ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ THƠI
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ THƠI
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã ngành: 8 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn;
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo trường Đại học
Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các thầy cô trong Khoa Sinh học trường Đại
học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu;
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các giáo viên, học sinh trường
THPT Na Rì- tỉnh Bắc Kạn đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong
quá trình thực hiện luận văn;
Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ, động
viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện đề tài.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Nông Thị Thơi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................. iv
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................. v
DANH MỤC CÁC HÌNH .................................................................................. vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do lựa chọn đề tài ........................................................................................ 1
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục ở trường phổ thông......................... 1
1.2. Xuất phát từ đặc điểm của bài tập tình huống trong dạy học ....................... 2
2.1. Nội dung dạy học Sinh học vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT) .................. 31
2.1.1. Cấu trúc nội dung phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 THPT ......... 31
2.1.2. Mục tiêu dạy học Sinh học Vi sinh vật - Sinh học 10 ............................ 32
2.2. Thiết kế bài tập tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật ................. 33
2.2.1. Nguyên tắc thiết kế bài tập tình huống trong dạy học Sinh học vi
sinh vật ............................................................................................................... 33
2.2.2. Quy trình thiết kế bài tập tình huống ....................................................... 34
2.2.3. Một số bài tập tình huống hướng dẫn tự học trong dạy học phần
Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 THPT được thiết kế .................................... 38
2.3. Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật ................. 48
2.3.1. Biện pháp sử dụng bài tập tình huống có hiệu quả ................................. 48
2.3.2. Quy trình sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật .... 49
2.3.3. Ví dụ kế hoạch bài học Sinh học vi sinh vật sử dụng bài tập tình huống ..... 51
2.4. Đánh giá năng lực tự học trong dạy học Sinh học vi sinh vật .................... 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................. 62
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ...................................................... 63
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm ................................................................. 63
3.2. Nội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm ...................................... 63
3.2.1. Nội dung thực nghiệm ............................................................................. 63
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
3.2.2. Phương pháp thực nghiệm ....................................................................... 63
3.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm .................................................................... 64
3.3.1. Kết quả đánh giá năng lực tự học của học sinh thông qua nhận thức
kiến thức Sinh học vi sinh vật ........................................................................... 64
3.3.2. Kết quả đánh giá năng lực tự học của học sinh thông qua kĩ năng
tự học ................................................................................................................. 72
3
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
4
GDPT
Giáo dục phổ thông
5
GV
Giáo viên
6
HS
Học sinh
7
PPDH
Phương pháp dạy học
Bảng 3.3. Kiểm định X điểm kiểm tra 15 phút ................................................ 67
Bảng 3.4. Phân tích phương sai điểm kiểm tra 15 phút .................................... 68
Bảng 3.5. Tần suất điểm kiểm tra bài 45 phút (f%) .......................................... 69
Bảng 3.6. Kiểm định X điểm kiểm tra 45 phút ................................................ 70
Bảng 3.7. Phân tích phương sai điểm kiểm tra 45 phút .................................... 71
Bảng 3.8. Kết quả thực hiện các kĩ năng tự học của năng lực tự học ............... 72
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Mức độ sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học tại
trường THPT tỉnh Bắc Kạn ............................................................... 25
Hình 1.2. Mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia học tập môn học sử
dụng bài tập tình huống ..................................................................... 26
Hình 1.3. Mức độ sử dụng bài tập tình huống với phát triển năng lực tự học
của học sinh trong dạy học Sinh học tại trường THPT tỉnh Bắc Kạn .. 26
Hình 2.1. Sơ đồ cấu trúc nội dung Sinh học vi sinh vật (Sinh học 10) ............. 31
Hình 2.2. Sơ đồ các bước trong quy trình thiết kế bài tập tình huống .............. 34
Hình 2.3. Sơ đồ các bước sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh
học vi sinh vật nhằm phát triển năng lực tự học ............................... 50
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất mức độ nhận thức kiến thức qua các bài kiểm tra .. 65
Hình 3.2. Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra bài 15 phút ....................................... 66
Hình 3.3. Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra bài 45 phút ....................................... 69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
1.2. Xuất phát từ đặc điểm của bài tập tình huống trong dạy học
Trong số các năng lực, năng lực tự học của HS cấp THPT được xác định
bởi yêu cầu xác định được nhiệm vụ học tập, biết đặt mục tiêu học tập; Đánh
giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập, hình thành cách học riêng, lựa chọn
nguồn tài liệu phù hợp, ghi chép thông tin bằng cách phù hợp; Tự nhận ra và
điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập,
suy ngẫm cách học, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống
khác [5]. Có nhiều cách để hình thành và phát triển năng lực này, trong đó sử
dụng BTTH là một cách có thể có hiệu quả cao.
BTTH là những tình huống đã xảy ra trong quá trình dạy học được cấu
trúc dưới dạng bài tập. Trong dạy học các môn học, những tình huống được
đưa ra là tình huống giả định hay tình huống thực đã xảy ra trong thực tiễn dạy
học môn học ở trường phổ thông. HS giải quyết được những tình huống trên,
vừa giúp hình thành kiến thức mới, vừa củng cố và khắc sâu kiến thức. Trong
rèn luyện kĩ năng dạy học, BTTH vừa là phương tiện, vừa là công cụ, vừa là
cầu nối giao tiếp giữa GV và HS. Sử dụng BTTH là biện pháp quan trọng để tổ
chức HS tự nghiên cứu, gắn việc học lí thuyết với thực hành, giải quyết các tình
huống trong thực tiễn.
1.3. Xuất phát từ đặc điểm dạy học Sinh học vi sinh vật ở trường THPT
Nội dung sinh học ở trường THPT được xây dựng theo nguyên tắc cấu
trúc hệ thống, thể hiện ở chỗ các đối tượng được sắp xếp theo một trình tự nhất
định, từ cấp độ tổ chức nhỏ đến cấp độ tổ chức lớn. Các kiến thức trong môn
Sinh học nói chung và phần SHVSV nói riêng bao gồm các khái niệm có mối
liên hệ chặt chẽ được hình thành và phát triển theo một trình tự logic. Nội dung
SHVSV học đề cập đến các kiểu dinh dưỡng, các ứng dụng quá trình phân giải
định hướng đến năm 2030. Kế hoạch nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền
giáo dục tỉnh Bắc Kạn có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy cơ hội
học tập suốt đời cho tất cả mọi người. Do đó, một trong số những giải pháp đặt
ra là triển khai thực hiện tốt chương trình GD&ĐT hướng tới nâng cao nhận
thức và hành động của HS, gia đình, xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển
giáo dục giữa các vùng, thực hiện đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
của HS theo hướng đánh giá việc hình thành các năng lực, kỹ năng và thái độ
tiếp thu kiến thức trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.
Na Rì là một trong những huyện thuộc vùng có nền kinh tế khó khăn của
tỉnh Bắc Kạn nên có nhiều ảnh hưởng tới giáo dục, đào tạo, tới định hướng đổi
mới PPDH tại địa phương. Tuy nhiên, có một số phương pháp, biện pháp, kỹ
thuật dạy học khá phù hợp với đặc điểm dạy học tại vùng này nhưng chưa được
áp dụng phổ biến. Một trong những phương pháp, biện pháp đó là sử dụng
BTTH, gắn các vấn đề học tập trong sách vở với thực tiễn.
Từ những lí do cơ bản trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng bài tập
tình huống trong dạy học Sinh học vi sinh vật cho học sinh THPT huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Thiết kế được BTTH trong dạy học SHVSV phù hợp với điều kiện dạy
học của một số trường THPT tỉnh Bắc Kạn.
- Thiết kế được kế hoạch dạy học SHVSV sử dụng BTTH và tổ chức dạy
học các kế hoạch dạy học đó tại một số trường THPT tỉnh Bắc Kạn.
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: BTTH và tổ chức dạy học sử dụng BTTH trong
dạy học SHVSV.
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học sinh học, tài liệu bồi dưỡng
chuyên môn và các tài liệu có liên quan về BTTH, về tự học.
- Nghiên cứu các sách tham khảo, giáo trình, luận văn, website liên
quan đến thiết kế và sử dụng BTTH để xác định cơ sở khoa học cho đề tài
nghiên cứu.
- Nghiên cứu nội dung môn Sinh học 10, phần SHVSV THPT.
6.2. Phương pháp chuyên gia
- Tham khảo ý kiến của các giảng viên môn PPDH, các GV THPT về cơ
sở lý luận của BTTH và sử dụng BTTH trong dạy học Sinh học.
- Tham khảo ý kiến của các giảng viên và GV THPT môn Sinh học về sử
dụng BTTH trong dạy học phần Sinh học VSV để phát triển năng lực tự học
cho HS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
6.3. Phương pháp điều tra sư phạm
Điều tra thực trạng sử dụng BTTH trong dạy học ở trường THPT tỉnh
Bắc Kạn.
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sử dụng BTTH trong dạy học phần SHVSV để phát triển
năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho HS nhằm xác định hiệu quả
của kế hoạch dạy học đã đề xuất.
6.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các tham số thống kê để xử lí, phân tích các kết quả điều tra và
thực nghiệm sư phạm.
7. Đóng góp của luận văn
Thiết kế và sử dụng được các BTTH trong dạy học SHVSV phù hợp với
thực tiễn dạy học ở trường THPT tỉnh Bắc Kạn nhằm hình thành và phát triển
các kĩ năng trong y học [dẫn theo 11].
Tại Pháp, đầu thế kỉ XX, việc sử dụng tình huống đã được áp dụng
nhưng chưa được thuyết phục do phần lớn tình huống là giả định. Từ những
năm 1960, Gaston de Vilard xây dựng một giáo trình luân lí mà nội dung là
những tình huống có thật, trong đó, GV xác định một số vấn đề lí thuyết ngắn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
gọn, nêu tình huống cụ thể cho HS thảo luận với nhau, cuối cùng GV kết luận.
Phương pháp này đã gây được tiếng vang lớn trong toàn nước Pháp và sau đó
được nghiên cứu, áp dụng trong nhiều ngành học khác nhau.
Nghiên cứu sử dụng tình huống trong giáo dục khoa học xã hội được
phát triển bởi nhà xã hội học Barney Glasser và Anselm Strauss vào năm 1967.
Từ đó, sử dụng tình huống trong đào tạo sư phạm được áp dụng và thể hiện
được những tính năng ưu việt. Ở các nước phương Tây, các tác giả Grahame
Feletti (1997) [30], Gramham Gibbs & Alen Jenkirs (1997) [31], Woods (1994)
[32]. Các nhà nghiên cứu Liên bang Xô viết và Ba Lan như Machiuxkin
(1972), Lecne I.Ia (1977), Kharlamôp I.F (1978), Ôkôn V (2006), … đã nghiên
cứu việc sử dụng tình huống trong dạy học nêu vấn đề. Theo Ôkôn, sử dụng
tình huống trong dạy học nêu vấn đề, bao gồm các hành động như: tổ chức các
tình huống có vấn đề; biểu đạt các vấn đề; giúp đỡ HS những điều kiện cần
thiết để giải quyết vấn đề; kiểm tra cách giải quyết vấn đề đó; cuối cùng, lãnh
đạo quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thức đã tiếp thu được [21].
Ở các nước châu Á, sử dụng tình huống trong nhiều lĩnh vực cũng được
áp dụng rộng rãi và cho những hiệu quả nhất định.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Vấn đề dạy học tình huống được giới thiệu trong nhiều tài liệu, bài giảng
của nhiều nhà nghiên cứu lí luận dạy học ở Việt Nam và đã có nhiều công trình
nhiên, tác giả giới thiệu một cách chung chung, chưa có ví dụ cụ thể cho mỗi
biện pháp. Nâng cao hiệu quả dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học được
tác giả Ngô Thị Ngọc Mai sử dụng bài tập thực tiễn, áp dục vào các hoạt động
của bài học như xây dựng tình huống vào bài, hình thành kiến thức mới, vận
dụng và ứng dụng kiến thức, củng cố, luyện tập, thực hành kiến thức [18]. Kết
quả nghiên cứu về nguyên tắc, quy trình xây dựng và sử dụng bài tập thực tiễn
của tác giả có thể vận dụng ở nhiều môn học khác nhau.
Trong dạy học Sinh học, nhiều tác giả cũng đã quan tâm đến việc nghiên
cứu áp dụng BTTH trong dạy học bộ môn như Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức
Thành, Lê Đình Trung, Vũ Đức Lưu, Nguyễn Phúc Chỉnh, Lê Thanh Oai,
Nguyễn Đình Nhâm, Phan Đức Duy,… Phần lớn các tác giả đều khẳng định sự
cần thiết của việc sử dụng BTTH, tình huống có vấn đề,… trong việc chủ động
lĩnh hội kiến thức, phát huy tính sáng tạo, học tập của người học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Trong công tác đào tạo cử nhân sư phạm, tác giả Phan Đức Duy quan
tâm đến BTTH để rèn luyện kĩ năng dạy học [8]. Trong dạy học Sinh học phổ
thông, nhiều tác giả đã nghiên cứu vận dụng BTTH để phát triển năng lực giải
quyết vấn đề [23], [25] hoặc rèn kĩ năng [9], [13], [19].
Như vậy, nghiên cứu và vận dụng BTTH trong dạy học rất được quan
tâm. Tuy đã có những nghiên cứu sử dụng BTTH trong dạy học phần SHVSV
nhưng các nghiên cứu tập trung vào hình thành và phát triển năng lực giải
quyết vấn đề hoặc rèn luyện kĩ năng cho HS. Nghiên cứu vận dụng BTTH
trong dạy học SHVSV để hình thành và phát triển năng lực tự học còn hạn chế,
cần có những nghiên cứu lí luận và thực tiễn cụ thể.
1.2. Những vấn đề chung về bài tập tình huống trong dạy học
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
học, NXB Khoa học xã hội (2000), “Tình huống là hệ thống các sự kiện bên
ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy chủ thể đó. Trong quan hệ
không gian, tình huống xảy ra bên ngoài nhận thức của chủ thể. Trong quan hệ
thời gian, tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể. Trong quan hệ
chức năng, tình huống là sự độc lập của các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm
mà người đó thực hiện hành động” [dẫn theo 12].
Theo Boehrer, “Tình huống là một câu chuyện, có cốt truyện và nhân
vật, liên hệ đến một hoàn cảnh cụ thể, từ góc độ cá nhân hay nhóm, và thường
là hành động chưa hoàn chỉnh. Đó là một câu chuyện cụ thể và chi tiết, chuyển
nét sống động và phức tạp của đời thực vào lớp học” [28].
Vương Tất Đạt quan niệm theo logic học “Tình huống là một hệ thống
những điều kiện bên trong quan hệ với chủ thể, những điều kiện này tác động
một cách gián tiếp lên tính tích cực của chủ thể đó” [10].
Như vậy, tình huống là sự kiện có thực trong đời sống xã hội, mọi cá
nhân và xã hội luôn luôn sống trong các tình huống nhất định, thường xuyên
phải đối mặt và chịu sự tác động của nó. Để tồn tại và phát triển mỗi cá nhân,
xã hội phải liên tục tìm cách giải quyết những tình huống đó từ những tình
huống đơn giản đến những tình huống phức tạp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Người ta phân biệt tình huống thành 2 dạng chính: tình huống đã xảy ra
(là những khả năng đã xảy ra được tích lũy lại trong vốn tri thức của loài
người) và tình huống sẽ xảy ra (dự kiến chủ quan).
1.2.1.3. Bài tập tình huống
Nhiều tác giả đã đưa ra ý kiến khác nhau về BTTH:
Theo Nguyễn Như An, “BTTH sư phạm là một dạng bài tập nêu tình
huống giả định hay thực tiễn trong quá trình DH - giáo dục, một tình huống khó
Tác giả Nguyễn Đình Nhâm xác định “BTTH dạy học là những tình
huống khác nhau đã, đang và có thể xảy ra trong quá trình dạy học được cấu
trúc dưới dạng bài tập. Khi HS giải quyết được những bài tập ấy sẽ vừa có tác
dụng củng cố kiến thức vừa rèn được những kĩ năng cần thiết” [19].
Qua phân tích khái niệm BTTH của nhiều tác giả, chúng tôi cho rằng
BTTH cần có những đặc trưng sau:
- BTTH là một dạng bài tập có cấu trúc gồm hai phần: Điều kiện (cái đã
cho) và phần yêu cầu (cái cần tìm).
- BTTH phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức giữa lí thuyết với thực
tiễn, mâu thuẫn giữa tri thức cũ và tri thức mới.
- BTTH phải gây ra nhu cầu nhận thức cho người học, khích thích người
học tìm cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra, có hứng thú, mong muốn được giải
quyết vấn đề trong tình huống.
- BTTH phải có tính phù hợp với khả năng của người học để giải quyết
vấn đề mà tình huống đặt ra.
1.2.2. Đặc điểm của bài tập tình huống
Tình huống được đưa vào dạy học thường dưới dạng những bài tập
nghiên cứu tình huống (BTTH). Đặc điểm nổi bật của loại bài tập này là xoay
quanh những sự kiện có thật hay gần gũi với thực tế trong đó chứa đựng vấn đề
và mâu thuẫn cần phải được giải quyết (Center for Teaching and Learning of
Stanford University 1994). Một bài tập nghiên cứu tình huống tốt theo John
Boehrer and Marty Linsky cần phải trình bày được những vấn đề có tính khiêu
khích và tạo được sự thấu cảm. Trong một môi trường giáo dục đa dạng, nhiều
nhóm học tập làm việc trong các lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt và ở các cấp độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
kinh nghiệm khác nhau có thể được tìm thấy theo đuổi kĩ năng và kiến thức
1.2.2.2. Hạn chế của dạy học bằng bài tập tình huống
- PPDH bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự học, thái độ làm việc nghiêm
túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động. Vì vậy, nếu HS không có
những đức tính đó thì hiệu quả dạy học bằng BTTH sẽ không đạt được.
- PPDH bằng tình huống tốn nhiều thời gian của người học, người dạy.
- PPDH bằng tình huống đòi hỏi những kỹ năng phức tạp.
- Đòi hỏi GV có kiến thức, kinh nghiệm sâu, rộng, có kĩ năng kích thích,
phối hợp tốt trong quá trình dẫn dắt, tổ chức thảo luận và giải đáp để giúp HS
tiếp cận kiến thức, kĩ năng. Đây thật sự là những thách thức lớn đối với GV
trong quá trình ứng dụng phương pháp này.
1.2.2.3. Tiêu chuẩn của bài tập tình huống
Để đạt được hiệu quả phát triển năng lực cho HS, BTTH được sử dụng
trong dạy học cần đạt được những tiêu chuẩn:
1/ BTTH phải chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm. Các
sự kiện trong bài tập gồm 2 yếu tố là các dữ kiện (những điều đã biết) là những
thông tin đã cho một cách tường minh và yêu cầu (cái cần tìm) là những thông
tin cần phải tìm ra. Chẳng hạn, bạn Lan thắc mắc tại sao từ dung dịch gồm sữa
đặc, sữa tươi, nước và ít sữa chua, khi đem ủ một thời gian dung dịch dạng lỏng
đã chuyển sang dạng sệt.
2/ BTTH phải gây ra nhu cầu nhận thức. Những mâu thuẫn trong BTTH
là cái khách quan phải được chuyển thành cái chủ quan bên trong của chủ thể
thì sẽ gây ra nhu cầu nhận thức, kích thích chủ thể tìm cách giải quyết. Chẳng
hạn, ở ví dụ trên, nếu thắc mắc của Lan không nằm trong nhu cầu nhận thức mà
Lan muốn biết thì Lan sẽ không đi tìm câu trả lời, nhưng khi mâu thuẫn đó thôi
thúc Lan tìm câu giải đáp thì Lan sẽ tìm hiểu cơ sở khoa học và các yếu tố ảnh
hưởng đến quá trình làm sữa chua.
3/ BTTH phải phù hợp với trình độ, đối tượng HS. Nếu tình huống có