện các dự án đầu tư.
Như vậy, khi doanh nghiệp có nhiều tiềm năng phát triển thể hiện qua tốc độ tăng
trưởng tốt, doanh nghiệp sẽ có càng nhiều các cơ hội đầu tư sinh lời, việc này sẽ làm
gia tăng mâu thuẫn đại diện. Các công ty này có thể kiểm soát chi phí đại diện bằng
cách rút ngắn thời gian đáo hạn của nợ (Myer, 1977). Bên cạnh đó, nợ ngắn hạn c ng
được ưu tiên thanh toán trước nợ dài hạn khi doanh nghiệp đối mặt với phá sản, giúp
chủ nợ yên tâm hơn khi thực hiện dự án đầu tư có tỷ lệ rủi ro cao. Như vậy, giả thuyết
2 được tác giả đề xuất như sau:
Giả thuyết H2: Tốc độ tăng trưởng cao có tương quan âm đối với kỳ hạn nợ.
11
Mối tương quan giữa quy mô công ty và sự lựa chọn kỳ hạn nợ của công ty
– Giả thuyết, kỳ vọng 3
Về mối tương quan giữa quy mô với việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong cấu trúc vốn,
hầu hết các nghiên cứu trước đây đều trưng ra bằng chứng rằng, có tồn tại mối tương
quan dương giữa quy mô với với việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong cấu trúc vốn của
các công ty. Những doanh nghiệp có quy mô lớn thường có khả năng đa dạng hóa tốt
và có dòng tiền ổn định hơn nên xác suất phá sản của các công ty này sẽ thấp hơn các
doanh nghiệp có quy mô nhỏ, từ đó dưới tác động của quy mô, cấu trúc vốn của các
doanh nghiệp có quy mô lớn có xu hướng thiên về sử dụng nợ nhiều hơn (Rajan và
Zingales, 1995; Keshar J. Baral, 2004; Deesomsak và cộng sự, 2004). Hơn nữa, nhiều
bài nghiên cứu c ng chỉ ra rằng các doanh nghiệp quy mô lớn có xu hướng ưa thích
công ty có quy mô lớn, nghĩa là quy mô công ty có ảnh hưởng đến sự lựa chọn kỳ
hạn nợ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường có mức tín nhiệm
thấp, điều này khiến họ khó tiếp cận vốn vay từ các chủ nợ, vì vậy sử dụng nợ ngắn
hạn là biện pháp khắc phục vấn đề này bởi vì việc sử dụng tín dụng ngắn hạn giúp cho
doanh nghiệp có thể thực hiện dễ dàng, thuận lợi hơn so với việc sử dụng tín dụng dài
hạn khi các điều kiện cho vay ngắn hạn mà ngân hàng thương mại và các tổ chức tài
chính khác đưa ra đối với doanh nghiệp thường ít khắt khe hơn so với tín dụng dài hạn.
Ngược lại, các doanh nghiệp có quy mô lớn được xem là có nguy cơ phá sản thấp hơn,
do đó, sẽ gặp ít trở ngại hơn khi nhận tài trợ từ bên ngoài. Họ sẽ chọn nợ dài hạn với
chi phí sử dụng vốn thấp và giúp doanh nghiệp ổn định trong sản xuất kinh doanh.
Michael J. Barclay và Clifford W. Smith (1995) c ng trưng ra bằng chứng cho thấy,
quy mô công ty có tác động đến việc chọn lựa kỳ hạn nợ của các công ty. Những công
ty có quy mô lớn, có chi phí đại diện cao vì có nhiều cấp bậc quản lý khác nhau, dẫn
đến việc tạo cơ hội cho ban quản lý doanh nghiệp trục lợi tài sản của công ty, hoặc lơ
là trong hoạt động quản lý. Tuy vậy, các công ty có quy mô lớn lại thường có được độ
tín nhiệm cao từ các chủ nợ nên các công ty này dễ dàng huy động nguồn tài trợ khi
cần thiết, vì vậy các công ty có quy mô lớn thường chọn phát hành các khoản nợ dài
13
hạn với lãi suất thấp, trong khi đó, các công ty có quy mô nhỏ do bị hạn chế trong việc
tiếp cận với các thị trường vốn để huy động nguồn tài trợ tăng thêm đáp ứng cho nhu
cầu tăng trưởng nên các công ty này thường sử dụng các khoản nợ ngắn hạn với lãi
suất cao nhưng điều kiện xét duyệt cho vay dễ dàng. Thân Thị Thu Thủy, Lê Văn Lâm
và Nguyễn Trung Thông (2014) khi nghiên cứu tại Việt Nam c ng cho thấy, các công
ty có quy mô càng lớn càng dễ dẫn đến tình trạng có nhiều ban quản lý ở các cấp khác
nhau, dẫn đến sự khó khăn trong việc kiểm soát chi phí đại diện, từ đó c ng ảnh hưởng
đến việc lựa chọn kỳ hạn nợ của các công ty.
Như vậy, các công ty có quy mô lớn thường có thông tin minh bạch giúp các chủ nợ có
cho vay từ chi phí đại diện của việc sử dụng nợ (Rajan và Zingales, 1995). Titman và
Harris (1984) cho rằng, tài sản hữu hình có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc
xác định mức độ nợ sử dụng trong cấu trúc vốn của công ty. Nếu nợ vay được bảo đảm
bằng tài sản, thì người đi vay sẽ bị hạn chế sử dụng vốn vay cho một dự án cụ thể và
chủ nợ có một sự đảm bảo an toàn cho khoản vay. Do đó, các công ty có tài sản cố
định nhiều sẽ có khả năng vay nợ nhiều hơn. Jensen và Meckling (1986) cho rằng nếu
một công ty có tài sản hữu hình cao thì tài sản này có thể được sử dụng làm tài sản thế
chấp, làm giảm rủi ro của người cho vay được xem như là khoản chi phí đại diện của
nợ. Ngoài ra, tài sản hữu hình có giá trị cao hơn tài sản vô hình trong trường hợp công
ty phá sản. Bởi vì nợ có thể được đảm bảo bằng việc thế chấp tài sản cố định hữu hình
nên cơ hội để doanh nghiệp có thể thực hiện việc thay thế tài sản của mình sẽ bị giảm
đi do sự hiện hữu của một tỷ lệ lớn nợ có đảm bảo, do đó mang lại một sự an toàn cho
chủ nợ (Stuzl và Johnson, 1985; Johnson, 1997). Bên cạnh đó, Williamson (1988) lập
luận rằng giá trị tài sản cố định hữu hình nhiều hơn c ng đồng nghĩa với giá trị thanh
khoản của doanh nghiệp càng cao, và do vậy làm an lòng các chủ nợ. Vì vậy, các
doanh nghiệp có tỷ lệ tài sản cố định hữu hình trên tổng tài sản cao thì cấu trúc vốn sẽ
có khuynh hướng thiên về nợ. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có mối quan hệ thân thiết
15
với các nhà tài trợ vốn thì vẫn có thể vay mượn mà không cần phải cung cấp nhiều
bằng chứng thế chấp (Berger và Urdell; 1994). Michael J. Barclay và Clifford W.
Smith (1995) c ng cho thấy, các công ty có xu hướng tài trợ cho các tài sản có tuổi thọ
dài như nhà máy, máy móc và thiết bị bằng nợ vay dài hạn. Các tài sản này phục vụ sản
xuất hay cung cấp dịch vụ qua nhiều năm nên công ty sẽ thu được tiền từ việc bán các
sản phẩm hay dịch vụ được tạo ra từ tài sản cố định trong thời gian dài ở từng kỳ cụ
thể. Số tiền này dùng để trả các khoản nợ tài trợ cho việc mua tài sản cố định trong
từng giai đoạn và sử dụng cho các mục đích khác nhau. Nếu tài sản hết thời hạn sử
dụng hữu ích trong khi các khoản nợ tài trợ vẫn còn, công ty sẽ không thu đủ tiền để trả