tiểu luận tài chính tiền tệ tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của lạm phát đến sự tăng trưởng kinh tế - Pdf 65

LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới hầu hết các nước đều theo đuổi mục tiêu tăng trường
kinh tế cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư... Tuy
nhiên trong đó, tăng trưởng cao và lạm phát thấp được xem như hai mục tiêu có
tầm quan trọng hàng đầu. Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai mặt của xã
hội, là hai vấn đề lớn cơ bản của kinh tế vĩ mô và có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau.. Lạm phát có thể coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng nó lại là vấn
đề luôn tồn tại song song với tăng trưởng. Lạm phát chỉ có thể ở một ngưỡng
nhất định mới phù hợp cho sự tăng trưởng kinh tế.
Trong thực tế , không một quốc gia nào dù phát triển hay đang phát triển có
thể tránh khỏi lạm phát . Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã
trải qua các cuộc khủng hỏang kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô
khác nhau .Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp và mọi giai đoạn phát
triển kinh tế, sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát đều sẽ
tuân theo quy luật kinh tế mà sẽ có những diễn biến phức tạp. Lạm phát trong
các trường hợp cụ thể sẽ có ảnh hưởng ở những mức độ và khía cạnh khác
nhau. Do vậy việc xem xét kỹ vấn đề lạm phát và sự ảnh hưởng của lạm phát
trong điều kiện cụ thể đặc biệt là với bối cảnh hội nhập kinh tế ở Việt Nam là
cực kỳ cần thiết, để từ đó có những biện pháp kịp thời để kiểm soát lạm phát để
đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trong chặng đường tiếp theo.
Chính vì những điều này đã định hướng chúng em lựa chọn đề tài
“Tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của lạm phát đến sự tăng trưởng kinh tế”
để đưa ra cái nhìn tổng quan về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh
tế trên thế giới từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Nội dung đề tài tiểu luận gồm 3 phần:
Phần 1: Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
Phần 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu
2



trong giai đoạn 1971- 1998 để phân tích ngưỡng ảnh hưởng của lạm phát đến
tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy rõ ràng rằng sự gia tăng trong lạm phát từ
bất kỳ mức nào đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và sự gia
tăng đáng kể có thể đạt được bằng việc tập trung chính sách tiền tệ hướng vào
duy trì giá cả ổn định.
1.1.4. Anhdres và Hernando (1997) đã thu được một mối quan hệ tiêu
cực có ý nghĩa giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài. Lạm
phát làm giảm mức độ đầu tư cũng như hiệu quả sử dụng các yếu tố. Nó có một
tác động tiêu cực nhất thời lên tốc độ tăng trưởng dài hạn và lần lượt tạo ra sự
sụt giảm trong thu nhập bình quân đầu người. Họ kết luận rằng chi phí của lạm
phát trong dài hạn là lớn và việc nỗ lực kiềm chế lạm phát sẽ phải đánh đổi
trong điều kiện tăng trưởng kinh tế tốt hơn
1.1.5.Faria và Carneiro (2001) điều tra nghiên cứu mối quan hệ giữa
lạm phát và đầu ra trong một nền kinh tế đối mặt với những cú sốc lạm phát cao
liên tục. Các tác giả này áp đặt cấu trúc tối thiểu và sử dụng ý tưởng rằng những
cú sốc lạm phát có thể phân ra thành những thành phần tạm thời và thành phần
dài hạn. Kết quả chỉ ra rằng trong dài hạn, sự phản ứng của đầu ra đối với một
cú sốc lạm phát dài hạn trong một đất nước có lạm phát cao là không khác đáng
kể so với con số không.
4


1.1.6. Bruno và Easterly (1995) xác định một thời kỳ khủng hoảng lạm
phát như là một khoảng thời gian khi tỷ lệ lạm phát vượt quá 40%, cố gắng để
đánh giá nước đó thực hiện như thế nào trước, trong và sau thời kỳ khủng
hoảng. Kết quả chỉ ra rằng ở mức lạm phát cao hơn, có một mối quan hệ tiêu
cực giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, theo đó, chi phí lạm phát sẽ cao hơn.
Tại mức lạm phát thấp và vừa phải, kết quả là không rõ ràng và cho thấy rằng
không có mô hình phủ hợp. Họ tin rằng sẽ có sự hồi phục của nền kinh tế nếu
giảm lạm phát thành công sau khủng hoảng

thông gây ra sự tăng trưởng, và tăng trưởng gây ra lạm phát. Kết luận thú vị là
sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông không nhất thiết gây ra sự gia tăng của
mức giá chung.
5


1.1.11. Chimobi (2010) cố gắng để xác định nếu có mối quan hệ giữa
tăng trưởng và lạm phát bằng việc sử dụng chỉ số giá tiêu dùng của Nigeria từ
1970 – 2005. Ông ta kết luận rằng trong dài hạn không có mối quan hệ giữa
lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria nhưng trong ngắn hạn thì lạm phát có
ảnh hưởng đến tăng trưởng.
1.1.12. Nell (2000) nghiên cứu chi phí và lợi ích của lạm phát bằng
cách phân chia kinh nghiệm lạm phát của Nam Phi thành 4 thời kỳ. Nghiên cứu
thực nghiệm chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát là mối quan
hệ phi tuyến tính. Trong khi lạm phát ở mức một con số là có lợi đối với tăng
trưởng trong khi chi phí trong điều kiện tăng trưởng thấp lại ở mức cao.
1.1.13. Leshero (2012) sử dụng phương pháp hồi quy được phát triển
bởi Khan và Senhadji (2001) chỉ ra rằng ngưỡng lạm phát là 4% cho các nước
Nam Phi. Tại mức lạm phát dưới ngưỡng này, có mối quan hệ tích cực giữa lạm
phát và tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ này là không đánh kể. Nhưng tại
mức lạm phát trên ngưỡng này, mối quan hệ này là tiêu cực và đáng kể.
1.1.14. Dr. sc. Mario Švigir, Josipa Miloš, struč. spec. oec. (University
College Effectus – College for Finance and Law, Trg J.F. Kennedy 2, 10000
Zagreb) (2017). Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế,
so sánh giữa Ý và Áo (Relationship between inflation and economic growth
comparative experience of italy and austria)

6



lạm phát không có tác động thực sự trong thời gian dài và hỗ trợ cho những
phát hiện của Fischer (1979) trong cân bằng tiền tệ và tiêu dùng.
1.1.16. Một trong những mục tiêu quan trọng đối với các nước phát
triển như Bangladesh là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao. Có nhiều nhân
tố ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế, và một trong những nhân tố quan
trọng nhất phải đề cập đến là “lạm phát”. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế là không cần bàn cãi, vì thế Viện Khoa học Mỹ (AIS) đã thực
hiện một bài nghiên cứu để chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế của Bangladesh. Bài nghiên cứu được thực hiện vào cuối năm
2015 và được phát hành online vào 24/2/2016.
Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây của Fisher, Sidrauski,
Baro, Mallik và Chowdhury, nghiên cứu chỉ ra các quan điểm về mối quan hệ
nhân quả đơn phương giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Từ những điều tra thực nghiệm về lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế
ở Bangladesh từ năm 1980-2005, nhóm tác giả đã tìm thấy mối quan hệ tiêu cực
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Họ cũng ước tính mức lạm phát cao hơn 6%
so với mức lạm phát cho thấy tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Dữ liệu hàng năm
trong giai đoạn 1975-2013 cũng đã được sử dụng trong bài nghiên cứu. Trong
nghiên cứu hiện tại, hợp tác và lỗi mô hình hiệu chỉnh được sử dụng để

8


tìm mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cho
Bangladesh.
1.1.17. Bài phân tích ngưỡng lạm phát của Phần Lan (1980-2010)
được thực hiện bởi Khayroollo Sattarov, đến từ trường đại học UMAE, vào
đầu năm 2011. Trong bài nghiên cứu, tác giả thảo luận ngắn gọn về hai lý
thuyết kinh tế cơ bản liên quan đến chủ đề này: Lý thuyết tiền tệ và Lý thuyết
tăng trưởng tân cổ điển. Nhìn chung, kết quả thu được cho thấy mối liên hệ

2,68% (1961-1977). Trong thời gian đó, Trung Quốc đã gặp phải nhiều khó
khăn bao gồm tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của Cuộc cách mạng
văn hóa và thiên tai ba năm cùng các yếu tố khác. Kể từ năm 1978, nền kinh tế
Trung Quốc đã tăng trưởng ổn định mặc dù tốc độ tăng trưởng vẫn còn nhiều
biến động. Từ 1978 đến 2007, tốc độ tăng trưởng của GDP Trung Quốc và GDP
thực tế bình quân đầu người trung bình lần lượt là 9,92% và 8,69%.
Mặc dù hiệu suất kinh tế của Trung Quốc rất đặc biệt trong ba mươi
năm qua, tuy nhiên nghiên cứu đã chỉ ra rằng nền kinh tế Trung Quốc phát triển
một cách kém hiệu quả, chủ yếu dựa vào lượng vốn đầu vào lớn thay vì tiến bộ
của công nghệ thống trị ở các nền kinh tế phát triển. Kết quả của bài nghiên cứu
đưa ra một số ý nghĩa rất quan trọng đối với chính sách kinh tế vĩ mô của Trung
Quốc. Mối quan hệ nhân quả tích cực hai chiều tích cực giữa lạm phát và kinh
tế cho thấy Trung Quốc nên kiểm soát mức độ lạm phát khi nền kinh tế phát
triển với tốc độ cao.
1.1.19. Keorapetse Khoza và Relebogile Thebe và Andrew Phiri, vào năm
2016, đã phân tích mối quan hệ phi tuyến tính giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
ở Nam Phi. Đặc biệt họ đã thiết lập một ngưỡng tỉ lệ trong mối quan hệ giữa lạm
phát và tăng trưởng thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy chuyển tiếp
trơn(STR) cùng với nguồn dữ liệu thu thập từ năm 2001 đến năm 2016. Những kết
quả nghiên cứu cũ đã xác nhận một ngưỡng lạm phát 5,4% , dưới ngưỡng này lạm
phát gây ra những hiệu ứng tích cực cho tăng trưởng, khi vượt qua ngưỡng này nó
gây ra hiệu ứng ngược lại. Trong nghiên cứu này, các tác giả
đưa ra lời ủng hộ cho công bố của ngân hàng Dự trữ Nam Phi(SARB) về mức 10


lạm phát tối ưu nhất sẽ nằm trong khoảng mục tiêu từ 3%-6%. Kết quả cho
thấy, sau khi sử dụng mô hình STR cùng những số liệu về nền kinh tế Nam Phi
từ năm 2001 đến 2016, cuộc nghiên cứu đã cho thấy tỉ lệ lạm phát tối ưu nằm
vào khoảng 4,8%. Và một cách tình cờ, nó thực sự nằm trong khoảng lạm phát
mục tiêu được công bố của SARB. Điều đó đã xác nhận, ngưỡng lạm phát tối

phát đóng góp 18% vào sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế. Còn trong khoảng
thời gian 20 năm từ 1990 - 2009, lạm phát chỉ đóng góp 12% vào sự thay đổi
của tốc độ tăng trưởng kinh tế đo bằng tốc độ tăng GDP. Như vậy, nếu chỉ sử
dụng hệ số tương quan giữa CPI và tốc độ tăng GDP ở trên để đưa ra các con số
dự báo về tỷ lệ lạm phát khi muốn đạt tốc độ tăng trưởng nhất định hoặc ngược
lại, đưa ra con số dự báo về tốc độ tăng trưởng kinh tế nhằm mục tiêu kiểm soát
lạm phát ở một mức nhất định là không chính xác. Bởi lạm phát chỉ là một yếu
tố, dù quan trọng, trong vô vàn các yếu tố khác tác động tới tăng trưởng kinh tế.
- Ngưỡng lạm phát ở Việt Nam nên là 5% - 6%. Ở mức lạm phát xoay quanh
khoảng 5% - 6% thì lạm phát lại ảnh hưởng tương đối lớn đến tăng trưởng kinh
tế. Ở khoảng này, lạm phát có thể giải thích được xấp xỉ 50% (0,74* -0,74 =
0,547) sự thay đổi của GDP. Khi chọn mức lạm phát 5 - 6% làm ngưỡng thì nếu
lạm phát Việt Nam ở dưới mức này để tăng tốc độ tăng trưởng, Chính phủ có thể
thực hiện các giải pháp để tăng lạm phát và việc tăng lạm phát cho đến ngưỡng
6%/năm không quá nguy hại đến nền kinh tế. Còn nếu lạm phát đang ở trên
ngưỡng 6%, để tăng trưởng kinh tế, Chính phủ lại phải điều tiết giảm lạm phát
1.2.2. Lê Văn Hải (Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí
Minh. Nghiên cứu Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, thực trạng và
giải pháp (2015)
Kết quả nghiên cứu: Lạm phát có ảnh hưởng nhất định nhất định đến sự
phát triển kinh tế, xã hội tùy theo mức độ của nó. Ở Việt Nam, lạm phát mấy năm
gần đây có xu hướng giảm, song vẫn cao hơn tăng trưởng kinh tế. Lạm phát ở Việt
Nam diễn biến thất thường. Tỷ lệ lạm phát gia tăng và biến động thất thường trong
giai đoạn 2007 – 2013 đã tác động xấu đến tốc độ phát triển của nền kinh tế. Việc
kiểm soát lạm phát có ý nghĩa quan trọng với tăng trưởng kinh tế. Để kiểm soát
được lạm phát, Nhà nước cần xác định các chỉ số lạm phát và tăng trưởng kinh tế
phù hợp trong từng thời kỳ cụ thể, tác động vào cung tiền tệ, mở rộng cầu tiền tệ,
sử dụng hiệu quả các công cụ chính của chính sách tiền tệ.

12

đẩy tăng trưởng kinh tế và do đó sẽ kiềm chế được lạm phát. Bên cạnh đó tập 13


trung xây dựng chiến lược trung và dài hạn, ưu tiên phát triển ngắn hạn để lấy
đà phát triển trong dài hạn.
1.2.5. Bài nghiên cứu “Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và lạm phát ở Việt Nam thông qua mô hình kinh tế lượng” của Ths. Phùng Duy
Quang và Th.S Lê Văn Tuấn được đang trên tạp chí KTĐN số 58 nghiên cứu về
mối quan hệ giữa tăng trưởng (G) và lạm phát (I) có sử dụng mô hình đồng liên
kết và mô hình sai số hiệu chỉnh được đề xuất bởi Engel và Granger (1987).
Số liệu nghiên cứu gồm 2 biến: chỉ số giá tiêu dùng CPI và Tổng thu
nhập quốc nội GDP giai đoạn 2008-2012 do Tổng cục thống kê Việt Nam công
bố. Từ các phân tích của bài nghiên cứu có thể đưa ra kết luận rằng, mối quan
hệ giữa lạm phát và tăng trưởng ở VN giai đoạn 2008-2012 về cơ bản thống
nhất với các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới. Bài nghiên cứu
cũng đã đề xuất một số giải pháp như là chính phủ không nên theo đuổi chính
sách lạm phát thấp mà nên tập trung vào việc phát triển kinh tế vững mạn trong
dài hạn thông qua hội nhập, hạn chế yếu kém quốc gia....
1.2.6. Nghiên cứu của THS.Nguyễn Minh Sáng & Ngô Nữ Diệu Khuê
được tiến hành nhằm kiểm định mối quan hệ phi tuyến tính giữa lạm phát và
tăng trưởng kinh tế. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp tự hồi quy với bảng
số liệu của 17 nước Albania, Armenia, Brazil, Chile, Colombia, Ghana,
Guatemala, Hungary, Indonesia, Israel, Mexico, Peru, Philippines, Romania,
Thailand, Turkey và VN từ năm 2000 đến 2012 được thu thập từ nguồn số liệu
của World Bank từ năm 2000 đến 2012. 17 quốc gia trên đều nằm trong danh
sách các nước có lạm phát cao nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở 17 nước
nghiên cứu, ngưỡng lạm phát tìm được ở mức 11%-12%. Khi lạm phát dưới
ngưỡng này, tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế là không rõ ràng, và
khi lạm phát trên ngưỡng này thì lạm phát tác động tiêu cực đến tăng trưởng
kinh tế.

- Theo Keynes: Cung tiền tăng nhanh mức giá chung tăng nhanh liên
tục
1
5


- Theo Milton Friedman: "Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo
dài", ông cho rằng "lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền
tệ"
Lạm phát là hiện tượng kinh tế, trong đó giá cả tăng nhanh, liên tục và
kéo dài làm cho tiền tệ mất giá so với so với hàng hoá, ngoại tệ và vàng.
Bản chất của lạm phát là hiện tượng tiền tệ khi những biến động tăng
lên của giá cả diễn ra trong một thời gian dài.
b) Phân loại lạm phát:
Lạm phát vừa phải (mild inflation) là lạm phát ở mức độ thấp còn gọi
là lạm phát một con số. Biểu hiện ở giá cả hàng hóa tăng chậm trong khoảng
10% trở lại.
Lạm phát phi mã (strato inflation) là lạm phát xảy ra khi giá cả bắt đầu
tăng với tỷ lệ hai con số như 10% - 99%. Khi lạm phát phi mã phát sinh nó bắt
đầu ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội.
Siêu lạm phát (hyper inflation) xảy ra khi tốc độ tăng giá với tỷ lệ ba
con số trở lên vượt xa lạm phát phi mã.
c) Nguyên nhân lạm phát:
Quan điểm 1: Lạm phát tiền tệ. Lạm phát này xảy ra khi tốc độ tăng
trưởng cung tiền vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sự của nền kinh tế.
Quan điểm 2: Lạm phát cầu – kéo: Xảy ra khi những nhà hoạch định
chính sách theo đuổi các chính sách làm tổng cầu tiền tệ tang cao. Quan điểm
này coi lạm phát như là cầu quá mức đối với nhiều mặt hang trên thị trường.
Quan điểm 3: Lạm phát chi phí đẩy: Xảy ra do chi phí sản xuất, kinh
doanh tang cao như những cú sốc cung tiêu cực hoặc do việc các công nhân đòi

Đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được
PPI khác với CPI ở chỗ PPI không bao gồm trợ cấp, lợi nhuận và thuế
• Chỉ số giảm phát của GNP: GNP danh nghĩa/ GNP thực tế
2.1.2. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế:
a) Định nghĩa: Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) trong
“Báo cáo về phát triển thế giới năm 1991” cho rằng: Tăng trưởng kinh tế chỉ là
sự gia tăng về lượng của những đại lượng chính đặc trưng cho một trạng thái
kinh tế, trước hết là tổng sản phẩm xã hội, có tính đến mối liên quan với dân số.
Trong tác phẩm “kinh tế học của các nước phát triển”, thì nhà kinh tế học E.
Wayne Nafziger cho rằng: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng hoặc sự
tăng lên về thu nhập bình quân đầu người của một nước.” Như vậy, có nhiều
cách định nghĩa khác nhau, song có thể định nghĩa một cách khái quát như sau:
“Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về tổng sản phẩm xã hội và tăng thu nhập
bình quân đầu người.”
17


b) Các công cụ phản ánh tăng trưởng kinh tế:
Để phản ánh tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế sử dụng số liệu về GDP
– một chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập của mọi người dân trong nền kinh tế. Phản

ánh rõ hơn về tăng trưởng kinh tế, người ta thiết lập mô hình tăng trưởng kinh
tế có tên là: “mô hình solow “. Mô hình solow chỉ ra ảnh hưởng của tiết kiệm,
tỷ lệ tăng dân số và tiến bộ công nghệ với sự tăng trưởng theo thời gian của sản
lượng. Mô hình còn xác định một vài nguyên nhân gây ra sự khác biệt lớn về
mức sống giữa các nước. Sự tăng trưởng kinh tế của các nước không phải lúc
nào cũng dương mà trong thời kì khủng hoảng, nền kinh tế suy thoái thì mức
tăng trưởng kinh tế sẽ đạt giá trị âm.
c) Ý nghĩa tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất
để củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò


P: Giá

Y: sản lượng đầu ra (GDP thật)

Cũng theo Friedman, nếu giá cả hàng hóa trong nền kinh tế tăng gấp 2
lần mà thu nhập của người lao động cũng tăng gấp 2 lần, họ sẽ không quan tâm
đến việc tăng giá hàng hóa. Trong trường hợp như vậy, tăng trưởng không bị
suy giảm bởi lạm phát. Nếu lạm phát xảy ra theo hướng này thì không ảnh
hưởng nguy hiểm đến tăng trưởng kinh tế. Nói tóm lại, theo quan điểm của
thuyết trọng tiền, trong dài hạn, giá cả bị ảnh hưởng bởi cung tiền chứ không
thực sự tác động lên tăng trưởng. Nếu cung tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra. Nếu giữ cung tiền và hệ số tạo tiền
ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát.
19


c) Theo lý thuyết tân cổ điển:
Tobin (1965, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004) phát triển mô
hình Mundell (1963, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004) cho rằng lạm
phát là nguyên nhân làm cho con người tránh giữ tiền mà chuyển tiền thành các
tài sản sinh lợi. Điều này sẽ làm gia tăng sự tích lũy vốn trong nền kinh tế và
thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo mô hình này giữa lạm phát và tăng trưởng có
mối quan hệ cùng chiều. Bổ sung thêm cho mô hình trên của lý thuyết tân cổ
điển nhà kinh tế học Sidrauski (1967, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004)
có cùng quan điểm với chủ nghĩa trọng tiền, Sidrauski đề cập đến một trạng thái
“vô cùng dửng dưng” (superneutral) với lạm phát. Kết quả nghiên cứu của ông
là khi các biến số độc lập với việc tăng cung tiền trong dài hạn thì việc tăng lạm
phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
d) Mô hình của Stockman (1981, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif

vấn đề.
Các nghiên cứu chưa mở rộng ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế
trong mối tương quan các vấn đề kinh tế vĩ mô khác để phân tích.
Một số nghiên cứu chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể vận dụng ảnh hưởng
của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế để đề ra các chính sách phát triển kinh tế
hợp lý.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu sử dụng đồng thời phương pháp hồi quy đồng liên kết, mô
hình sai số hiệu chỉnh (ECM) và phương pháp phân tích phương sai dựa trên
mô hình VAR để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát ở VN trong
ngắn hạn và dài hạn.
Quy trình nghiên cứu dự kiến thực hiện:
Bước 1: Thu thập dữ liệu
Bước 2: Kiểm định tính dừng của dãy số thời gian. Nếu là chuỗi dừng,
chuyển sang bước 4; nếu là chuỗi không dừng thì thực hiện bước 3;
Bước 3: Sử dụng sai phân để đưa chuỗi thời gian từ không dừng thành
chuỗi dừng;
Bước 4: Lựa chọn mô hình chi tiết trong mô hình ECM và VAR;
Bước 5: Kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa lạm phát và tăng trưởng

kinh tế.
21


Một số dữ liệu sử dụng trong đề tài:
Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới và một số khu vực, giai đoạn
2010-2017

Biểu đồ 2: Tỷ lệ lạm phát tại một số quốc gia/khu vực trên thế giới,
giai đoạn 2000-2017

• Bruno, M., Easterly, W. (1996), “Inflation and Growth: In Search of a
Stable Relationship,” Federal Reserve Bank of St. Louis Review, Vol. 78,
no. 3, pp. 139-146.
/>df
24


• Ghosh, A. and Phillips, S. (1998) “Warning: Inflation May be Harmful to
Your Growth”, IMF Staff Papers, Vol. 45, pp. 672-710.
/>• Khan, M.S., Senhadji, A.S. (2001), “Threshold Effects in the Relationship
Between Inflation and Growth”, IMF Staff Papers, Vol. 48, no.1.
/>• Mallik, G., Chowdhury, A. (2001), “Inflation and economic growth:
Evidence from four South Asian countries”, Asia Pacific Development
Journal, Vol .8, no.1, 123-135.
/>ep1&type=pdf
• Umaru and Zubairu 2012, “Effect of Inflation on the Growth and
Development of the Nigerian Economy: An Empirical Analysis”,
International Journal of Business and Social Science, Vol. 3, no. 10, pp.
183-191.
/>19.pdf

• M. W. Madurapperuma (Department of Accountancy, Faculty of
Commerce and Management Studies, University of Kelaniya, Kelaniya,
Sri Lanka), (2016) (Journal of World Economic Research), Impact of
Inflation on Economic Growth in Sri Lanka
/>on_Economic_Growth_in_Sri_Lanka

• Melanie Smith, The relationship between inflation and economic growth
(GDP): an empirical analysis
/>25

/>
• ThS. Nguyễn Minh Sáng & Ngô Nữ Diệu Khuê (2015), Lạm phát và
tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu thực nghiệm các nước đang phát triển

26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status