SKKN dạy văn bản nhật dụng trong chương trình ngữ văn 8 tập 1 gắn với tính cấp thiết của cuộc sống1 - Pdf 65

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUAN HOÁ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

DẠY VĂN BẢN NHẬT DỤNG
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8 TẬP I
GẮN VỚI TÍNH CẤP THIẾT CỦA CUỘC SỐNG

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc
Chức vụ: Giáo Viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Hiền Chung
SKKN thuộc lĩnh vực : Ngữ Văn

THANH HOÁ NĂM 2017


MỤC LỤC

TT

Mục

1
2
3
4
5
6
7
8

3.1.2
3.1.2
3.2

Nội dung
Mở đầu
Lý do chọn đề tài
Mục đích đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Vài nét về tác phẩm trong chương trình sách giáo khoa cũ
Văn bản nhật dụng trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1
Các SKKN và giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Dạy văn bản nhật dụng gắn với tính cấp thiết của đời sống
Giáo án tiết dạy thực nghiệm
Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm
Kết luận, kiến nghị
Kết luận
Đối với giáo viên
Đối với học sinh
Kiến nghị

Trang
1
1
1

nan giải như: Môi trường, dân số, sức khỏe con người. Đó thực sự là những bài
toán chưa tìm được đáp số thỏa đáng và lời giải đó không phải chỉ của một cấp,
một ngành mà đặt ra cho tất cả chúng ta và thiết nghĩ giáo dục cũng là một trong
những cánh tay đắc lực phục vụ cho công việc đó.
Môn ngữ văn trong chương trình THCS là một môn học góp phần hình thành
những con người có trình độ học vấn THCS, chuẩn bị cho họ hoặc ra đời hoặc tiếp
tục học lên ở bậc học cao hơn. Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết
yêu thương quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,
biết hướng tới những tình cảm cao đẹp, lòng nhân ái, biết tôn trọng lẽ phải, căm
ghét cái xấu và bước đầu có năng lực cảm thụ giá trị chân - thiện - mỹ. Không
những thế, tác phẩm văn chương còn là một phương tiện thiết thực để tuyên truyền
rộng rãi tới đông đảo bạn đọc về những vấn đề bức thiết của con người.
Tác phẩm văn chương được đưa vào chương trình THCS bao gồm nhiều thể
loại, ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Ở mỗi thể loại có những đặc điểm nổi bật
riêng. Ví dụ, Văn biểu cảm chủ yếu là biểu lộ tình cảm, cảm xúc; Văn miêu tả là tái
hiện lại cảnh săc, con người ... Nét nổi bật trong chương trình cải cách sách giáo
khoa từ năm 2002 trở lại đây là có thêm một thể loại văn học mới: Văn bản nhật
dụng. Đây cũng chính là thể loại văn học mà tôi muốn đề cập trong đề tài này bởi
tính cấp thiết, thiết thực, gắn với những vấn đề hàng ngày, hàng giờ diễn ra chưa có
biện pháp giải quyết thỏa đáng, không chỉ là vấn đề nan giải của nước ta mà còn
đặt ra cho toàn nhân loại.
Một trong số những vấn đề nan giải trên mà tôi muốn đề cập đó là: môi
trường, dân số và sức khỏe đã được cụ thể hóa bằng ba văn bản nhật dụng trong
chương trình Ngữ văn 8 tập 1.
Với tư cách là một giáo viên đã trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 8, tôi xin
được đóng góp một ý kiến nhỏ về: Dạy văn bản nhật dụng trong chương trình
Ngữ văn 8 tập 1 gắn với tính cấp thiết của cuộc sống.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra phương pháp dạy các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 8
tập 1 gắn với tính cấp thiết của cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất.

mắt của con người và cộng đồng xã hội hiện đại đang là tâm điểm của sự chú ý.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiền
2.2.1. Vài nét về các tác phẩm trong chương trình sách giáo khoa văn học
trước đây
Như chúng ta biết văn học là nhân học, văn học giúp con người hình thành
nhân cách, hướng tới cái chân - thiện - mỹ. Cuộc sống là một đề tài vô tận cho
người nghệ sĩ sáng tác nên những tác phẩm văn học. Bởi vậy, văn học chính là tấm
gương phản ánh cuộc sống. Nhìn lại các tác phẩm văn học trong chương trình sach
giáo khoa cũ nói chung và sách giáo khoa Văn 8 nói riêng, học sinh được tiếp cận
với những bài văn, thơ phần lớn phản ánh cuộc sống lao động, chiến đấu, biểu hiện
tình cảm, cảm xúc của con người Việt Nam xưa. Nhìn ở một góc độ nào đó, các tác
phẩm trong chương trình cũ tuy cũ nhưng vẫn là những vấn đề không cũ bởi tính
giáo dục đã trở thành chuẩn mực của cuộc sống. Không ai phủ nhận được tác dụng
của các tác phẩm văn học đó đã tác động tích cực đến tâm hồn các em, nhưng
dường như sự nhận thứcđó chỉ như một dòng sông êm đềm, thong thả chảy mà
không trở thành một vấn đề nóng hổi, bức thiết khiến người ta không thể không bắt
2


tay ngay vào công việc. Đó cũng chính là điểm khác của văn bản nhật dụng trong
chương trình cải cách sách giáo khoa lần này.
2.2.2. Văn bản nhật dụng trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1
Văn bản nhật dụng là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết với cuộc
sống trước mắt của con người và cộng đồng xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi
trường, dân số, ma túy... Nó có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn
bản. Tuy nhiên, nhìn chung, về hình thứ thể loại đó thường là những bài báo,
thuyết minh đăng trên các báo hay phát trên đài, ti - vi. Nó thường được viết theo
thể loại bút ký trong đó có sự kết hợp giữa các phương thức kể, tả, bình luận... có
giá trị thông tin tuyên truyền là chủ yếu.
Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm mới đối với học sinh lớp 8

những rác thải sinh hoạt, nhưng tại sao không phải là thông tin về các loại rác thải
3


khác mà lại chọn vấn đề về bao bì ni lông? Khi dạy văn bản này, giáo viên cần cho
học sinh thấy tính cấp thiết của vấn đề như thế nào?
Như trên đã nói, vấn đề môi trường nói chung và rác thải từ các bao bì ni lông
nói riêng đang là sự quan tâm của toàn cầu. Dạy văn bản này, trong một phạm vi
hẹp là sự nhận thức của các em về việc sử dụng và xử lý bao bì ni lông ở địa
phương em như thế nào. Có thể khi chưa tiếp cận văn bản này, các em chỉ mới biết
đến tác dụng tiện lợi của bao bì ni lông đó, nhưng chưa hiểu biết tường tận về tác
hại của nó, chưa nhận thức rõ vì sao xử lý bao bì ni lông khi là rác thải lại là một
trong những vấn đề mang tính cấp thiết. Vậy giáo viên sẽ truyền tải ra sao?
Theo tôi, đối với văn bản này, mục đích là truyền tải kiến thức của bài học về
nội dung và nghệ thuật để qua đó học sinh thấy được tác hại của bao bì ni lông khi
là phế thải và xử lý nó đang còn là vấn đề vô cùng nan giải, bởi chưa tìm được giải
pháp hữu hiệu. Thế nhưng, bài dạy chỉ dừng lại ở đó thì sẽ chưa thật hoàn thiện.
Để cho văn bản đối với học sinh thật sự là vấn đề cấp thiết thì trong quá trình
giảng bài, giáo viên cần có những câu hỏi liên hệ thực tế, nghĩa là dạy văn bản gắn
với thực tế cuộc sống.
Ví dụ: Trong phần giảng về tác hại của bao bì ni lông, sau khi cho học sinh
phát biểu các tác hại như sách giáo khoa đã dẫn, giáo viên có thể dặt câu hỏi: Khi
sử dụng xong bao bì ni lông, em thường giải quyết chúng như thế nào ? Em có hiểu
làm như vậy là có tác hại không ?
Từ những vấn đề trên giáo viên dẫn dắc học sinh tìm hiểu về tác hại của bao
bì ni lông đối với sức khỏe con người bằng các câu hỏi như: Em có thường xuyên
đựng thức ăn trong các túi ni lông màu không ? Em có hiểu như thế là độc hại
không hay màu sắc của túi là đẹp mắt ? Ngoài việc các chất đôc trong túi ni lông
nhiễm vào thức ăn, túi ni lông còn tác động đến sức khỏe con người bằng con
đường nào khác ...

ý thức của người sử dụng dựa trên nguyên tắc chủ động phòng tránh, giảm thiểu
tác hại. Tuy nhiên, nếu bản thân mỗi người không tự giác, không ý thức đầy đủ thì
các biện pháp trên chỉ là những lời kêu gọi suông mà thôi. Đến đây, giáo viên có
thể dùng các câu hỏi liên hệ thực tế để đối chiếu, so sánh với các biện pháp trên mà
em hoặc địa phương em đã thực hiện như: Rác thải từ bao bì ni lông ở nhà em và
địa phương em thường được xử lý như thế nào? Theo em có hữu hiệu không ?
Nhận thức được sự nan giải trong xử lý bao bì ni lông như thế em sẽ làm gì ?
Sau đó, giáo viên cho học sinh liên hệ về việc sử dụng bao bì ni lông của bản
thân và gia đình mình, cần yêu cầu học sinh liên hệ một cách cụ thể, sinh động và
ngay cả giáo viên cũng vậy, cũng cần kiểm điểm thói quen rất khó sửa này. Sau khi
học sinh đã hiểu tác hại, cách xử lý nan giải của bao bì ni lông, học sinh được liên
hệ nghĩa là các em đã nhận thức và kiểm soát được việc sử dụng bao bì ni lông
trong cuộc sống hàng ngày của bản thân và tuyên truyền cho mọi người cùng thực
hiện. Đó cũng chính là ý nghĩa lớn hơn mà người dạy mong muốn.
Bao bì ni lông là tiện lợi bởi nó nhẹ, rẻ, dễ cầm nhưng lại có nhiều tác hại.
Những biện pháp đưa ra vẫn chưa thể triệt để, tận gốc vấn đề, nhưng cũng không
thể cấm các nhà máy sản xuất loại bao bì này. Vì thế, sách đã đưa ra những kiến
nghị, đó là những kiến nghị hợp lý, có tính khả thi. Nhưng nó sẽ mãi chỉ là những
kiến nghị suông nếu như không có sự góp tay của mỗi các nhân cụ thể. Giáo viên
có thể đặt câu hỏi để kiểm tra thói quen của việc sử dụng túi ni lông hàng ngày của
các em như: Đã bao giờ em dùng xong túi ni lông thì giặt phơi khô dùng lại chưa ?
Em có thích đựng thực phẩm bằng giấy, lá không ?...
Những câu hỏi mang tính trắc nghiệm trên sẽ giúp các em nhận thấy, một
trong những giải pháp để mỗi các nhân có thể bắt tay vào hoạt động nhằm giảm
thiểu rác thải từ túi ni lông và như vậy có nghĩa là đã góp phần bảo vệ môi trường
sống của chúng ta.
Môi trường sống là một khái niệm rộng và rác thải từ bao bì ni lông là một
trong những nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường. Văn bản như một tiếng chuông
cảnh tỉnh rung lên rất kịp thời cho tất cả mọi người đã, đang có thói quen sử dụng
bao bì ni lông hàng ngày. Qua văn bản này, học sinh không chỉ nhận thức được mặt

hiểu một cách nghiêm túc nhất để làm sao vấn đề mà các em tiếp cận không phải
chỉ trên lý thuyết mà phải được soi sáng bằng thực tiễn cuộc sống, nghĩa là tác
động của nó đến cuộc sống như thế nào.
Thực tế cho thấy, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, hút thuốc lá dần thay thế
cho hút thuốc lào ở thành thị cũng như nông thôn. Nó đã có mặt trong các dịp cưới
hỏi, tiệc tùng như một thói quen thường trực của một bộ phận người. Nhưng mấy
ai trong họ đã hiểu về tác hại nhiều mặt của nó. Văn bản này chỉ được tuyên truyền
trong một phạm vi hẹp nhưng cái cần đạt được đó là sự nhận thức của các em để
bản thân phòng tránh và việc làm có ý nghĩa hơn là tuyên truyền tới những người
xung quanh đã và đang hút thuốc lá. Song muốn đạt được điều đó, khi dạy giáo
viên cần chú ý những gì?
Trong phạm vi của đề tài này, tôi đang đề cập đến tính cấp thiết của vấn đề
với cuộc sống hiện tại. Bài giảng không dừng lại ở mức độ nhận biết lý thuyết văn
bản mà cần có sự liên hệ phong phú gắn với từng phần, từng vấn đề trong bài sao
cho học sinh có cơ hội để nhìn nhận và đánh giá hành vi của mình nếu như cũng đã
từng hút thuốc lá.
6


Ví dụ: Khi dạy phần tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe cộng đồng, giáo
viên có thể nêu những câu hỏi: Em và những người trong gia đình em có hút thuốc
lá không ? Em thấy họ thường hút thuốc lá ở đâu ? Những người không hút thuốc
có phản ứng gì không ? Vì sao ? Sau khi học xong văn bản này em dự định sẽ nói
như thế nào đối với những người đang hút thuốc lá ?...
Muốn các em trả lời trung thực các câu hỏi trên, thiết nghĩ, nếu giáo viên
cũng là người cũng đang hút thuốc lá thì cần dừng lại để kiểm điểm mình. Và quan
trọng hơn cả là nhận thức được tác hại to lớn của khói thuốc lá để có ý thức hạn
chế hoặc chấm dứt. Vẫn biết đây là việc làm khó bởi nó đã thành thói quen, nhưng
muốn tính giáo dục đạt hiệu quả thì ngay giáo viên cũng phải là người thực hiện
gương mẫu.

nhà máy sản xuất thuốc lá vẫn còn tồn tại nghĩa là xã hội vẫn còn có nhu cầu. Mà
một khi nhu cầu đó không giảm thì cũng đồng nghĩa với việc sức khỏe con người
7


bị đe dọa bởi người hút chịu tác hại đã đành, nhưng những người xung quanh lại
cũng là nạn nhân bất đắc dĩ . Hơn nữa, tính cấp thiết còn thể hiện ở chỗ: trong khi
văn bản này đang được truyền tải đến học sinh thì rất có thể trong túi áo thầy giáo
là bao thuốc hút dở, trong cặp học sinh là một vài điếu thuốc sẽ được hút trong giờ
ra chơi? Quả là vấn đề nan giải.
Sức khỏe của con người là vốn quý và thật đáng tiếc cho những ai đang tự
hủy hoại sức khỏe của mình bằng những điếu thuốc lá. Theo tôi, điều cần làm được
trong tiết dạy này là học sinh thấy được: Thuốc lá thực sự là một tệ nạn, một tệ nạn
không phải của riêng một nước nào và nó vẫn hàng ngày, hàng giờ diễn ra mà chưa
có biện pháp hữu hiệu. Đó chính là một trong những vấn đề mà xã hội cần quan
tâm giải quyết. Nhưng muốn triệt để lại phải phụ thuộc vào ý thức của mỗi người.
Bài học này là một hình thức tuyên truyền tới các em để chủ động phòng tránh và
sau nữa là thuyết phục những người xung quanh đang nghiện thuốc lá cùng quan
tâm loại bỏ thói quen không tốt này.
Ví dụ: Sau bài học, giáo viên yêu cầu học sinh làm hai bài tập sau: đối với
học sinh nam: Viết một bản quyết tâm cụ thể xác định cho mình sẽ không bao giờ
hút thuốc lá; đối với học sinh nữ: Viết kế hoạch vận động, thuyết phục, động viên
những người thân trong gia đình mình hoặc thôn bản từ bỏ thuốc lá.
Giáo viên cần yêu cầu học sinh làm bài tập nghiêm túc, có chất lượng và báo
cáo kết quả lại. Hy vọng rằng với nhiệt tình của tuổi trẻ, các em có thể góp phần
đẩy lùi tệ nghiện thuốc lá trong mỗi gia đình cũng như xã hội, bảo vệ sức khỏe cho
cá nhân và cả cộng đồng.
Dạy bài: "Bài toán dân số" và vấn đề dân số.
Sinh con để duy trì và phát triển nòi giống là một việc làm chính đáng mang
tính nhân văn của mỗi con người. Thế nhưng, gia tăng dân số nhanh lại là vấn đề

chuyện về bài toán cổ. Dân số toàn cầu đã mon men đến ô thứ 31 của bàn cờ.
Thông qua câu chuyện về bài toán cổ ấy, đã giúp người đọc hình dung tốc độ gia
tăng dân số đến chóng mặt. Một câu chuyện tưởng đơn giản nhưng lại có tính giáo
dục rất lớn. Văn bản cũng đưa ra tỷ lệ sinh con của người phụ nữ để thấy được
người phụ nữ có thể sinh được rất nhiều con. Nhưng quan trọng hơn giáo viên cho
học sinh nhận thấy các con số ấy lại rơi vào những nước chậm phát triển ở châu
Phi và châu Á. Đến đây giáo viên có thể cho học sinh so sánh giữa tỷ lệ sinh con ở
thành thị và nông thôn để thấy được một thực trạng là: tỷ lệ sinh con ở nông thôn
cao hơn ở thành thị trong khi kinh tế ở nông thôn còn nhiều khó khăn. Và như vậy,
đẻ nhiều - > nghèo đói -> lạc hậu -> đẻ nhiều, cứ như một cái vòng luẩn quẩn bởi
người dân chưa có sự nhận thức đúng đắn về dân số - kế hoạch hóa gia đình. Giáo
viên có thể cung cấp cho học sinh những số liệu chính xác, thuyết phục để bài văn
thêm phần sinh động và vấn đề được hiểu sấu hơn.
Ví dụ: Sau khi giảng xong phần tỷ lệ sinh con ở các nước, giáo viên đưa số
liệu: Thế giới của những người giàu chiếm 20% dân số nhưng tập trung 80% tài
sản, trong khi đó 80% dân số còn lại đang phải chịu những rủi ro về kinh tế và vệ
sinh sức khỏe - đại dịch HIV và ngày càng phải chịu những rủi ro về kinh tế và
gánh nặng về số dân. [1]
Thiết nghĩ, "Bài toán dân số" không phải là vấn đề dặt ra quá sức đối với học
sinh, bởi chính các em là thế hệ làm cho sự phát triển dân số tỷ lệ thuận với sự phát
triển kinh tế xã hội. Xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, dân số là một vấn đề dặt ra từ
lâu và ngày nay vẫn còn là vấn đề quan tâm của toàn nhân loại. Bởi thế, dạy văn
bản này giáo viên cần gắn với thực tế cuộc sống để hiệu quả giáo dục cao hơn.
Tóm lại: Các văn bản nhật dụng được đưa vào chương trình Ngữ văn 8 tập 1
là những văn bản tiêu biểu thể hiện một trong những vấn đề nóng bỏng đang diễn
ra xung quanh các em, ở mỗi nước và của toàn nhân loại mà chưa có giải pháp giải
quyết triệt để. Các vấn đề đó đặt ra cho tất cả chúng ta, đặc biệt là các em - những
chủ nhân tương lai, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và có tác động tích
cực trở lại với thực tiễn. Đây là những vấn đề mang tính cấp thiết của nhân loại. Vì
thế khi giảng dạy, giáo viên cần gắn tính cấp thiết này với nội dung của văn bản để


Hoạt động của thầy và trò
H: Nêu xuất xứ văn bản?

Nội dung hoạt động
I. Đọc và tìm hiểu chung

GV hướng dẫn đọc: giọng to, rõ ràng,

1. Xuất xứ văn bản: Tài liệu của sở Khoa
học- Công nghệ Hà Nội.
2. Đọc và tìm hiểu từ khó

mạnh mẽ.
GV đọc mẫu, gọi HS đọc.
Yêu cầu HS giải nghĩa một số thuật
ngữ khoa học
3. Thể loại
H: Hãy cho biết về thể loại, PTBD, văn Văn bản nhật dụng, thuyết minh một vấn
bản này có giống như các văn bản đã
học đầu học kì ?
H: Hãy tìm bố cục văn bản ? Nhận xét
về bố cục văn bản ?

đề khoa học tự nhiên.
4. Bố cục: 3 phần.
- Đoạn 1 (Từ đầu đến Một ngày không
10



chung với hành động bảo vệ môi trường
H: Nhận xét cách vào đề ?
từ một việc làm nhỏ bé mang ý nghĩa.
-> Vào đề gián tiếp từ xa đến gần, rộng
đến hẹp, ngắn gọn, đủ, rõ vấn đề trọng
tâm.
2. Nguyên nhân, tác hại và giảp pháp
của việc sử dụng bao bì ni lông
H: Nêu nguyên nhân, tác hại của việc
sử dụng bao bì ni lông ?
GV giải thích thêm về tính chất không
phân huỷ của pla-xtic
Hỏi: Sau khi dùng bao ni lông, em
thường xử lí bao ni lông như thế nào?
Em có hiểu tác hại không?

* Nguyên nhân: tính không phân hủy của
pla-xtic; dùng không đúng cách, vứt thải
hàng triệu bao bì…

* Tác hại: cản trở sinh vật bị nó bao
quanh; tắc cống rãnh, sinh bệnh dịch;
làm chết sinh vật khi chúng nuốt phải;
làm ô nhiễm thực phẩm đựng trong túi…
Đốt -> thải chất độc đi-ô-xin, gây ung
11


thư; gây dị tật bẩm sinh…
H: Nhận xét về cách thuyết minh

- Dùng thay thế bằng giấy, lá
- Tuyên truyền cho người khác biết tác
hại của bao bì ni lông.
H: ? Các biện pháp trên có thể thực
=> Giải pháp có tính khả thi, nhưng quan
hiện được không?
? Tại sao không đề nghị bỏ hẳn việc sử trọng là mọi người phải hiểu được ý
nghĩa của lời kêu gọi.
dụng bao bì ni lông ?
- Bởi vì bao bì ni lông có nhiều ưu thế mà
loài người chưa có giải pháp thay thế nên
Hỏi: Ở địa phương em đã xử lí rác thải
chỉ có thể đề ra biện pháp hạn chế.
bao ni lông như thế nào? Họ có hiểu
12


biết về tác hại đó không?
H: Văn bản đã đưa ra lời kêu gọi trước
mắt ntn ?
H: ý nghĩa lời kêu gọi ?

H: Khái quát lại nội dung chính
của văn bản và hình thức thể hiện ?

3. Lời kêu gọi
+ Lời kêu gọi cho hành động trước mắt:
“Một ngày không dùng bao bì ni lông”
- Bảo vệ Trái đất trước những nguy cơ
gây ô nhiễm gia tăng, không chỉ là bao bì

về ngày trái đất năm 2000. Điều đó, cùng
13


với sự giải thích đơn giản mà sáng tỏ về
tác hại của việc giảm bớt chất thải no
lông đã gợi cho chúng ta những việc có
thể làm ngay để cải thiện môi trường
sống, để bảo vệ trái đất, ngôi nhà chung
của chúng ta.
IV. Luyện tập: Hãy viết đoạn văn (khoảng 10 dòng) tuyên truyền về tác hại
của bao bì ni lông đối với môi trường và sức khỏe con người.
Dành thời gian cho HS viết bài 3-5 phút, gọi HS đọc, nhận xét.
V. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI
- Hoàn thành đoạn văn ở phần luyện tập.
- Đối với HS khá, yêu cầu viết thành bài văn hoàn chỉnh.
- Chuẩn bị bài: Nói giảm, nói tránh
2.4. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi thực hiện giáo án này nói riêng và dạy các văn bản nhật dụng trong
chương trình Ngữ văn 8 tập 1 nói chung, tôi đã thu được một số kết quả sau:
Dạy văn bản nhật dụng gắn với thực tế là một phương pháp dạy học có hiệu
quả và có tính giáo dục cao. Học sinh hiểu được mục đích, yêu cầu của bài một
cách thấu đáo và toàn diện, giúp các em có cái nhìn đúng đắn, nghiêm túc về
những vấn đề được xem là hiểm họa đối với loài người. Qua các văn bản này, các
em nhận thấy đó không phải là lý thuyết suông mà nó hoàn toàn gắn với thực tế,
nghĩa là văn bản từ cuộc sống mà ra rồi từ văn bản thông qua người đọc sẽ tác
động trở lại cuộc sống. Kết quả là nhận thức của các em về những vấn đề đó được
nâng lên một cách rõ rệt.
Tổng số học sinh trong 2 lớp: 48 học sinh, trong đó:
Giỏi

học đó, học sinh đã tự đi thu gom rác thải là các bao bì ni lông
14


quanh trường để vào đúng nơi quy định, có những suy nghĩ tích cực về những việc
tương tự trong vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt.
Như vậy, việc áp dụng dạy văn bản nhật dụng gắn với tính cấp thiết của cuộc
sống đối với tôi đã có kết quả bước đầu. Tuy nhiên, để phát huy được kết quả đó là
cả một quá trình ở phía trước đòi hỏi giáo viên phải luôn trau dồi, học hỏi để tìm ra
con đường đến với kiến thức của học sinh một cách nhanh nhất mà việc vận dụng
các vấn đề đó vào thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc và có chất lượng.
3. Kết luận và kiến nghị
3.1. Kết luận
Văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 8 tập 1 chiếm một tỷ lệ nhỏ,
nhưng lại có vị trí quan trọng bởi các văn bản này có tác dụng tuyên truyền giáo
dục rất lớn. Nó bắt nguồn từ chính thực tế hiện nay và cả ba văn bản trên đều đề
cập đến những vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu mà xã hội hiện đại ngày nay
vẫn chưa tìm được lời giải đáp. Vì thế, khi dạy người giáo viên ngoài vai trò của
người thầy còn được xem là vai trò của người tuyên truyền viên truyền tải thông
tin đến học sinh. Để rồi qua các văn bản bày tỏ sự chung tay góp sức của học sinh
sẽ làm dịu đi các vấn đề nóng bỏng ấy. Đó chính là hiệu quả giáo dục mà mỗi
người giáo viên mong muốn đạt được.
Là một giáo viên được phân công giảng dạy môn Ngữ văn lớp 8 nhiều năm,
tôi nhận thấy đây là một vấn đề hết sức thú vị đối với giáo viên và học sinh bởi nó
đã nói được những hiện tượng đang xảy ra trong cuộc sống được nhiều người quan
tâm. Để dạy học có hiệu quả thì người dạy phải là người luôn biết cập nhật thông
tin trong cuộc sống hàng ngày để làm phong phú bài giảng của mình.
Sau khi nghiên cứu đề tài và qua quá trình dạy tôi đã rút ra được một số bài
học kinh nghiệm đối với phương pháp dạy học văn bản nhật dụng gắn với tính cấp
thiết của đời sống như sau:

Với giáo viên dạy ngữ văn khi dạy văn bản nhật dụng cần phải xem xét tính
cấp thiết của vấn đề đặt ra trong văn bản và ngoài cuộc sống. Nên dạy văn bản nhật
dụng bằng cách trao đổi, bàn luận, tránh nặng về nội dung văn bản để tăng tính
giáo dục.
Về phía nhà trường: Nên có nhiều hoạt động ngoại khóa để tuyên truyền, giáo
dục cho các em có ý thức bảo vệ môi trường, sức khỏe. Nhà trường cần kết hợp
với các cấp lãnh đạo ở địa phương nhắc nhở người dân nâng cao ý thức giữ gìn vệ
sinh môi trường, xử lí rác thải một cách hợp vệ sinh. Tuyên truyền ý thức chăm lo
giáo dục con em thật tốt.
Tôi mong rằng sẽ được các nhà quản lý giáo dục, các thầy cô giáo và các bạn
đồng nghiệp lưu tâm góp ý để tài liệu này đạt kết quả cao hơn.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của
người khác. Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Quan Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

NGƯỜI VIẾT

Nguyễn Thị Ngọc

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
www.google.com.vn
2. Báo cáo kinh tế xã hội năm 2016 của UBND huyện Quan Hóa
1.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status