THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH bảo tồn và PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT LÀNG cổ ở ĐƯỜNG lâm HIỆN NAY - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THÀNH NAM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT LÀNG CỔ
Ở ĐƯỜNG LÂM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THÀNH NAM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT LÀNG CỔ
Ở ĐƯỜNG LÂM HIỆN NAY

Ngành: Chính sách công
Mã số: 834 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. CAO THU HẰNG

HÀ NỘI - 2020


phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Việt Nam hiện
nay ..................................................................................................... 26
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT LÀNG
CỔ Ở ĐƯỜNG LÂM HIỆN NAY................................................... 30
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di
tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay......................... 30
2.2. Thành tựu trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá
trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay và nguyên
nhân của chúng............................................................................. 37
2.3. Những hạn chế trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát
huy giá trị di tích kiến trục nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay... 53
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT LÀNG CỔ Ở ĐƯỜNG LÂM
HIỆN NAY ..................................................................................................... 60
3.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ sở pháp lý.............................. 60


3.2. Hoàn thiện công tác chỉ đạo, điều hành, phân công phối hợp ........... 62
3.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, truyền thông, phổ biến, giáo dục
nhằm nâng cao nhận thứccủa các bên liên quan ....................................... 64
3.4. Phát triển nguồn nhân lực .................................................................. 67
3.5. Đa dạng hoá các nguồn lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá
trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay................ 71
3.6. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và
hợp tác quốc tế .......................................................................................... 73
3.7. Một số giải pháp cụ thể khác ............................................................. 75
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 80

giành được độc lập, dù còn bộn bề công việc cần giải quyết, nhưng với tầm nhìn
của một vĩ nhân-danh nhân văn hóa kiệt xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc
lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam [13]. Sắc lệnh xác định
việc bảo tồn di sản văn hoá là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước nhà.
Để đáp ứng được yêu cầu của việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản
văn hoá, các chính sách về lĩnh vực trên từng bước được ban hành và đưa vào
thực tiễn như: Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998 cũng đã đề ra
nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể [3]. Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ Quyết định lấy ngày 23-11
hàng năm là Ngày Di sản văn hóa Việt Nam [45], nhằm phát huy truyền thống và
ý thức trách nhiệm trên lĩnh vực di sản văn hóa. Năm 2001, Luật Di sản văn hóa
ra đời và được sửa đổi, bổ sung năm 2009 [39], điều chỉnh cả di sản văn hóa vật
thể và di sản văn hóa phi vật thể.
Trong những năm qua, các di sản văn hóa được nhận diện giá trị, bảo tồn
và phát huy, góp phần quan trọng vào việc giáo dục lịch sử, vun đắp truyền
thống tốt đẹp của dân tộc; góp phần xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia ra
thế giới thông qua các hoạt động du lịch, giao lưu văn hóa, hợp tác phát triển
kinh tế - xã hội,... Di sản văn hóa ở Việt Nam đã và đang ngày càng rõ hơn vai
trò quan trọng trong việc giáo dục con người phát triển toàn diện, hình thành nên
nguồn nhân lực góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
1


Cùng với các di sản khác của đất nước, di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ
ở Đường Lâm với những giá trị vô cùng to lớn và đã được Bộ Văn hoá Thông tin
(nay là Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật
cấp quốc gia ngày 28/11/2005 [10].
Nhận thức được tầm quan trọng cả về lý luận và thực tiễn của di tích kiến
trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm, trong những năm qua, các cấp ủy Đảng,
chính quyền Thị xã Sơn Tây đã tích cực đề xuất, tham mưu cho các cơ quan cấp

thực trạng thực hiện và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu
quả chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuậtlàng cổ
ở Đường Lâm là rất quan trọng.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu “Thực hiện chính sách
bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm
hiện nay”là có giá trị lý luận và thực tiễn cần thiết ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy di sản
nói
chung:
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch – Tổng cục du lịch phối hợp cùng Cơ
quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) xuất bản công trình “Cẩm nang thực tiễn
phát triển du lịch nông thôn Việt Nam”[72]. Công trình đề cập đến việc nhận
thức về du lịch nông thôn hiện nay; đã đưa ra phương pháp và quy trình phát
triển du lịch nông thôn ở Việt Nam, thông qua việc phân tích, giới thiệu một số
mô hình thực tế phát triển du lịch nông thôn hiện nay như: tại làng Đường Lâm,
thành phố Hà Nội; Làng Bồ Dương, xã Hồng Phong, tỉnh Hải Dương; Làng
Phước Tích, tỉnh Thừa Thiên Huế; Du lịch dựa vào cộng đồng Cơ Tu, huyện
Nam Giang, tỉnh Quảng Nam;vai trò và sự liên kết của các cơ quan hữu quan và
đề xuất thêm một số phương pháp phát triển du

lịch nông thôn có liên

quan.Những nội dung trình bày trong công trình là những gợi mở quan trọng
trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di dích lịch sử - văn hóa nói chung, ở làng
cổ Đường Lâm nói riêng.
Kỷ yếu hội thảo do UBND thành phố Hà Nội phối hợp với Trung ương
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 19/9/2018 tại Hà Nội. Các tham
luận được chia ra làm 3 nhóm: Những vấn đề chung với tham luận “Bảo vệ và
phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa đặc sắc của Thủ đô Hà Nội”; lĩnh vực

nội dung quản lý của các cấp, các ngành; việc đào tạo, học hỏi kinh nghiệm
trong và ngoài nước để nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn cho cho các
Kiến trúc sư, đến việc phát huy vai trò của cộng đồng trong lĩnh vực bảo tồn và
phát huy giá trị di tích [8].


Tác giả Hà Thị Thuỳ Dương trong bài viết “Giải quyết mối quan hệ giữa
bảo tồn, phát huy di sản văn hoá với phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay” đã
phân tích dựa những quy định hiện hành, những lý luận và những ví dụ thực tiễn
để nêu bật mối quan hệ chặt chẽ giữa bảo tồn và phát huy di sản văn hóa với phát
triển du lịch; thực trạng cũng như dự báo của sự phát triển du lịch có ảnh hưởng
tiêu cực của đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản, đồng thời đưa ra bảy
giải pháp để giải quyết các vấn đề trên [19].
Bài viết của tác giả Phạm Hùng Cường “Nhận diện giá trị di sản trong
công tác bảo tồn”, đã phân tích vai tr của lý luận trong việc nhận diện giá trị di
sản, khẳng định cần có lý luận nhận diện giá trị một cách đầy đủ, đúng đắn thì
mới có thể đề ra cách thức bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá đúng đắn.
Muốn làm được điều đó, theo tác giả cần xây dựng lý luận nhận diện di sản văn
hoá “tích hợp”, việc tích hợp là cần được xem xét dưới các góc độ, giá trị như:
Giá trị tự bản thân của di sản, các giá trị trị kế thừa, chuyển tiếp, giá trị văn hoá
phi vật thể ẩn mình trong di sản và các giá trị khi kết hợp các giá trị trên. [14];
Trong bài viết “Bảo tồn thích ứng các di sản làng xã truyền thống trong
quy hoạch nông thôn mới”, tác giả cho rằng, việc bảo tồn di sản các làng xã
truyền thống hiện nay cần đặt trong điều kiện của phát triển kinh tế xã hội, trong
quá trình lập quy hoạch nông thôn mới cần có sự thay đổi rõ nét hơn, từ các cấp
quản lý - trong việc nghiên cứu để ban hành bổ sung các quy định, hướng dẫn cụ
thể hơn nội dung bảo tồn di sản trong công tác lập đồ án quy hoạch xây dựng
nông thôn mới, đến các nhà chuyên môn - cần được trang bị lý luận về nhận diện
các giá trị di sản, các phương pháp bảo tồn để có thể đưa ra các giải pháp quy
hoạch đúng đắn [15].

Thứ hai, những công trình nghiên cứu liên quan đến việc bảo tồn và
phát huy giá trị di tích kiến trúc và di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường
Lâm:
Liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát huy di tích kiến trúc, có thể có đến
các công trình “Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc”[28] của tác giả Nguyễn
Khởi (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 2011): công trình làm rõ một số khái niệm liên
quan, như bảo tồn, trùng tu, bảo tồn và trùng tu di sản văn hóa; làm rõ thực trạng


công tác bảo tồn và trùng tu di tích của một số quốc gia trên thế giới, cho thấy
những thành công và hạn chế của công tác này ở một số quốc gia trên thế giới;
trên cơ sở đó, công trình đã đưa ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Công trình “Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển”[21], tác giả Phan
Thanh Hải đã làm rõ inh nghiệm bảo tồn di sản của một số quốc gia trên thế
giới; khẳng định rằng,những kinh nghiệm bảo tồn di sản kiến trúc của các quốc
gia trên thế giới là bài học hữu hiệu cho Việt Nam trong thực hiện công tác bảo
tồn di sản kiến trúc. Công trình cũng đã đánh giáthực trạng hoạt động bảo tồn di
sản kiến trúc ở Thành phố Hồ Chí Minh; làm rõ nguyên nhân của thực trạng
này; qua đó đã đưa ra những giải pháp, định hướng, nhằm làm cho quá trình này
ngày càng hiệu quả hơn.
Ngoài các công trình trên, trước đó c n có các bài viết của các tác giả Đỗ
Thanh Tùng, Nguyên tắc nào để ứng xử với kiến trúc “gốc” của di tích[50]; Đào
Ngọc Nghiêm, Di sản kiến trúc Hà Nội- nhận diện để bảo tồn và phát triển[35];
Hoàng Đạo Kính, Duy trì giá trị lịch sử phải là ưu tiên số một của trùng tu di
tích[30]. Các công trình đều khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản
kiến trúc, đề xuất một số vấn đề mang tính phương pháp luận trong bảo tồn di
sản kiến trúc,cho thấy tính đặc thù nhất định của bảo tồn di sản kiến trúc so với
các di sản văn hóa phi vật thể khác.
Tác giả Nguyễn Quốc Hùng năm 2005, có bài tham luận “Bảo tồn các
làng cổ ở xã Đường Lâm – Thực trạng và giả pháp”[26] tại hội thảo về làng cổ

Trong công trình “Di sản Đường Lâm - Ẩm thực và Trang phục truyền
thống”[33], tác giả Phan Hải Linh đã nghiên cứu về nguyên liệu, cách chế biến
các món ăn, đồ uống của người dân trong những bữa ăn thường ngày cũng như
trong ngày tết, lễ; một số loại trang phục truyền thống từ quy trình dệt vải,
phương pháp nhuộm đến cách thức may trang phục, từ đó đề xuất một số biện
pháp bảo tồn trang phục và ẩm thực truyền thống của Đường Lâm.
Hội thảo ngày 20/11/2019 tại di tích làng cổ ở Đường Lâm, một số nhà
nghiên cứu, quản lý đã có bài phát biểu về giải pháp phát triển du lịch cho di tích
làng cổ Đường Lâm, như: Nguyễn Anh Tuấn ”Một số định hướng, giải pháp
phát


triển du lịch tại làng cổ Đường Lâm”; Dương Văn Sáu “Kỹ năng hướng dẫn
tham quan và phục vụ khách du lịch tại làng cổ Đường Lâm”; Nguyễn Tiến Đạt
“Giải pháp phát triển du lịch ở Làng cổ Đường Lâm”; Nhà báo Hà Nguyên
Huyến có bài: “Du lịch Làng cổ ở Đường Lâm –Thực trạng và giải pháp”; Bùi
Thị Thu Phương “Khai thác nguồn tài nguyên di tích phục vụ cho phát triển du
lịch: Vận dụng ở làng cổ Đường Lâm”... Ở các góc độ khác nhau, các bài viết
đều thể hiện được sự nghiên cứu sâu về thực trạng, đề ra các giải pháp cho việc
phát huy giá trị di tích làng cổ ở Đương Lâm.
Các bài viết, công trình nghiên cứu, ý kiến của các nhà quản lý, chuyên
gia,

nêu trên đã phản ánh ở những khía cạnh, góc độ nhất định, đã có những

phân tích, quan điển, nhìn nhận vấn đề ở các mức độ khác nhau từ lý luận, thực
trạng đến giải pháp đã góp phần tạo nên bức tranh đa chiều hơn về công tác bảo
tồn và phát huy giá trị di sản hiện nay ở Việt Nam nói chung, ở Đường Lâm nói
riêng, qua những kinh nghiệm, những minh chứng cụ thể. Tuy nhiên, như đã
trình bày, chưa có công trình nào triển khai nghiên cứu việc thực hiện chính sách

Thời gian: Từ năm 2014 đến nay (vì đây là thời điểm Quy hoạch bảo tồn
và phát huy giá trị di tích làng cổ ở Đường Lâm được áp dụng trong việc bảo tồn
và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân
tích, so sánh, tổng hợp, thống kê; thu thập, sử lý tài liệu thứ cấp, điền dã thực
địa,
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận thực hiện chính sách
bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện
nay.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di
tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay.


Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy về
chính sách công, những vấn đề liên quan đến văn hoá, bảo tồn và phát huy di sản
văn hoá, đồng thời có ý nghĩa huyến nghị trong việc nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở
Đường Lâm hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh
mục các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục theo 3
chương 14 tiết


triển kiến trúc, nghệ thuật”[70, tr.10]


Như vậy, theo quy định về các tiêu chí trên thì ta có thể hiểu di tích iến
trúc nghệ thuật là một bộ phận, là một phần của di tích lịch sử - văn hóa, có giá
trị tiêu biểu về iến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử, liên
quan đến iến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử, quá trình
hình thành, xây dựng và phát triển đất nước; là nơi ghi dấu những công sức, trí
tuệ của con người qua quá trình lao động, sáng tạo. Di tích iến trúc nghệ thuật
là tài sản quý giá của nhân loại, của đất nước là những bằng chứng cụ thể, chính
xác minh chứng cho một thời ỳ phát triển của lịch sử, chứa đựng các giá trị cả
về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Di tích iến trúc nghệ thuật tồn tại hông chỉ là dấu mốc về thời gian đã
qua của dân tộc mà c n là những vết son sáng của nền văn hóa hiện tại thể hiện
đỉnh cao giá trị chân - thiện - mỹ qua từng thời ỳ.
Theo cách xếp hạng di tích [70, tr.11-12], thì hiện nay tại Việt Nam có 3
mức độ xếp hạng di tích là: Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu cho địa
phương; Di tích cấp quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu cho quốc gia; Di tích
cấp quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu cho quốc gia. Căn cứ
vào các giá trị thực trạng của di tích, nhà nước có các sự xếp hạng khác nhau, từ
đó có những cơ chế, chính sách cho phù hợp với nhu cầu của từng loại hình di
tích cũng như nhu cầu của xã hội.
* Kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Việt Nam:
- Làng Việt Nam: quá trình hình thành và phát triển
Trong thời ỳ nguyên thủy, con người sống cuộc sống du canh, du cư nên
xóm làng chưa thể ra đời. Vào giai đoạn nghề nông bắt đầu xuất hiện, để thuận
tiện cho việc làm nông con người cần sống gần nơi mình làm nông nghiệp, từ
đây xóm làng bắt đầu được hình thành, cùng với sự phát triển của nông nghiệp
mà cụ thể là nghề trồng lúa nước, là sự phát triển, mở rộng quy mô của xóm
làng. Làng xóm thời ỳ đầu của người Việt còn được gọi với những tên gọi khác

lớn,

, c n lại thuộc quyền tự trị, tự quản của các làng xã.
Cơ cấu tổ chức làng xưa đơn giản nhưng chặt chẽ, hệ thống tổ chức gồm

Hội đồng hương chính và Lý trưởng do dân làng tự bầu, Nhà nước phê chuẩn,
nếu vị chức sắc nào thực hiện trách nhiệm ém cỏi hay có sai phạm, dân làng sẽ
bầu người hác thay thế. Làng có đội ngũ tuần phiên, có trách nhiệm bảo vệ an
ninh, trật tự trong làng và ngoài đồng. Do tính chất tự trị, tự quản cao như thế
nên người ta đánh giá làng cổ truyền Việt Nam “như một nước cộng h a thu


nhỏ”, với những thiết chế chặt chẽ, những quy định bảo đảm “dân chủ làng xã”
và cố ết cộng đồng rất cao[27].
Những đặc điểm đó hiến làng xã xưa bình yên, vững vàng trước các yếu
tố ngoại lai trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước.
- Kiến trúc làng cổ Việt Nam :
Nhìn về tổng thể, kiến trúc làng cổ Việt Nam, hởi nguồn từ đồng bằng Bắc
Bộ có tính liên hoàn cao. Sau luỹ tre xanh là những con đường dẫn vào các thôn
xóm. Trong làng có nhiều ngõ nhỏ thông với nhau để người làng đi lối nào cũng
có thể về nhà. Cấu trúc này thuận tiện cho cuộc sống canh tác lúa của người
Việt; hình thành các thiết chế xã hội, tổ chức bộ máy quản lý trong mỗi làng.
Trải qua nhiều thế hệ, cấu trúc làng cùng những tập quán văn hoá ấy đã tạo ra
không gian làng quê yên bình.
Kiến trúc nghệ thuật các công trình trong làng cổ, được nhìn nhận, đánh giá
thông qua giá trị iến trúc nghệ thuật các thành tố tạo nên diện mạo làng cổ như:
Cổng làng, Cây đa đầu làng, Bến nước, Giếng làng, Đình làng, Hương lộ (đường
làng), Lũy tre làng, Xóm, Ngõ, Nhà ở, Chùa làng, đền, miếu, Chợ làng, Cổng
phụ (cổng sau), các công trình nhà cổ, cánh đồng làng,.. Các giá trị iến trúc
nghệ thuật này có giá trị tiêu biểu về iến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều

Theo từ điển Tiếng Việt (2011) “Chính sách là những sách lược và kế
hoạch cụ thể nhằm đề ra mục đích nhất định, dựa và đường lối chính trị chung
và tình hình thực tế mà đề ra” [49, tr.88]
Như vậy, có thể thấy rằng: Chính sách là những hành động, ứng xử của chủ
thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được
mục tiêu nhất định.
Cụm từ “chính sách” hi gắn việc thực hiện chức năng, vai tr của nhà
nước (khu vực công) được gọi là chính sách công. Thuật ngữ “chính sách” sử
dụng trong luận văn này được hiểu là chính sách công. Có nhiều quan niệm khác
nhau về chính sách công. Trong luận văn này, đề tài đồng ý với nhận định của
tác giả Nguyễn Hữu Hải khi cho rằng, “Chính sách công là những hành động
ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được


thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [20,
tr.14].
*. Khái niệm thực hiện chính sách
Trong một số tài liệu, một số cụm từ hay được sử dụng, như: “thực thi
chính sách”, “tiến hành thực hiện chính sách”, “thực hiện chính sách” nhưng
thực chất nội hàm chungcủa nó thì đều thể hiện đây là một giai đoạn trong chu
trình chính sách, đó là giai đoạn tiếp sau quá trình hoạch định và là giai đoạn
trước của giai đoạn đánh giá chính sách.
Theo Thomas Dye, “thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế
để thực hiện các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp. Vì
các chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nên chính
phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau đó được thực
hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích”
Tác giả William Dunn cho rằng: “Các hành động chính sách công có hai
mục đích chính: điều chỉnh và phân bổ”
Tác giả Lê Như Thanh, Lê Văn H acho rằng “Các hành động điều chỉnh

1.1.3. Bảo tồn và phát huy
Có nhiều hái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” tuỳ
từng lĩnh vực hác nhau, nhưng để làm rõ hơn hái niệm về bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa, ta có thể hiểu như sau:
Bảo tồn di sản (heritage preservation) được hiểu như là các phương pháp
hành động, nỗ lực để bảo đảm hả năng tồn tại một cách an toàn các di sản văn
hoá.
Phát huy di sản (heritage promotion): là những hành động có mục đích
đưa di sản văn hóa vào trong cuộc sống xã hội, nhằm mang lại những lợi ích, ý
nghĩa về cả vật chất và tinh thần cho con người, đồng thời coi đó là nguồn tài
nguyên có tiềm năng lớn để phát triển inh tế xã hội.
Hiện nay, trên thế giới có 02 quan điểm về bảo tồn là: Bảo tồn nguyên vẹn
(bảo tồn trên cơ sở dạng tĩnh) và bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trên cơ sở
dạng động).


Với quan điểm thứ nhất,bảo tồn nguyên vẹn“ những sản phẩm của quá
khứ, nên được bảo tồn một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi
nguyên gốc các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di
sản khỏi môi trường xã hội đương đại”[69]. Theo quan điểm này di sản văn hoá
sẽ không bị ảnh hưởng, tác động của môi trường bên ngoài, tránh được sự tổn
hại, sự phá hoại của môi trường bên ngoài, do vậy di sản có thể tồn tại được thời
gian dài hơn. Tuy nhiên, các di sản văn hoá nói chung luôn tồn tại với môi
trường và gắn bó với đời sống cong người. Do vậy, bảo tồn theo quan điểm này
này làm di sản không phát huy hết giá trị vốn có của mình trong đời sống xã hội.
Với quan điểm thứ hai, bảo tồn trên cơ sở kế thừa “di sản như một ngành
công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương tự với cách thức
quản lý của một ngành công nghiệp văn hoá với những logic quản lý đặc biệt,
phù hợp với tính đặc thù của các di sản”[69]. Theo quan điểm này có nguy cơ
cao làm biến dạng các di sản văn hoá, làm cho các di sản văn hoá giảm thậm chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status