Hành vi tổ chức. - Pdf 66



HÀNH VI T CH CỔ Ứ

GVHD: THẠC SĨ NGUYỄN VĂN THỤY NHÓM: 1A

HOÀNG TRÚC MI KD01
VŨ THỊ HỒNG NHUNG KD01
NGUYỄN ÁI MINH PHƯƠNG KD01
NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO KD01
NGUYỄN THỊ TƯỜNG VI KD01
TP.HCM
2012

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................
2
I. ĐỊNH NGHĨA HÀNH VI TỔ CHỨC................................................................
3
II. TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ CỦA CÁC HỌC THUYẾT OB.................................
4
1. CÁC LÝ LUẬN SƠ KHAI
........................................................................................................................
4
2. CÁC HỌC THUYẾT CỔ ĐIỂN
........................................................................................................................
5
3. CÁC HỌC THUYẾT QUAN HỆ CON NGƯỜI

(OB) đưa ra những kiến thức cơ bản nhất về khoa học nghiên cứu hành vi của tâm lý học, tâm lý xã
hội và văn hóa nhân loại.Đây cũng chính là những nội dung mà chúng tôi đề cập đến trong bài tiểu
luận, hy vọng sẽ cung cấp thông tin hữu ích để mọi người hiểu rõ hơn về OB và có cái nhìn sâu rộng
hơn trong lĩnh vực này.

I. ĐỊNH NGHĨA HÀNH VI TỔ CHỨC (OB)
OB là một trong số những khái niệm mà nhiều nhà nghiên cứu đưa ra trên nhiều
khía cạnh.
Pugh (1971) cho rằng “OB is concerned with the study of the structure,
functioning and performance of organizations, and the behavior of groups and
individuals with them”. Theo quan điểm này, ta có thể hiểu Hành vi tổ chức nghiên cứu
về cấu trúc, chức năng và hiệu quả của tổ chức cũng như nghiên cứu cách ứng xử các
nhóm và các cá nhân trong hoạt động.
Khác với Pugh, Ivancrvich và Matteson (1998) đưa ra một định nghĩa rộng
hơn: “ OB is about the study of human behavior, attitudes and performance within an
organization setting; drawing on theory, methods, and principles from such disciplines
as psychology, sociology and cultural anthropology to learn about individual
perception, values, learning capabilities and actions while working with groups and
within the total organization; analyzing the external environment’s effect on the
organization and its human resources, missions, objectives and strategies” (tạm dịch là :
“nghiên cứu về cách ứng xử của con người, thái độ và hiệu quả trong một cấu trúc tổ
chức; đưa ra những học thuyết, phương pháp và nguyên tắc từ những lĩnh vực như tâm
lý học, xã hội học và văn hóa nhân loại để nghiên cứu về sự nhận thức của cá nhân, giá
4

trị, khả năng nghiên cứu và hành động trong khi làm việc nhóm và trong toàn bộ tổ
chức; phân tích tác động của môi trường bên ngoài đến tổ chức và nguồn nhân lực, sứ
mệnh, mục tiêu và chiến lược của tổ chức”).
Theo hai nhà nghiên cứu trên, chúng ta có thể rút ra định nghĩ chung: Hành vi tổ
chức là môn khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống về các hành vi và thái độ của

quan hệ giữa người quản lý và công nhân, và là một người góp phần tích cực đưa quản
lý trở thành một bộ môn khoa học độc lập. Ông cũng đã bổ sung thêm vào những lợi
ích thu được từ phân chia lao động mà Smith đã đưa ra trước đó:
1. Tiết kiệm thời gian đào tạo công việc
2. Giảm lãng phí nguyên vật liệu trong quá trình đào tạo sản xuất
3. Tăng trình độ chuyên môn
4. Lưu ý cân xứng giữa kĩ năng làm việc, khả năng tự nhiên và công việc cụ thể
Theo các nhà khoa học này, lợi ích của phân chia lao động nổi bật ở những tổ
chức coi trọng tối đa việc nâng cao sản xuất và giảm thiểu lãng phí tài nguyên cũng như
thời gian. Rất ít tổ chức không xem xét việc hướng đến yếu tố con người ở nơi làm
việc.
2. Các học thuyết cổ điển
Thời kì kéo dài từ năm 1900 đến khoảng giữa thập niên 1930 là khoảng thời
gian mà những học thuyết khái quát đầu tiên về quản lý bắt đầu hình thành với những
người đóng góp quan trọng của Frederick Taylor, Henri Fayol, Max Weber, Mary
parker Follet và Chester Barnard.
a. Frederick Taylor:
Taylor được coi như là cha đẻ của lý thuyết "Quản lý theo khoa học". Lý
thuyết Quản lý theo khoa học dựa trên sự điều hành chặt chẽ đối với nhân công của
người quản lý. Tầm quan trọng của lý thuyết này là tìm thấy cách phân công công
việc tốt nhất. Ông nhấn mạnh vào việc lựa chọn đúng người cho từng công việc, huấn
luyện họ thực hiện công việc đó một cách chính xác nhất, khen thưởng để khuyến khích
họ.
Những nguyên tắc khoa học về quản lý của Frederick Taylor bao gồm:
6

 Phân chia trách nhiệm về công việc từ công nhân đến nhà quản lý. Nhà quản lý
là người lên kế hoạch và thiết kế công việc, công nhân chỉ là người thi hành các
nhiệm vụ;
 Sử dụng những phương pháp khoa học để quyết định cách làm việc hiệu quả


đạo cao với các chức năng cơ bản của nhà quản lý. Ông cho rằng thành công của quản
lý không chỉ nhờ những phẩm chất của các nhà quản lý, mà chủ yếu nhờ các nguyên tắc
chỉ đạo hành động của họ và những phương pháp mà họ sử dụng. Với các nhà quản lý
cấp cao phải có khả năng bao quát, còn đối với cấp dưới thì khả năng chuyên môn là
quan trọng nhất. Tư tưởng quản lý đó phù hợp với hệ thống kinh doanh hiện đại, và từ
những nguyên lý đó (trong công nghiệp) có thể vận dụng cho việc quản lý các loại tổ
chức thuộc lĩnh vực khác.
Fayol là người đầu tiên nêu một cách rõ ràng các yếu tố của quá trình quản lý,
cũng là năm chức năng cần thiết của một nhà quản lý, bao gồm: lên kế hoạch, tổ chức,
chỉ huy, điều phối và kiểm soát. Rất nhiều nhà quản lý vào thời kì đó cũng như ngày
nay đã liệt kê ra những chức năng này như là yếu tố cốt lõi của các hoạt động. Ông
phân chia toàn bộ các hoạt động của xí nghiệp thành 6 nhóm công việc chính gồm:
 Kỹ thuật (khai thác, chế tạo, chế biến);
 Thương mại (mua bán, trao đổi);
 Tài chính (huy động vốn, sử dụng vốn);
 An ninh (bảo vệ tài sản và nhân viên);
 Kế toán (kiểm kê tài sản, theo dõi công nợ, hạch toán giá thành, thống kê);
 Quản lý - điều hành (kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra);
Fayol cũng đề ra 14 nguyên tắc về quản lý để vận dụng linh hoạt:
 Phân công lao động phù hợp, rõ ràng, tạo được sự liên kết;
 Xác định quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng, đúng mức;
 Duy trì tốt kỷ luật trong đội ngũ, đảm bảo sự quy củ và tinh thần phục vụ;
 Đảm bảo sự thống nhất chỉ huy, chấp hành mệnh lệnh từ một trung tâm;
 Chỉ đạo nhất quán (theo một kế hoạch, một đầu mối);
 Xử lý hài hòa lợi ích, đảm bảo lợi ích chung cao nhất;
 Trả công thỏa đáng, công bằng, sòng phẳng;
 Tập trung quyền lực trong hệ thống tổ chức quản lý;
 Xác định rõ và ổn định hệ thống cấp bậc với chức trách rõ ràng;
 Đảm bảo trật tự trong hệ thống với vị trí xác định;

thống kĩ thuật quản lý thể chế quan liêu được thể hiện.
Những đặc điểm của mẫu hình quan liêu lý tưởng của Max bao gồm:
9

 Phân công lao động hợp lý và rõ ràng dẫn đến chuyên môn hóa cao, tinh thông
nghề nghiệp;
 Sắp xếp các vị trí trong tổ chức theo một hệ thống thứ bậc về quyền lực, trong
đó mỗi cấp dưới chịu sự kiểm soát của cấp quản lý cao hơn; mỗi chức vụ khác
nhau có phạm vi thẩm quyền xác định;
 Có một hệ thống nội quy, thủ tục chính thức được viết bằng văn bản, chi phối
các quyết định và hành động;
 Lựa chọn người một cách nghiêm ngặt, định hướng cho họ phát triển, đề bạt
theo thành tích và thâm niên.
Các đặc trưng của bộ máy quan liêu giúp cho tổ chức có thể kiểm soát và điều
phối hành động của các thành viên. Đây là yếu tố then chốt để tạo ra hiệu quả và năng
suất vượt trội của tổ chức quan liêu so với bất kỳ một loại tổ chức xã hội nào khác. Tuy
nhiên, bộ máy quan liêu cũng tạo ra một sản phẩm đặc trưng gọi là "sự bị tha hóa".
Nhìn chung, nhiều luận điểm cơ bản của các thuyết thuộc trường phái cổ điển
vẫn mang giá trị lâu dài, được các thuyết tiếp sau bổ sung và nâng cao về tính xã hội và
yếu tố con người cũng như về các mối quan hệ với bên ngoài tổ chức.
3. Các học thuyết về quan hệ con người
Trong khi các nhà tư bản đầu thế kỉ XX đi theo những lý luận của Taylor, coi
trọng việc làm thế nào để nâng cao năng suất, thì vài năm sau, họ lại đặc biệt quan
tâm đến nhu cầu và động lực thúc đẩy của một nhân tố chính khác trong quá
trình làm việc- đó là người lao động. Nghiên cứu thực nghiệm ở một nhà máy điện
tại Chicago (Mỹ) năm 1942, người ta rút ra kết luận là việc tăng năng suất lao động
không chỉ phụ thuộc các điều kiện lao động và chế độ nghỉ ngơi... mà còn chịu sự chi
phối bởi những động cơ tâm lý đối với hành vi của con người và bầu không khí trong
tập thể lao động, với những quan hệ hợp tác - xung đột trong quá trình sản xuất. Tác
phong xử sự và sự quan tâm của người quản lý đến tình hình sức khoẻ, hoàn cảnh riêng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status