TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
HOÀNG THỊ MINH THƠM
SỬ DỤNG SẢN PHẨM TỰ TẠO BẰNG NHỮNG VẬT
LIỆU SẴN CÓ TRONG TỰ NHIÊN NHẰM PHÁT HUY
KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI
TRƢỜNG MẦM NON TÍCH SƠN - THÀNH PHỐ
VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
HÀ NỘI, 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
HOÀNG THỊ MINH THƠM
SỬ DỤNG SẢN PHẨM TỰ TẠO BẰNG NHỮNG VẬT
LIỆU SẴN CÓ TRONG TỰ NHIÊN NHẰM PHÁT HUY
KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI
TRƢỜNG MẦM NON TÍCH SƠN - THÀNH PHỐ
VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
Khóa luận là kết quả cố gắng, tìm tòi của bản thân tôi trong quá trình học
tập và nghiên cứu ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng với sự hướng
dẫn tận tình của Thầy Phạm Ngọc Thịnh.
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Sử dụng sản phẩm tự tạo bằng
những vật liệu sẵn có trong tự nhiên nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho
trẻ 5-6 tuổi tại trường Mầm non Tích Sơn - Thành phố Vĩnh Yên - Tỉnh Vĩnh
Phúc” là do chính tôi thực hiện, những số liệu và kết quả nghiên cứu trong
khóa luận chưa được công bố trên bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Vĩnh Phúc, ngày 26 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Hoàng Thị Minh Thơm
DANH MỤC VIẾT TẮT
- ĐC :
Đối chứng
- TN :
Thực nghiệm
- NXB:
Nhà xuất bản
- %
Tỉ lệ phần trăm
9. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA “SẢN PHẨM ĐỒ CHƠI TỰ TẠO
BẰNG NHỮNG VẬT LIỆU SẴN CÓ TRONG TỰ NHIÊN NHẰM
PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI” .................. 6
1.1. Sản phẩm đồ chơi tự tạo bằng những vật liệu sẵn có trong tự nhiên ......... 6
1.1.1. Khái quát về đồ chơi ............................................................................... 6
1.1.2. Khái quát về các vật liệu sẵn có trong tự nhiên ...................................... 8
1.1.3. Sử dụng đồ chơi tự tạo bằng những vật liệu sẵn có trong tự nhiên ....... 9
1.1.4. Vai trò của việc sử dụng đồ chơi tự tạo bằng những vật liệu sẵn có
trong tự nhiên đối với sự phát triển của trẻ ..................................................... 10
1.2. Sự phát huy khả năng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi ....................................... 11
1.2.1. Đặc điểm tâm - sinh lí của trẻ 5-6 tuổi.................................................. 11
1.2.2. Cơ sở lí luận về sáng tạo ....................................................................... 15
1.2.3. Khả năng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi........................................................ 20
1.3. Những biểu hiện sáng tạo của trẻ Mầm non ............................................ 25
1.3.1. Vai trò của sáng tạo đối với sự phát triển của trẻ ................................. 25
1.3.2. Những biểu hiện sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi trong khi sử dụng đồ chơi tự
tạo bằng những vật liệu sẵn có trong tự nhiên ................................................ 27
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 29
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG SẢN PHẨM ĐỒ CHƠI
TỰ TẠO BẰNG NHỮNG VẬT LIỆU SẴN CÓ TRONG TỰ NHIÊN
NHẰM PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI
TRƢỜNG MẦM NON TÍCH SƠN - THÀNH PHỐ VĨNH YÊN – TỈNH
VĨNH PHÚC .................................................................................................. 30
2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng việc sử dụng đồ chơi tự tạo bằng những
vật liệu sẵn có trong tự nhiên nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6
tuổi tại trường Mầm non Tích Sơn.................................................................. 30
2.1.1. Mục đích khảo sát thực trạng ................................................................ 30
3.3. Thực nghiệm sư phạm .............................................................................. 55
3.3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 55
3.3.2. Đối tượng thực nghiệm ......................................................................... 56
3.3.3. Nội dung thực nghiệm ........................................................................... 56
3.3.4. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 56
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 68
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hoạt động sáng tạo của con người là một hoạt động rất cần thiết cho
cuộc sống, một động lực phát triển của xã hội loài người. Hơn lúc nào hết,
ngày nay trong xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế, đất nước ta cần có một
đội ngũ những người lao động thông minh, sáng tạo đủ sức đưa sự phát triển
của đất nước lên những tầm cao mới của thời đại. Điều đó phụ thuộc rất
nhiều vào sự nghiệp giáo dục nước nhà trong đó Giáo dục mầm non có vị trí
đặc biệt quan trọng.
Nghiên cứu về sự phát triển tâm lí của trẻ, các nhà tâm lí học đã chỉ ra
rằng: Sự hình thành và phát triển tâm lí nói chung và khả năng sáng tạo nói
riêng ở trẻ mẫu giáo là cơ sở tiền đề cho sự phát triển mạnh đội ngũ những
người lao động thông minh, sáng tạo sau này.
Hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là hoạt động vui chơi. Thông qua
hoạt động này các chức năng tâm lí như tư duy, tưởng tượng, tình cảm, khả
năng sáng tạo của trẻ đều được phát triển và đạt tới những trình độ mới.
Trong hoạt động vui chơi thì không thể thiếu đồ chơi, đồ chơi có vai trò quan
trọng đối với sự phát huy khả năng sáng tạo của trẻ.
Đối với trẻ nhỏ, đồ chơi là một nhu cầu thiết yếu không thể thiếu trong
cuộc sống. Nó cần cho trẻ như thức ăn, nước uống hàng ngày. Nếu như đứa
mạnh mẽ đến sự phát triển của trẻ nhỏ. Nhận thấy được tầm quan trọng của
đồ chơi đối với trẻ mầm non, bộ môn đồ chơi đã được đưa vào chương trình
sư phạm giáo dục mầm non từ cấp bậc Trung cấp – Cao đẳng – Đại học. Đã
có nhiều đề tài nghiên cứu, sách nghiên cứu của nhiều tác giả nói về lĩnh vực
đồ chơi: Cuốn Tạo hình và đồ chơi trẻ em của Đặng Hồng Nhật đã tổng hợp
được vai trò của đồ chơi trong sự phát triển của trẻ cũng như đã phân loại,
định hướng, thiết kế đồ chơi cho trẻ mầm non.
2
Cuốn Đồ chơi trẻ em làm từ vật liệu tự nhiên của Phạm Việt Hà. Bà có 3
cuốn – viết thành: tập 1; 2; 3 đã phân loại và định hướng thiết kế một số đồ
chơi cho trẻ mầm non.
Trong giáo trình “Hướng dẫn làm đồ chơi cho trẻ mầm non”, tác giả Đàm
Thị Xuyến cho rằng: “Đồ chơi là những vật cụ thể đặc biệt thể hiện sinh động
thế giới vật chất trong cuộc sống và hoạt động của con người, phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lý của trẻ lứa tuổi này hay tuổi khác chỉ dùng trong hoạt
động vui chơi của trẻ. Giáo dục trẻ khiếu thẩm mỹ, giải trí và dùng để trang trí
lớp học”.
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đây đã đưa ra được các lí luận và
thiết kế được đồ chơi cho trẻ mầm non. Tuy nhiên chưa có công trình nào
nghiên cứu về sử dụng sản phẩm đồ chơi tự tạo bằng những vật liệu sẵn có
trong tự nhiên nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi. Vì vậy, tôi
mạnh dạn đưa ra đề tài: “Sử dụng sản phẩm tự tạo bằng những vật liệu sẵn
có trong tự nhiên nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi tại
trường Mầm non Tích Sơn - Thành phố Vĩnh Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc”. Đây là
một đề tài mới và có tính khả thi trong thực tế. Tôi mong muốn đề tài này sẽ
làm giáo viên và những người quan tâm hiểu sâu sắc hơn về sự cần thiết của
những sản phẩm đồ chơi tự tạo bằng những vật liệu sẵn có trong tự nhiên đối
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu, đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu về cơ sở
phương pháp luận, những tài liệu giáo trình tâm lý học, giáo dục học, các
công trình nghiên cứu thực tiễn đã công bố… nhằm làm rõ cơ sở lý luận liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
4
Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp.
Phương pháp phân loại, hệ thống hóa.
7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phương pháp điều tra, thu thập thông tin liên quan đến việc giải
quyết vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn.
Phương pháp quan sát.
Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn.
Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm.
7.3. Phƣơng pháp toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học xử lí kết quả thực nghiệm.
8. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi lứa tuổi: Trẻ 5-6 tuổi
Phạm vi không gian: tại trường Mầm non Tích Sơn Thành phố Vĩnh Yên Tỉnh Vĩnh Phúc.
9. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị nội dung chính của khóa luận
bao gồm :
Chương 1: Cơ sở lí luận của : “Sản phẩm đồ chơi tự tạo bằng những vật liệu
sẵn có trong tự nhiên nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi”.
Chương 2 : Thực trạng việc sử dụng sản phẩm đồ chơi tự tạo bằng những vật
thế giới vật chất trong cuộc sống và hoạt động của con người, phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lý của trẻ lứa tuổi này hay tuổi khác chỉ dùng trong hoạt
động vui chơi của trẻ. Giáo dục trẻ khiếu thẩm mỹ, giải trí và dùng để trang trí
lớp học”.
Đồ chơi trẻ em là phương tiện dùng cho trẻ chơi, nó là những vật cụ thể
giúp trẻ cầm nắm dễ dàng. Đồ chơi nhằm phát triển các chức năng tâm lí và
6
hình thành nhân cách cho trẻ, trong đó việc phát triển thẩm mỹ rất quan trọng.
Ngoài ra, đồ chơi phải đảm bảo tính an toàn cho trẻ.
Đồ chơi là nguồn vui, là người bạn gần gũi, thân thiết và không thể thiếu
trong cuộc sống của trẻ. Đồ chơi có khi là đối tượng để trẻ khám phá thế giới
xung quanh, có khi là công cụ để trẻ thao tác các hoạt động, là chỗ dựa cho
các trò chơi tưởng tượng của trẻ.Vì vậy đồ chơi có tác dụng thúc đẩy, hình
thành và phát triển các chức năng tâm lý, góp phần hình thành nhân cách cho
trẻ trong đó việc hình thành tình cảm thẩm mỹ rất quan trọng.
Tổng quát lại: Đồ chơi là những vật cụ thể đặc biệt, thể hiện tương đối về
hình dáng, tính chất của sự vật, hiện tượng trong cuộc sống và hoạt động của
con người phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng lứa tuổi. Đồ chơi
làm sao phải vừa kích thích hoạt động của trẻ, vừa mang tính giáo dục, giải trí
lại vừa khêu gợi những tình cảm thẩm mỹ.
Đồ chơi trẻ em cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính thẩm mỹ
+ Đẹp, hình thù hấp dẫn, dễ nhìn (búp bê có khuôn mặt đáng yêu; không
chọn những đồ chơi có khuôn mặt hung dữ …).
+ Có màu sắc phù hợp với nhận thức của trẻ theo từng độ tuổi. Đồ chơi
có màu sắc cơ bản giúp bé học nhận biết màu, phát triển thẩm mỹ.
+ Có đủ độ mềm/cứng để phát triển cảm giác của bé (mềm, cứng, thô
nghiêm ngặt về độ an toàn tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế hay quốc gia.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành các tiêu chuẩn an toàn đối với đồ
chơi nhằm hạn chế những mối nguy hiểm tiềm năng đối với trẻ em, ví dụ như
các chất độc hại, hay các đồ chơi có khả năng gây thương tích.
1.1.2. Khái quát về các vật liệu sẵn có trong tự nhiên
Thiên nhiên xung quanh chúng ta rất phong phú và đa dạng. Đó là cả thế
giới của những màu sắc, hình dạng, ánh sáng,… Thiên nhiên không bị bó hẹp
8
trong khuôn mẫu thô cứng nào cả mà nó là tất cả những gì sinh động nhất,
phong phú nhất và đẹp nhất. có thể sử dụng các vật liệu sẵn có trong tự nhiên
làm nguồn tư liệu phong phú để tạo ra ở trẻ vốn biểu tượng mới. hơn nữa
những vật liệu sẵn có trong tự nhiên rất gần gũi với trẻ, dễ tìm, dễ kiếm và
không tốn kém.
Các vật liệu sẵn có trong tự nhiên rất đa dạng và phong phú vấn đề là phải
lựa chọn những gì trong số đó sao cho an toàn với trẻ và phù hợp với yêu cầu
của cô, đồng thời cũng phải thỏa mãn được khả năng sáng tạo của trẻ. Do vậy
khi lựa chọn các vật liệu sẵn có trong tự nhiên cần cân nhắc những điểm sau:
- Là những vật liệu sạch, đảm bảo an toàn cho trẻ ( không độc, không có
sắc cạnh, không dễ vỡ,…)
- Tận dụng được các vật liệu phổ biến, rẻ tiền.
- Các vật liệu phải dễ bảo quản, cất giữ.
- Các vật liệu có màu sắc đẹp, kích thức vừa phải với tay cầm của trẻ.
1.1.3. Sử dụng đồ chơi tự tạo bằng những vật liệu sẵn có trong tự nhiên
Hiện nay xu thế sử dụng các đồ chơi tự tạo bằng những vật liệu sẵn có
trong tự nhiên ngày càng cao. Những loại đồ chơi này vừa đáp ứng được nhu
cầu chơi của trẻ vừa gây hứng thú, sự sáng tạo và đảm bảo an toàn cho trẻ.
Các sản phẩm đồ chơi tự tạo bằng những các vật liệu sẵn có trong tự nhiên
tính chất của nhiều đồ vật, biết được công dụng của chúng trong sinh hoạt và
trong lao động của con người. đồ chơi còn là phương tiện giúp trẻ phát hiện ra
những mối quan hệ của người với người trong xã hội dần dần biết gia nhập
vào các mối quan hệ đó. Hoạt động với đồ chơi vừa làm thỏa mãn nhu cầu vui
chơi của trẻ vừa làm cho đôi bàn tay của trẻ trở nên khéo léo, đôi chân dẻo
dai, cơ thể mềm mại, hình dáng phát triển cân đối. Vừa chuẩn bị kiến thức, kĩ
năng cho trẻ học các cấp học trên vừa có thể tham gia tốt vào cuộc sống xã
hội sau này.
10
Để thỏa mãn hoạt động vui chơi của trẻ chúng ta có thể cho trẻ tự làm đồ
chơi hoặc sử dụng các đồ chơi tự tạo bằng những vật liệu sẵn có trong tự
nhiên mà cô đã làm trong các hoạt động của trẻ. Đồ chơi tự tạo được làm
bằng những vật liệu sẵn có trong tự nhiên dễ kiếm, đa dạng và cũng dễ làm,
sản phẩm lại gần gũi với các hoạt động của trẻ. Sự đa dạng của các vật liệu
sẵn có trong tự nhiên đã thu hút được sự chú ý của trẻ mang lại cho trẻ niềm
say mê hứng thú và hăng say sáng tạo. Chính những vật liệu đơn giản sẵn có
trong cuộc sống hàng ngày là những đồ chơi có giá trị giúp phát huy khả năng
sáng tạo của trẻ và giúp trẻ phát triển toàn diện. Bởi vì đồ chơi tự tạo có ưu
điểm nổi bật đó là sẵn có, thường xuyên đổi mới, phong phú và đặc biệt sáng
tạo.
Đồ chơi có tác dụng lớn lao đến việc hình thành và phát triển nhân cách
của trẻ. Chính những đồ chơi giúp trẻ được thao tác, được hoạt động, trải
nghiệm, được thể hiện những nhu cầu cá nhân, được phát triển cân đối hài
hòa, từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt, để trẻ có một tâm thế tự
tin để bước vào lớp một tham gia tốt vào cuộc sống xã hội.
1.2. Sự phát huy khả năng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi
1.2.1. Đặc điểm tâm - sinh lí của trẻ 5-6 tuổi
Tư duy của trẻ đã phát triển hơn. Thật vậy, khi trẻ tham gia vào những trò
chơi và hành động với đồ vật, ở trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý, ghi nhớ có
chủ định; trẻ tập trung hơn và ghi nhớ được nhiều hơn; trẻ học suy nghĩ về đối
tượng thật. Dần dần những hành động chơi của trẻ với đồ vật được rút gắn và
mang tính khái quát, nghĩa là trò chơi đã góp phần chuyển từ tư duy trực quan
hành động sang tư duy trực quan hình tượng. Giải quyết những tình huống
xảy ra trong khi chơi bằng những biểu tượng đã được ghi nhớ trong đầu. Nhìn
trẻ chơi chúng ta như thấy được chính cuộc sống của mình. Nhưng khác với
người lớn, động cơ của trẻ không nằm trong kết quả mà nằm trong quá trình
hoạt động. Hoạt động vui chơi của trẻ em là một hoạt động không mang tính
12
chất bắt buộc như hoạt động học tập, trẻ tham gia chơi không vì một lợi ích
thiết thực nào, trẻ chơi chỉ để thỏa mãn sự tò mò, để cho vui, có vui thì mới
chơi; trẻ thích thì tham gia và không thích thì không tham gia.
Đặc điểm sự tự nhận thức (ý thức bản ngã): Ở trẻ 5-6 tuổi lúc này trẻ đã
hiểu được mình, đã trả lời được câu hỏi mình là người như thế nào, có những
phẩm chất gì, người khác đối xử với mình như thế nào và tại sao mình lại có
hành động này hay hành động khác. Mặt khác, trẻ có thể tự đánh giá sự thành
công hay thất bại của mình, đánh giá được cả ưu và nhược điểm của bản thân
mình, về những khả năng và cả sự bất lực nữa.
Ở giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi này, trí tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh và
phần lớn thời gian của trẻ là chơi. Đặc biệt là chơi với đồ chơi. Trẻ chơi mà
học và học mà chơi. Chúng tự nghĩ ra những trò chơi và chơi mãi không chán.
Trẻ hứng thú khi chơi với các vật liệu thiên nhiên như: bùn, cát, đất, đá,
sỏi... Điều này kích thích sự phát triển trí tuệ của trẻ. Cũng như thế, học và
chơi với các chất liệu mỹ thuật như màu vẽ, giấy màu, đất sét nặn cũng sẽ
giúp kích thích và phát triển sự sáng tạo ở trẻ.
dài, có biểu hiện ham học, có ấn tượng đối với những người xung quanh.
Sự phát triển về thể chất, trí tuệ và tính khéo léo ngày càng cao.Trẻ đã có
những kỹ năng cơ bản trong vận động, nhưng vẫn cần được tiếp tục luyện tập
cho nhuần nhuyễn để có thể kết hợp vào những chuỗi vận động phức tạp hơn.
Trẻ phát triển vận động tinh và ngày càng khéo léo hơn. Trẻ đã biết phân biệt
tay trái và phải. Trẻ gấp tờ giấy làm đôi bằng cách so các góc vào nhau. Có
thể dùng bút vẽ một số hình đơn giản, thích tô màu, xé dán, biết dùng kéo cắt
một số hình đơn giản. Trẻ có thể dùng hai tay đón bóng tương đối chính xác
và có thể dùng các ngón tay để nặn các đồ vật nhỏ.
Cơ thể trẻ đang dần dần hoàn thiện. Các vận động của trẻ giai đoạn này
ngày càng phát triển hơn. Lúc bấy giờ, trẻ đã có thể vận động toàn thân, và
bắt đầu làm các động tác phức tạp hơn như chơi đá cầu, nhảy dây, leo trèo,
14
lộn xà đơn…Bàn tay của trẻ ngày càng khéo léo hơn không những có thể hoạt
động tự do, mà động tác còn nhanh nhẹn và hoàn chỉnh hơn.
1.2.2. Cơ sở lí luận về sáng tạo
1.2.2.1. Những quan điểm khác nhau về sáng tạo
Hoạt động sáng tạo của con người là rất quan trọng cần thúc đẩy và phát
huy một cách tối ưu nhất. Hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không chỉ
đến tiến bộ khoa học kĩ thuật mà còn đến toàn bộ xã hội nói chung. Đất nước
nào biết nhận ra càng nhiều nhân cách sáng tạo và biết phát huy phát triển họ
theo đúng hướng, biết tạo ra một điều kiện tốt nhất cho họ thì đất nước đó sẽ
có những ưu thế lớn và vươn tầm xa hơn trên thế giới. Do đó, tính sáng tạo
được coi như là một phẩm chất quan trọng không thể thiếu được ở người công
dân hiện đại.
Sáng tạo là một vấn đề được nhiều nhà khoa học ở nhiều nước và nhiều
lĩnh vực quan tâm nghiên cứu các quan điểm khác nhau về sáng tạo:
người tạo ra được một cái gì mới, không kể rằng cái được cái được tạo ra ấy
là một vật của thế giới bên ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình
cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người.
Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về sáng tạo. Trong từ
điển Tiếng việt (do Hoàng Phê chủ biên) sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải
quyết mới không phụ thuộc vào cái đã có.
Trong sổ tay tâm lí học, Trần Hiệp và Đỗ Long cho rằng: “Sáng tạo là
hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi
hỏi cá nhân phải biết phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ năng và
với điều kiện như vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc”.[1,34]
Theo tác giả Nguyễn Đức Uy cho rằng: “Sáng tạo đó là sự đột khởi thành
hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ nảy sinh từ sự độc đáo của một
cá nhân - một đằng là những tư liệu biến cố, nhân sự hay những hoàn cảnh
16