BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Kinh tế
PHẠM HỒNG NHUNG
Hà Nội – 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107
Họ và tên học viên: Phạm Hồng Nhung
Người hướng dẫn: TS. Hà Công Anh Bảo
trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học
Ngoại thương, các thầy cô giáo Trường Đại học Ngoại thương, Khoa Sau Đại học,
Khoa Luật đã tạo điều kiện học tập, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp tôi có được
những kiến thức cơ bản trong quá trình hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình đã động viên, khích lệ
tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Hồng Nhung
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU........................................................................... vi
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN........................... 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng......................................... 6
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại hợp đồng tín dụng....................6
1.1.2. Đối tượng, phạm vi và chủ thể của hợp đồng tín dụng...................9
1.2. Tranh chấp hợp đồng tín dụng............................................................. 11
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng.................11
2.3.2. Hạn chế trong giải quyết tranh chấp............................................. 43
2.4. Đánh giá về công tác xét xử các vụ án về tranh chấp hợp đồng tín
dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh .. 55
2.4.1. Nhận xét về thực trạng giải quyết tranh chấp............................... 55
2.4.2. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới chất lượng bản án.....................57
CHƯƠNG III. QUAN ĐIỂM VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ
LONG, TỈNH QUẢNG NINH.............................................................................. 63
3.1. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng
tín dụng ngân hàng tại Tòa án.............................................................................. 63
3.1.1. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng...63
3.1.2. Quan điểm cụ thể về áp dụng pháp luật....................................... 65
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
ngân hàng tại Tòa án............................................................................................. 66
3.2.1. Giải pháp về pháp luật nhằm hạn chế tranh chấp phát sinh..........66
3.2.2. Giải pháp về quy định pháp luật tố tụng....................................... 72
3.2.3. Giải pháp nâng cao khả năng giải quyết tranh chấp.....................74
KẾT LUẬN............................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 80
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Cụm từ viết tắt
Tổ chức tín dụng
UBND
Ủy ban nhân dân
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng số liệu thống kê các vụ án xét xử sơ thẩm về tranh chấp hợp đồng tín
dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh………41
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới trong mọi lĩnh vực của đời sống từ
chính trị, kinh tế, xã hội và các lĩnh vực khác. Hàng ngày các giao dịch trong xã hội
thường diễn ra rất đa dạng, pháp luật khó có thể điều chỉnh được hết toàn bộ các
quan hệ trong cuộc sống. Khi tham gia giao dịch, thông thường các bên lựa chọn
hình thức giao dịch thông qua hợp đồng – hợp đồng ghi nhận sự thỏa thuận giữa các
bên, là cơ sở, căn cứ để pháp luật bảo vệ quyền lợi của các bên khi xảy ra tranh
chấp. Tại các tổ chức tín dụng, đặc biệt là ở các ngân hàng thương mại thì hợp đồng
tín dụng được sử dụng nhiều trong các giao dịch với các khách hàng của mình cho
các nhu cầu vay vốn phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng...Bởi hợp
đồng tín dụng ngân hàng chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp và nhạy cảm nên nó rất
dễ dẫn đến tranh chấp của các bên trong hợp đồng. Để tạo khung pháp lý quan trọng
2. Tình hình nghiên cứu
Trong lĩnh vực pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng nói chung và giải
quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng nói riêng, đã có nhiều
công trình nghiên cứu với những cấp độ khác nhau đóng góp không nhỏ tạo cơ sở lý
luận giúp cho việc hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng,
đặc biệt là tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng. Có thể kể đến các công trình
nghiên cứu có liên quan như:
- Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Trần Thị Thùy Trang năm 2014 với
đề tài:“Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con
đường Tòa án ở Việt Nam”.
- Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Trương Thị Hai năm 2018 với đề tài:
“Hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân
dân thành phố Đà Nẵng”.
- Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Hồ Thị Khuyên năm 2016 với đề tài:
“Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Thành phố
Hà Nội”.
- Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Phạm Thị Như Bình năm 2017 với đề
tài:“Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Tòa án cấp sơ thẩm
theo pháp luật Việt Nam”.
3
Bên cạnh đó, còn rất nhiều bài viết của các tác giả đăng trên tạp chí chuyên
ngành về luật học, tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật có
liên quan đến chủ đề này như sau:
- Bài viết trên tạp chí công thương ngày 31/10/2017 về: “Giải quyết các
tranh chấp về hợp đồng tín dụng” của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh.
- Bài viết trên báo pháp luật ngày 03 tháng 03 năm 2016 về hòa giải trong
việc giải quyết các vụ việc kinh doanh – thương mại: “Gỡ khó cho các tranh
đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh,
chỉ ra những vấn đề phát sinh và bất cập về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
+ Đưa ra những quan điểm về hoàn thiện hệ thống pháp luật và giải pháp
thúc đẩy hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận, thủ tục và thực tiễn xét xử
về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành
phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Luận văn không nghiên cứu toàn bộ các quy định của
pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng, mà chỉ tập trung nghiên cứu các thủ tục,
nội dung về tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng còn có sự bất cập, khó khăn
phát sinh trong thực tiễn.
+ Phạm vi về thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu các tranh chấp và thực
trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tài Tòa án nhân dân thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2015 cho đến hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, tổng hợp
các phương pháp nghiên cứu khoa học: phương pháp so sánh, thống kê; phương
pháp phân tích tổng hợp; phương pháp mô hình hóa, hệ thống hóa, khảo sát, phỏng
vấn trao đổi trực tiếp với các Thẩm phán, Thư ký tòa, Hội thẩm nhân dân trong hoạt
động xét xử tại Tòa án cũng như khảo cứu các tài liệu liên quan đến công tác giải
quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả của luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển lý luận về vai trò của
bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất
lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” thì hợp
đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, chỉ được gọi
là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD).
Luật các TCTD năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện
một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân
hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân
dân” ( Điều 4, Khoản 1).
Theo Khoản 14, Điều 4, Luật các TCTD năm 2010 thì: “Cấp tín dụng là việc
thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử
dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp
tín dụng khác.”
Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là một căn cứ pháp lý mà qua đó TCTD thực
hiện hoạt động cấp tín dụng. Việc cho vay của TCTD và khách hàng vay phải được
lập thành HĐTD. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về số tiền cho vay, mục đích
sử dụng vốn vay, đồng tiền cho vay, đồng tiền trả nợ, phương thức cho vay, thời
7
hạn cho vay, lãi suất cho vay, giải ngân vốn cho vay và việc sử dụng phương tiện
thanh toán để giải ngân vốn cho vay, hình thức bảo đảm, phương thức trả nợ và
những nội dung khác được tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với
quy định của pháp luật có liên quan.
Do đó có thể hiểu:“Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận chung bằng văn bản
giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng và bên vay là cá nhân, tổ chức nhằm xác lập
các quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật, theo đó tổ chức tín
dụng chuyển giao một số tiền cho cá nhân, tổ chức sử dụng vào mục đích xác định
trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
đầy đủ các nghĩa vụ đối với mình bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng vốn vay
đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận với bên
cho vay…
* Phân loại hợp đồng tín dụng
a. Căn cứ vào thời hạn cho vay. HĐTD chia thành 3 loại:
- HĐTD ngắn hạn: Là loại HĐTD có thời hạn tối đa 12 tháng (1 năm). Là
hợp đồng tín dụng sử dụng vốn vay nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các
doanh nghiệp hoặc đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
-
HĐTD trung hạn: Là loại HĐTD có thời gian từ trên 12 tháng đến tối đa 60
tháng (từ trên 1 năm đến tối đa 5 năm). Là hợp đồng tín dụng trong đó người vay sử
dụng vốn vay để mua sắm các tư liệu sản xuất, đổi mới thiết bị và dây chuyền công
nghệ để nâng cao và mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc xây dựng các dự án mới có
quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh.
-
HĐTD dài hạn: Là HĐTD có thời gian trên 60 tháng (trên 5 năm). Là loại
hợp đồng tín dụng sử dụng vốn vay để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng
nhà máy, xí nghiệp mới hoặc đầu tư thực hiện các dự án có quy mô lớn và thời gian
đầu tư lâu dài.
1
b. Căn cứ vào đối tượng cho vay. HĐTD chia làm 2 loại:
- HĐTD cho vay phục vụ nhu cầu đời sống: Là hình thức vay theo đó TCTD
cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu
dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó.
phải có tài sản thế chấp để cầm cố, thế chấp hoặc có người thứ ba bảo lãnh để bảo
đảm việc trả nợ vay. Loại cho vay này được áp dụng với khách hàng thông thường
nhằm tạo ra nguồn thu bổ sung dự phòng cho trường hợp khách hàng không trả
được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ khi đến hạn.
3
1.1.2. Đối tượng, phạm vi và chủ thể của hợp đồng tín dụng
* Đối tượng của hợp đồng tín dụng
Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền như đồng Việt Nam, vàng hoặc
ngoại tệ. Về nguyên tắc, đối tượng của HĐTD bao giờ cũng phải là một số tiền xác
định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng.
* Phạm vi của hợp đồng tín dụng
- Về thời hạn cho vay: Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ
hoạt động kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, khả năng trả nợ của khách hàng, nguồn
vốn cho vay và thời hạn hoạt động còn lại của tổ chức tín dụng để thỏa thuận về
2
Điều 2, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy
định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
3
TS.Phạm Văn Tuyết & TS.Lê Kim Giang, Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay, Nhà xuất bản
Tư pháp, Hà Nội, 2012, tr.25-26.
10
thời hạn cho vay. Đối với khách hàng là pháp nhân được thành lập và hoạt động tại
Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt
4
Điều 28, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
5
Điều 4, Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy
định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng.
11
hàng, khả năng nguồn vốn của mình để quyết định mức cho vay.
6
Ngoài ra, khi cho vay các TCTD căn cứ vào Điều 127, Luật các TCTD năm
2010 quy định về hạn chế cấp tín dụng, tùy thuộc vào đối tượng được cấp tín dụng
mà tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với từng đối tượng là khác nhau không quá
5%, 10%, 20% vốn tự có của mình.
* Chủ thể hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật tín dụng là quan hệ tài sản – hàng hóa phát sinh trong quá
trình sử dụng vốn tạm thời giữa ngân hàng và các tổ chức, cá nhân theo nguyên tắc
có hoàn trả, dựa trên cơ sở tín nhiệm hoặc có sự bảo đảm, được các quy phạm pháp
luật điều chỉnh. Tham gia quan hệ này có ít nhất gồm hai chủ thể là bên cho vay và
bên đi vay.
- Bên cho vay: Luôn là TCTD, được thành lập và hoạt động theo quy định
của Luật các TCTD và các văn bản pháp luật có liên quan. Có chức năng hoạt động,
kinh doanh tín dụng, thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
- Bên đi vay (Khách hàng): là pháp nhân, cá nhân quy định tại Khoản 3, Điều
quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích trong quá trình thực hiện HĐTD của các bên tham
gia. Một HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về quyền
lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài thông qua những bằng chứng cụ thể
và xác định được.
Như vậy, tranh chấp hợp đồng tín dụng là những mâu thuẫn, bất đồng phát
sinh từ quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay là tổ chức tín
dụng và bên vay. Đó là những tranh chấp có thể về nợ gốc, nợ lãi, lãi suất, phí, về
mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng cho vay như điều kiện vay, mục đích sử dụng
vốn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm, phương
thức trả nợ và các nội dung khác.
Tranh chấp tín dụng được hiểu là tranh chấp về các hợp đồng tín dụng ngân
hàng bao gồm hợp đồng cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
lãnh ngân hàng và các hợp đồng tín dụng khác.
* Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Tranh chấp HĐTD ngân hàng cũng là một loại tranh chấp hợp đồng dân sự
nói chung, do vậy có đầy đủ những đặc điểm vốn có của một tranh chấp hợp đồng.
Tuy vậy, với bản chất đặc thù của Hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng tín dụng
ngân hàng có một số đặc điểm đặc trưng riêng biệt để có thể phân biệt với các loại
tranh chấp hợp đồng khác.
- Thứ nhất: Tranh chấp HĐTD ngân hàng luôn có sự tham gia của một bên là
7Trần Thị Thùy Trang,“Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường
Tòa án ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội năm 2014, tr.9.
13
TCTD và phần lớn các tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng thì nguyên đơn là
TCTD cho vay, bị đơn là bên vay. Trong mối quan hệ HĐTD, các nghĩa vụ chính
của bên vay thường phát sinh sau thời điểm giải ngân vốn vay. Trong khi đó, tại thời
điểm hoàn tất việc giải ngân cho khách hàng thì TCTD đã hoàn thành các nghĩa vụ
các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất
phát từ HĐTD đã được ký kết và mục đích cuối cùng là bảo đảm cho việc trả nợ của
bên vay khi gặp rủi ro về nghĩa vụ thanh toán nợ.
- Thứ tư: tranh chấp HĐTD ngân hàng phát sinh từ sự xung đột về lợi ích
giữa các bên tham gia tranh chấp. Bởi vì tranh chấp HĐTD ngân hàng cũng là một
loại tranh chấp hợp đồng dân sự nói chung nên phải xuất phát từ xung đột lợi ích
của các bên trong hợp đồng. Đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng thì
chỉ chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi kiện để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay hay bên cho vay. Như vậy tranh chấp
phát sinh từ HĐTD chỉ phát sinh khi các bên khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình trong quan hệ tín dụng.
8
1.2.2. Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng
Thực tiễn cho thấy các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng là rất đa
dạng và phức tạp. Tuy nhiên, thường tranh chấp phát sinh từ HĐTD có hai loại:
tranh chấp HĐTD là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay vốn là cá nhân, hộ
gia đình hay tổ chức không có mục đích lợi nhuận và không có đăng ký kinh doanh;
Tranh chấp HĐTD là tranh chấp kinh doanh thương mại khi bên vay vốn là cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận.
Xét về phương diện lý thuyết, tranh chấp phát sinh từ HĐTD có các dạng cơ
bản sau đây:
- Tranh chấp do các bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng:
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay: HĐTD ngân hàng là một dạng
của hợp đồng có hình thức bắt buộc thể hiện bằng văn bản. Do vậy, sau khi HĐTD
ngân hàng có hiệu lực, việc giải ngân vốn mà hai bên đã thỏa thuận là nghĩa vụ của
các ngân hàng thương mại (NHTM). Tuy nhiên vì một lý do nào đó (lý do khách
quan hoặc lý do chủ quan) mà các NHTM đã không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ giải ngân đối với bên vay. Điều này làm ảnh hưởng tới quyền và lợi
vay; Tranh chấp về số tiền vay và lãi suất cho vay; Tranh chấp về thời hạn vay, thời
hạn tính lãi quá hạn, thời hạn bảo đảm tiền vay; Tranh chấp về vấn đề hiệu lực của
hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay…
- Tranh chấp xảy ra từ việc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với HĐTD có
bảo đảm bằng tài sản và định giá, xử lý tài sản bảo đảm:
16
Trong HĐTD có bảo đảm bằng tài sản, TCTD cho vay luôn có quyền ưu tiên
theo đuổi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho mình, bất luận tài sản bảo đảm đang
nằm ở đâu và trong sự quản lý của ai. Quyền này của các TCTD được xác lập trên
cơ sở giao dịch bảo đảm giữa TCTD (bên nhận bảo đảm) với bên vay hoặc bên thứ
ba (bên bảo lãnh). Khi đến hạn mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì TCTD được quyền ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài
sản bảo đảm. Chính bởi bản chất HĐTD mang tính rủi ro cao nên các TCTD coi bảo
đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển
tiền tệ) không thể thanh toán được nợ. Hiện nay, theo quy định của pháp luật có ba
hình thức bảo đảm tín dụng là cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Quá trình xác lập, thực
hiện giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm được quy định tại các điều từ 292
đến Điều 350 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày
29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày
22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số
163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ nghiêm túc
những quy định của pháp luật nên rất dễ phát sinh tranh chấp.
Các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng này xảy ra tương đối nhiều chủ yếu
liên quan đến việc định giá, xử lý tài sản bảo đảm. Đối với những HĐTD cho vay có
bảo đảm, việc xác định tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của vợ chồng, tài sản riêng của
từng người hay tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình có ý nghĩa quan trọng
quả, chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân
tích khách hàng, chấm điểm, xếp loại, xếp hạng khách hàng, phân loại rủi ro tín
dụng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ của bên vay khi đến hạn hợp đồng.
+ Bên cho vay chưa chấp hành đầy đủ các điều kiện về biện pháp bảo đảm
tiền vay của Ngân hàng nhà nước, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện
pháp bảo đảm tiền vay. Nhiều TCTD khi đánh giá về biện pháp bảo đảm tiền vay
chỉ dựa vào nguồn thông tin, hồ sơ, số liệu do khách hàng cung cấp mà chưa có sự
kiểm chứng các sổ sách kế toán và kiểm tra thực tế.
+ Năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ tín dụng: do sự hạn chế về năng
lực nghiệp vụ của các bộ ngân hàng, do các NHTM thường có thói quen tập trung
nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà không kiểm soát chặt chẽ
việc sử dụng vốn vay.