luan van kiến thức thông tin của sinh viên trường đại học hà tĩnh - Pdf 66

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
---------------------------

TRẦN DƢƠNG

KIẾN THỨC THÔNG TIN
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ
TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN - THƢ VIỆN

HÀ NỘI, Năm 2015


1

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
------------------------------

TRẦN DƢƠNG

KIẾN THỨC THÔNG TIN
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ
TĨNH
Chuyờn ngành: Khoa học Thông tin - Thƣ viện
Mó số: 60320203

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN - THƢ VIỆN


1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kiến thức thông tin ........................21
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá kiến thức thông tin .................................................27
1.1.4. Các yêu cầu đối với kiến thức thông tin của sinh viên.............................31
1.2. Trƣờng Đại học Hà Tĩnh và Trung tâm Thông tin - Thƣ viện ................32
1.2.1. Trường Đại học Hà Tĩnh ..........................................................................32
1.2.2. Trung tâm Thông tin – Thư viện ..............................................................34
1.3. Vai trò của kiến thức thông tin đối với sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh ....39
1.3.1. Nâng cao chất lượng học tập ....................................................................39
1.3.2. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ..............................................40
1.3.3. Trợ giúp giải quyết các vấn đề khác.........................................................43
Tiểu kết .................................................................................................................44
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH ............................................................................46
2.1. Kỹ năng nhận dạng nhu cầu ..........................................................................46
2.1.1. Nhận thức của sinh viên về khái niệm kiến thức thông tin ......................46
2.1.2. Nhận thức của sinh viên về các khóa học kiến thức thông tin .................47
2.1.3. Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của các kỹ năng thông tin .......49
2.2. Kỹ năng tìm kiếm và đánh giá thông tin ....................................................50
2.2.1. Định vị thông tin.......................................................................................50
2.2.2. Cách thức tiến hành tìm tin của sinh viên ................................................53
2.2.3. Đánh giá thông tin ....................................................................................56
2.3. Kỹ năng sử dụng và trình bày thông tin .....................................................59
2.3.1. Kỹ năng sử dụng thông tin .......................................................................59
2.3.2. Kỹ năng trình bày thông tin ......................................................................62
2.4. Chia sẻ thông tin ...........................................................................................64
2.5. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kiến thức thông tin của sinh viên Trƣờng Đại
học Hà Tĩnh ..........................................................................................................66
2.5.1. Hoàn cảnh xã hội ......................................................................................66
2.5.2. Điều kiện kinh tế ......................................................................................67


thông tin ............................................................................................................. 101
3.3.1. Tăng cường vai trò của giảng viên ........................................................ 101
3.3.2. Tăng cường vai trò của lãnh đạo ........................................................... 102
3.3.3. Tăng cường vai trò của Thư viện .......................................................... 103
3.4. Nâng cao trình độ cán bộ thƣ vện ............................................................ 104
3.4.1. Trang bị kỹ năng cần thiết cho cán bộ thư viện .................................... 104
3.4.2. Tập huấn kiến thức thông tin cho cán bộ thư viện ................................ 107
3.4.3. Xây dựng mối liên hệ giữa cán bộ thư viện với giảng viên .................. 108
Tiểu kết .............................................................................................................. 110
KẾT LUẬN ............................................................................................................111
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................113
PHỤ LỤC ...............................................................................................................118


5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

CBTV

Cán bộ thư viện

CNTT

Công nghệ thông tin

CSDL


NDT

Người dùng tin

NCT

Nhu cầu tin

ACRL

Association of College and Research Libraries

ALA

American Library Association

OPAC

Online Public Access Catalog


6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
1
2
3


7

Bảng 2.6: Cách thức sinh viên đánh giá chất lượng tài liệu

55

8

Bảng 2.7: Ý thức về trích dẫn tài liệu tham khảo của sinh viên

58

9

Bảng 2.8: Hiểu biết về các trường hợp trích dẫn tài liêu tham khảo

68

10

Bảng 2.9: Sinh viên nhận thức về việc vi phạm bản quyền

60

11

Bảng 2.10: Mức độ sử dụng tài liệu tham khảo của sinh viên

61

STT

Trang

1

Biểu đồ 2.1: Sinh viên lựa chọn biểu thức tìm tin

53

2

Biểu đồ 2.2: Sinh viên lựa chọn điểm truy cập thông tin

54

3

Biểu đồ 2.3: Mức độ sử dụng tài liệu tham khảo của sinh viên

61

4
5

Biểu đồ 2.4: Hiểu biết của sinh viên về tổ chức danh mục tài liệu
tham khảo
Biểu đồ 2.5: Các phương thức chia sẻ thông tin của sinh viên

62

điều kiện và hoàn cảnh của mỗi trường là vấn đề lớn và khó đối với cán bộ quản lý,
những người đang giảng dạy và cả sinh viên. Tuy có những bất cập nhưng việc lấy
sinh viên làm trọng tâm để phát huy khả năng tự học của sinh viên theo chương


9

trình đạo theo tín chỉ thì có thể nói rằng việc học theo tín chỉ là một trong những
biện pháp mang lại hiệu quả giúp cho sinh viên phát huy khả năng tự học, tự tích
lũy kiến thức của mình thông qua sự hiểu biết về kiến thức thông tin (KTTT).
KTTT là kỹ năng then chốt, nó cần thiết trong việc nghiên cứu bất kỳ lĩnh
vực nào. Đó là điều kiện tiên quyết cho việc học tập suốt đời và cho phép người học
tham gia một cách chủ động và có phê phán vào nội dung học tập và mở rộng việc
nghiên cứu, trở thành người có khả năng tự định hướng, tự kiểm soát tốt hơn quá
trình học của mình. Khi mà các trường đại học ngày càng có xu hướng lồng ghép
việc phát triển và đánh giá các kỹ năng này vào việc đào tạo ở bậc đại học, KTTT
cung cấp một cổng thông tin cho việc phát triển các kỹ năng khác. KTTT đã nổi lên
như một vấn đề quan trọng trong việc đào tạo sinh viên, đặc biệt là cho những
người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau [17]. Ngày nay, KTTT không chỉ là vấn
đề riêng của ngành thông tin - thư viện (TT-TV), mà nó đã trở thành vấn đề cấp
thiết của thế kỷ 21, và đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực giáo dục đại học. Có thể
khái quát rằng: KTTT giúp chúng ta có khả năng tốt hơn để nhận biết nhu cầu thông
tin, khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả.
Trong bối cảnh nền giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển tiếp từ đào tạo theo
niên chế sang học chế tín chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, thì
việc nâng cao KTTT cho sinh viên là điều không thể thiếu trong hoạt động đào tạo của
các trường. Sinh viên được đào tạo kỹ năng thông tin sẽ nắm được các nguyên tắc cơ
bản trong việc nhận biết nhu cầu thông tin, hoạch định chiến lược tìm kiếm, định vị,
truy cập, đánh giá và sử dụng thông tin một cách hợp lý để phục vụ cho việc học tập và
nghiên cứu độc lập. Đây chính là nền tảng giúp sinh viên phát triển năng lực bản thân

Vào những thập niên 70, tại Mỹ Trường Đại học Tổng hợp Colorado đã đưa
KTTT vào trong chương trình giảng dạy và được đề cập trong khóa học bắt buộc về
kiến thức máy tính. Năm 1974, tại Uỷ ban quốc gia về Khoa học Thông tin và Thư
viện, Paul G. Zurkowski là người đầu tiên sử dụng KTTT với nội dung: Các nguồn
thông tin được áp dụng vào các tình huống giải quyết công việc; các công nghệ, kỹ
năng cần có để sử dụng các công cụ thông tin và các nguồn thông tin chính yếu;
thông tin để giải quyết vấn đề mà con người gặp phải [13, 4], năm 1976, KTTT xuất
hiện trong bài trình bày của Lee Burchinal tại một hội thảo của Thư viện A&M


11

Texas. Theo ông KTTT được hiểu là các kỹ năng bao gồm: Các kỹ năng xác định
thông tin và sử dụng thông tin; Sử dụng thông tin để giải quyết vấn đề và ra quyết
định; Sử dụng thông tin có hiệu quả trong công việc [23], năm 1979, tổ chức IIA
(Hiệp Hội các ngành Công nghệ thông tin) đã đưa ra nội dung KTTT là người biết các
công nghệ và các kỹ năng để sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) và các kỹ năng sử
dụng các công cụ thông tin để tạo lập các quyết định giải quyết các vấn đề. Robert
Taylor đã nhấn mạnh các yếu tố của KTTT: Giải quyết mọi vấn đề cần thiết phải có
thông tin và số liệu; Phải có kiến thức về nguồn thông tin là một điều kiện tiên quyết;
Quá trình thông tin diễn ra liên tục cũng quan trọng như những quá trình thông tin diễn
ra rời rạc; Có những chiến lược tìm tin để bổ sung thông tin mới [23], năm 1985, tại
Thư viện Trường Đại học Tổng hợp Colorado đã tiến hành nghiên cứu chương trình
giảng KTTT với nội dung: KTTT là khả năng truy cập và đánh giá thông tin thỏa
mãn một nhu cầu nhất định một cách hiệu quả [25].
Theo Hiệp Hội các Thư viện đại học và Thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL,
1989), KTTT là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có
thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông
tin cần thiết một cách hiệu quả” [13].
Vào đầu những năm 90, KTTT đã được Hiệp hội thư viện Mỹ chấp nhận ba

quốc gia với mục đích: 1) Nâng cao hiểu biết chính trị và truyền thông về tầm quan
trọng của thông tin xã hội trong thế kỷ 21; 2) Phát triển chiến lược tổng hợp nhằm nâng
cao kỹ năng thông tin cho công dân Hoa Kỳ; 3) Xây dựng những tiêu chuẩn và khung
đánh giá KTTT liên quốc gia [13].
Gaston Nicole Marie (2009) tại Đại hội cán bộ thư viện các nước Đông Nam
Á lần thứ 14 - Consal XIV cũng đã đề cập đến KTTT qua bài viết “Phát triển chiến
lược nhằm nâng cao kiến thức thông tin và triển khai các dịch vụ thư viện năng
động: Một số gợi ý cho Lào” [18].
2.2. Lịch sử nghiên cứu kiến thức thông tin ở Việt Nam
Tại Việt Nam, khái niệm “Information Literacy” ngày càng phổ biến trong
các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan TT-TV, đặc biệt trong lĩnh vực TTTV và được dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau như: “Kiến thức thông


13

tin”, “Hiểu biết thông tin” hay “Kỹ năng thông tin”... trên các phương tiện: tạp chí,
luận văn thạc sĩ, hội thảo khoa học.
Gần đây, khái niệm Information Literacy đã được một số tác giả nghiên cứu ở
các phương diện khác nhau trên các tạp chí chuyên ngành.
Tạp chí Thư viện Việt Nam từ những năm 2000 đến nay đã có một số bài
báo đã công bố về KTTT như: “Lồng ghép kiến thức thông tin vào môn học ở bậc
học Đại học thông qua mối quan hệ giữa thư viện và giảng viên” của tác giả Vũ Thị
Nha dịch (2007), số 3 (11), tr. 49-58; “Vai trò của kiến thức thông tin đối với cán bộ
nghiên cứu khoa học” của tác giả Nghiêm Xuân Huy (2010), số 3 (23), tr.13-18;
“Công tác đào tạo kỹ năng thông tin tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ”, số
3(23), tr.19-22 và “Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo kỹ năng thông tin
cho độc giả tại Trường Đại học Cần Thơ”, số 3(29), tr.12-19 của tác giả Huỳnh
Trúc Phương; “Thư viện đại học với việc trang bị kiến thức thông tin cho sinh viên:
Thực trạng và một số vấn đề đặt ra” của tác giả Vũ Dương Thúy Ngà (2012), số
5(37), tr.7-11; “Đội ngũ cán bộ thư viện tham gia đào tạo kiến thức thông tin tại một

cứu KTTT của sinh viên các trường đại học gắn với một cơ quan, đơn vị, địa bàn
mang tính đặc thù ở nơi các tác giả công tác.
Ở Việt Nam từ những 2000 đến nay, các trường đại học, các tổ chức cũng đã
tổ chức các hội thảo khoa học về Information Literacy.
Tại Hà Nội, 20/2/2006, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội, phối hợp với uỷ ban thường trực khu vực Châu Á - Châu Đại
Dương của Liên hiệp Quốc tế các Hiệp hội và Tổ chức thư viện (IFLA-RSCAO), đã
tổ chức hội thảo khoa học: “Kiến thức thông tin - Information Literacy”. Hội thảo với
các tham luận như: “Vai trò của kiến thức thông tin trong giáo dục và đào tạo từ giác
độ thư viện” của tác giả Nguyễn Thị Bắc; “Kiến thức thông tin với giáo dục đại học”
của tác giả Nghiêm Xuân Huy; “Kiến thức thông tin đối với sinh viên đại học trong
giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần Hữu Huỳnh;… Các tham luận tập trung đề cập
và phân tích vai trò của KTTT đối với giáo dục đại học, đối với sinh viên.
Tại Hà Nội, từ ngày 8-12/5/2006, Trường Đại học Ngoại ngữ phối hợp với
Trung tâm Thông tin phát triển Việt Nam và Trung tâm Tài nguyên trí thức phát
triển Úc tổ chức khóa: “Bồi dưỡng năng lực đào tạo kiến thức thông tin cho cán bộ
thư viện đại học”. Mục đích của khóa học nhằm: Tạo cơ hội cho các CBTV gặp gỡ


15

và thảo luận về KTTT và các vấn đề liên quan đến việc đào tạo KTTT trong các
trường đại học tại Việt Nam; phát triển kỹ năng thông tin cho CBTV đại học Việt
Nam; bồi dưỡng năng lực đào tạo KTTT cho các CBTV đại học; tạo diễn đàn chia
sẻ kinh nghiệm và tri thức giữa các CBTV trong phạm vi quốc gia và quốc tế…
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 13-15/4/2011, Thư viện trung tâm
ĐHQG-TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo - tập huấn với chủ đề: “Nâng cao nội
dung và phương pháp thực hiện các khóa huấn luyện kỹ năng thông tin cho độc
giả”. Hội thảo với các bài tham luận như: “Kỹ năng thông tin – Khái niệm và ý
nghĩa” và “Huấn luyện kỹ năng thông tin - Những nguyên lý cơ bản” với mục đích

có ý nghĩa nhất định đối với hoạt động TT-TV tại Trường ĐHHT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đưa ra các giải pháp nhằm phát triển KTTT cho sinh viên Trường ĐHHT
trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KTTT đối với sinh viên.
- Phân tích, đánh giá thực trạng KTTT của sinh viên Trường ĐHHT.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển KTTT cho sinh viên Trường ĐHHT.
4. Giả thuyết nghiên cứu
KTTT có vai trò quan trọng trong môi trường giáo dục đại học đối với sinh
viên. Tuy nhiên, hiện nay KTTT của sinh viên Trường ĐHHT còn hạn chế, họ chưa
có kỹ năng định vị, tìm kiếm, khai thác thông tin, sử dụng và chia sẻ thông tin một
cách hiệu quả. Vì vậy, họ cần phải được trang bị KTTT. Nếu chúng ta nâng cao nhận
thức về vai trò của kiến thức thông tin và công tác phát KTTT cho sinh viên; nâng
cao trình độ CBTV; đa dạng hóa và nâng cao chất lượng chương trình và nội dung
phát triển KTTT; đẩy mạnh NCKH, tăng cường giáo dục KTTT trong chương trình
giảng dạy, nâng cao nhận thức và phối hợp giữa các bộ phận trong trường để phát
triển KTTT cho sinh viên thì khả năng KTTT và công tác đào tạo KTTT cho sinh
viên Trường ĐHHT sẽ có chất lượng và đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới.


17

5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu KTTT của sinh viên Trường ĐHHT.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian nghiên cứu

Chương 1: Kiến thức thông tin với nhiệm vụ nâng cao chất lượng học tập
của sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh
Chương 2: Thực trạng kiến thức thông tin của sinh viên Trường Đại học
Hà Tĩnh.
Chương 3: Các giải pháp phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường
Đại học Hà Tĩnh.


19

Chƣơng 1
KIẾN THỨC THÔNG TIN ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH
1.1. Những vấn đề chung về kiến thức thông tin đối với sinh viên
1.1.1. Khái niệm về kiến thức thông tin
Thuật ngữ kiến thức thông tin (Information Literacy) được các nước phát triển
trên thế giới sử dụng nhiều và xuất hiện lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm 70 của
thế kỷ 20 [23]. Khái niệm đó cũng được một số nước phát triển khác sử dụng như
Australian, New Zealand [36]. Ban đầu, khái niệm KTTT gắn liền với việc giải quyết
vấn đề khủng hoảng và bùng nổ thông tin, được mô tả như một tập hợp các kỹ năng thu
thập và xử lý thông tin. Đến năm 1987, khái niệm này được mở rộng và xem như một
khái niệm về “cách thức học tập” và “học tập suốt đời”.
Hiện nay, khi bàn về khái niệm kiến thức thông tin ở mỗi nước, mỗi tổ chức
lại đưa ra những định nghĩa, quan niệm khác nhau:
Theo UNESCO: “Kiến thức thông tin là sự kết hợp của kiến thức, sự hểu
biết, các kỹ năng và thái độ mà mỗi thành viên cần hội tụ đầy đủ trong xã hội thông
tin. Khi mỗi cá nhân có KTTT thì họ sẽ phát triển khả năng lựa chọn, đánh giá, sử
dụng và trình bày thông tin một cách hiệu quả” [39, tr.10].
Theo Hiệp hội Thư viện đại học và Thư viện nghiên cứu Hoa Kỳ (ACRL,
2000): “Kiến thức thông tin là một tập hợp các khả năng đòi hỏi cá nhân để nhận ra

giả như Nghiêm Xuân Huy [5,6], Vũ Thị Nha [17, 18], Ngô Thanh Thảo [30], Vũ
Dương Thúy Ngà [15],… Còn tác giả Huỳnh Thị Trúc Phương xem là “kỹ năng
thông tin” [19,20]. Các khái niệm đã sử dụng trên có cùng nội hàm và được sử dụng
nhiều trong các bài viết.
Qua tìm hiểu các tài liệu liên quan, chúng ta có thể thấy rằng hầu hết các tác
giả đều có một điểm chung là xem KTTT là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin,
khả năng định vị, tìm kiếm, đánh giá, sử dụng thông tin cũng như thái độ sẵn sàng
chia sẻ thông tin với mọi người.


21

1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kiến thức thông tin
Trong quá trình phát triển KTTT cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau.
1.1.2.1. Hoàn cảnh xã hội
Trong tất cả những mối quan hệ xã hội, nhân cách không chỉ là một khách
thể mà còn là một chủ thể. Cá nhân là một tồn tại có ý thức, có thể lựa chọn phương
thức sống của mình và do đó, nó lựa chọn những phản ứng khác nhau trước tác
động của hoàn cảnh xã hội.
Điều kiện xã hội là yếu tố có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực như kinh tế xã hội,
văn hóa, giáo dục. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, yếu tố xã hội đã tác động đến
quá trình hình thành KTTT. Trong xã hội văn minh hay ở các nước phát triển, có
nền giáo dục tiên tiến như một số nước như Mỹ, Australian and New Zealand thì
KTTT sớm được hình thành và phát triển mạnh hơn [23, 36] so các nước với xã hội
nghèo nàn, lạc hậu. Và một điều chắc chắn ở một xã hội phát triển có những điều
kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế thì nhận thức của con người sẽ cao
hơn, họ có điều kiện tốt hơn để tiếp cận với nền tri thức, tiếp cận và sử dụng thông
tin sớm hơn, nhanh hơn. Ngay trong một đất nước giữa các vùng, miền có điều kiện
xã hội khác nhau cũng sẽ khác nhau về khả năng tiếp nhận, thu thập và xử lý thông
tin khác nhau. Trong các cộng đồng dân cư ở các đô thị phát triển, văn minh sẽ có

Phát triển KTTT có mối liên hệ chặt chẽ với quan điểm, chủ trương, chính
sách của nhà trường về sự mệnh, tầm nhìn, chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ,
giảng viên. Văn hóa nhà trường cần tạo ra cho sinh viên những điều kiện thuận lợi
nhất trong các điều kiện họ có cơ hội được trang bị KTTT đầy đủ và bài bản, bám
sát chương trình đào tạo cho sinh viên.
1.1.2.4. Năng lực tư duy
Chúng ta đang sống trong thời đại có quá nhiều biến động khó lường trên tất
cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội cho đến khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Trong
một môi trường sống, điều kiện sống như nhau thì năng lực tu duy của mỗi người
luôn có sự khác nhau. Cùng trong một môi trường sống, nhưng người có năng lực
tuy duy tốt họ sẽ là những người nhận biết thông tin nhanh hơn, tư duy phán đoán,
xử lý thông tin sẽ nhanh hơn và đương nhiên họ sẽ có KTTT tốt hơn những người
có năng lực tư duy hạn chế.


23

Năng lực tư duy này có được một phần do khả năng bẩm sinh, phần nữa là
do học tập, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm mà có. Để có được kiến thức, ngoài tư
duy bẩm sinh, con người cần phải rèn luyện, học tập vì “kiến thức chỉ có được qua
tư duy của con người” (A. Einstin). Người có năng lực tư duy sẽ thuận lợi hơn trong
việc xác định nhu cầu thông tin, xây dựng các biểu thức tìm tin, lựa chọn và xác
minh nguồn tin, thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụng thông tin có hiệu quả.
Trong thực tế, người có năng lực tư duy tốt họ sẽ làm cho thời gian lao động rút
ngắn và hiệu quả lao động cao. Đối với hoạt động đào tạo KTTT cho sinh viên
trường đại học, nếu trong môi trường, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ nhân
lực tốt cùng với năng lực tư duy giữa người dạy và người học tốt thì hiệu quả của
phát triển KTTT sẽ tốt hơn.
1.1.2.5. Phương pháp học tập của sinh viên
Học tập trong xã hội thông tin là quá trình thu thập thông tin, xử lý thông tin

đã xác định được. Phương pháp giảng dạy dựa trên nguồn tài liệu này đã tăng thêm
nhu cầu được giảng dạy cách truy cập và đánh giá các nguồn thông tin và sử dụng
một cách hiệu quả của sinh viên.
Trước thực tế hiện nay với lượng thông tin khổng lồ, làm thế nào để sinh viên
có thể tìm được thông tin mình cần và sử dụng được những thông tin đó một cách
hiệu quả là điều không đơn giản. Do đó, để có thể tự học, tự nghiên cứu sinh viên cần
phải được trang bị các kỹ năng: tìm kiếm, thu thập thông tin; phân tích, đánh giá
thông tin; ứng dụng thông tin thu được vào giải quyết nội dung bài học; chia sẻ
những thông tin đã thu thập, đánh giá, phân tích với thầy cô, bạn bè. Những kỹ năng
này chính là các kỹ năng cơ bản của KTTT. Phương pháp giảng dạy của giảng viên
đã làm thay đổi từ đơn giản chỉ là nguồn thông tin đơn lẻ hay ban đầu sang người cố
vấn hay quản lý tạo nên môi trường học tập giúp cho sinh viên học được cách học. Vì
vậy, KTTT là một yêu cầu không thể thiếu trong phương pháp giảng dạy của giảng
viên trong nền giáo dục đại học trong thời đại hội nhập quốc tế.
1.1.2.7. Trình độ cán bộ thư viện
Để đào tạo KTTT cho sinh viên tốt đòi hỏi CBTV cần phải có trình độ nhất
định. Theo một khảo sát của tác giả Trương Đại Lượng về trình độ chuyên môn của



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status